Kiến Phong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bản đồ hành chính Việt Nam Cộng hòa năm 1967, cho thấy địa giới tỉnh Kiến Phong

Kiến Phong là tỉnh cũ ở miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long), Việt Nam. Tỉnh Kiến Phong được thành lập vào cuối năm 1956 và bị mất tên gọi đơn vị hành chính cấp tỉnh từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 cho đến nay. Tỉnh lỵ tỉnh Kiến Phong có tên là "Cao Lãnh".

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Đất đai tỉnh Kiến Phong vốn là phần đất nằm ở bờ trái (bờ bắc) sông Tiền của các tỉnh Châu Đốc, Long XuyênSa Đéc trước kia. Tỉnh Kiến Phong bắc giáp với Campuchia, đông và đông bắc giáp hai tỉnh Định TườngKiến Tường, nam giáp tỉnh Vĩnh Long (đến năm 1966 thì giáp tỉnh Sa Đéc khi tỉnh này được tái lập, tách ra từ tỉnh Vĩnh Long), tây và tây nam giáp hai tỉnh Châu ĐốcAn Giang.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số tỉnh Kiến Phong 1967[1]
Quận Dân số
Cao Lãnh 68.576
Hồng Ngự 86.567
Kiến Văn 40.239
Mỹ An 28.442
Thanh Bình 60.571
Tổng số 284.395

Giai đoạn 1956-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Phân chia hành chánh tỉnh Kiến Phong 1973

Kiến Phong là một trong 22 tỉnh của Nam Phần được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thiết lập theo Sắc lệnh 143-NV của Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 22 tháng 10 năm 1956 để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Kiến Phong được thành lập trên cơ sở đổi tên tỉnh Phong Thạnh cũ (thành lập ngày 17 tháng 2 năm 1956). Tỉnh lỵ tỉnh Kiến Phong có tên là "Cao Lãnh", về mặt hành chánh thuộc xã Mỹ Trà, quận Cao Lãnh.

Năm 1957, tỉnh Kiến Phong gồm 4 quận, 8 tổng, 43 xã (từ ngày 21 tháng 7 năm 1960 là 4 quận, 10 tổng, 43 xã):

  • Quận Cao Lãnh, quận lỵ: xã Mỹ Trà; có 3 tổng: An Tịnh, Phong Thạnh, Phong Nẫm.
  • Quận Hồng Ngự, quận lỵ: xã An Bình; có 3 tổng: An Phước (đến ngày 21 tháng 7 năm 1960 đổi tên là Hồng Ân), Long Phú (đến ngày 21 tháng 7 năm 1960 đổi tên là Hồng Phước) và Tân Bình (đến ngày 21 tháng 7 năm 1960 đổi tên là Hồng Quang).
  • Quận Thanh Bình, quận lỵ: xã Tân Phú (đến ngày 21 tháng 7 năm 1960 đổi tên là xã An Phong); có 1 tổng: Phong Thạnh Thượng. Ngày 21 tháng 7 năm 1960, chia tổng Phong Thạnh Thượng thành 2 tổng là Thanh Liêm (có lấy thêm 3 xã thuộc tổng Long Phú, quận Hồng Ngự) và Thanh Khiết.
  • Quận Mỹ An, quận lỵ: xã Mỹ An; có 1 tổng: Mỹ An (đến ngày 21 tháng 7 năm 1960 chia thành 2 tổng là Mỹ Đức và Mỹ Phước).

Ngày 13 tháng 7 năm 1961, lập thêm quận Kiến Văn do tách từ quận Cao Lãnh ra, quận lỵ tại xã Bình Hàng Trung. Quận Kiến Văn bao gồm toàn bộ tổng Phong Nẫm (6 xã) và 1 xã của tổng An Tịnh. Sau đó lại lập thêm quận Đồng Tiến do tách đất từ quận Thanh Bình.

Sau năm 1965, giải thể tất cả các tổng.

Diện tích 2.621 km² (có tài liệu ghi 2.515 km²). Dân số năm 1965: 405.200 người.

Chính quyền Cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng phân chia, sắp xếp lại các đơn vị hành chính trong tỉnh như bên chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Cuối năm 1956, chính quyền Cách mạng thành lập tỉnh Kiến Phong. Tỉnh Kiến Phong khi đó gồm các đơn vị hành chính trực thuộc: thị xã Cao Lãnh, huyện Cao Lãnh, huyện Mỹ An (ngày nay là huyện Tháp Mười), huyện Kiến Văn, huyện Thanh Bình, huyện Hồng Ngự.

Tháng 12 năm 1965, tỉnh Kiến Phong nhận thêm huyện Chợ Mới từ tỉnh An Giang. Ngày 5 tháng 5 năm 1969, tỉnh Kiến Phong thành lập thêm huyện Tam Nông, tương ứng với địa bàn quận Đồng Tiến của chính quyền Việt Nam Cộng hòa lúc bấy giờ. "Tam Nông" vốn là tên một huyện của tỉnh Phú Thọ kết nghĩa với tỉnh Kiến Phong trong thời kỳ đấu tranh chống lại quân đội Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam.

Tháng 8 năm 1974, Trung ương Cục miền Nam quyết định giải thể các tỉnh Kiến Phong và An Giang để tái lập các tỉnh Long Châu Tiềntỉnh Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc gồm các huyện Chợ Mới, Cao Lãnh, Kiến Văn, Mỹ An và thị xã Cao Lãnh của tỉnh Kiến Phong cũ và các huyện Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành, thị xã Sa Đéc của tỉnh Vĩnh Long giao lại; tỉnh lỵ đặt tại thị xã Sa Đéc. Tỉnh Long Châu Tiền gồm các huyện Hồng Ngự, Thanh Bình, Tam Nông của tỉnh Kiến Phong cũ và các huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân A và Phú Tân B của tỉnh An Giang cũ; tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu (ngày nay là thị xã Tân Châu).

Phần lớn đất đai tỉnh Kiến Phong phía Đông là đầm lầy, rừng tràm rộng lớn, gọi là Đồng Tháp Mười, ăn lan qua tỉnh Kiến TườngĐịnh Tường. Đây vùng này rất hiểm yếu, thường là căn cứ kháng chiến chống thực dân Pháp, quân đội Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa của lực lượng chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 2 năm 1976, tỉnh Kiến Phong được sáp nhập với tỉnh Sa Đéc thời Việt Nam Cộng hòa thành tỉnh Đồng Tháp.

Địa bàn tỉnh Kiến Phong cũ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa tương ứng với các đơn vị hành chính trực thuộc nằm phía bên phải sông Tiền của tỉnh Đồng Tháp ngày nay, bao gồm: thành phố Cao Lãnh, thị xã Hồng Ngự, huyện Cao Lãnh, huyện Tháp Mười, huyện Thanh Bình, huyện Tam Nông, huyện Hồng Ngự và huyện Tân Hồng.

Phân chia hành chánh năm 1970[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quận Cao Lãnh gồm 12 xã: An Bình, Hòa An, Mỹ Ngãi, Mỹ Trà, Nhị Mỹ, Phong Mỹ, Tân An, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây, Tân Tịch, Thiện Mỹ, Tịnh Thới;
  • Quận Đồng Tiến gồm 8 xã: An Long, Phú Cường, Phú Đức, Phú Hiệp, Phú Hưng, Phú Thạnh, Phú Thọ, Phú Yên;
  • Quận Hồng Ngự gồm 11 xã: An Bình, Bình Thạnh, Long Khánh, Long Thuận, Phú Thuận, Tân Hội, Tân Thành, Thông Bình, Thường Lạc, Thường Phước, Thường Thới;
  • Quận Kiến Văn gồm 7 xã: Bình Hàng Tây, Bình Hàng Trung, Bình Thành, Long Hiệp, Mỹ Hội, Mỹ Thọ, Mỹ Xương;
  • Quận Mỹ An gồm 6 xã: Mỹ An, Mỹ Đa, Mỹ Hòa, Mỹ Quý, Thạnh Lợi, Thạnh Mỹ;
  • Quận Thanh Bình gồm 7 xã: An Phong, Bình Thành, Tân Huề, Tân Long, Tân Phú, Tân Quới, Tân Thạnh.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia, 1967.