Vũ Văn Giai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
VŨ VĂN GIAI
Tiểu sử
Sinh 12 tháng 5 năm 1934
Nam Định, Việt Nam
Mất 13 tháng 10 năm 2012 (78 tuổi)
California, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1953-1972
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Vietnamese Airborne Division 's Insignia.svg Binh chủng Nhảy dù
81st Airborne Commando Battalion.svg Lực lượng Đặc biệt
ARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Bộ binh
ARVN 3rd Infantry Division SSI.svg Sư đoàn 3 Bộ binh
Cờ Thẳng tiến.png Sư đoàn 25 Bộ binh
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.quốc H.chương đệ IV[1]

Vũ Văn Giai (1934-2012), nguyên là một tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân Quốc gia. Ban đầu ông được tuyển chọn về đơn vị Nhảy dù và đã phục vụ ở Binh chủng này một thời gian ngắn. Sau này ông chuyển sang Bộ binh. Trong thời gian tại ngũ, ông đã tuần tự giữ từ chức vụ Trung đội trưởng... cho đến Chỉ huy đơn vị Bộ binh cấp Sư đoàn.

Tiểu sử & Binh ghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 12 tháng 5 năm 1934 trong một gia đình trung nông tại Làng Duy Tắc, huyện Giao Thuỷ, Tỉnh Nam Định, miền Bắc Việt Nam. Thời niên thiếu, ông đã học qua các trường: Tiểu học Văn Lang, Hà Nội (niên khóa 1945-1946). Tiểu học Nguyễn Khuyến, Nam Định (1946-1948), Trung học Hồ Ngọc Cẩn, Bùi Chu (1949-1951). Tốt nghiệp với văn bằng Thành Chung.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1953, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 54/304.295. Theo học khóa 10 Trần Bình Trọng[2] tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1953 thuộc Trung đội 15 khóa sinh do Thiếu úy [[Nguyễn Bá Thìn (Đại tá,

Quân lực VNCH)|Nguyễn Bá Thìn]][3] làm Trung đội trưởng. Ngày 1 tháng 6 năm 1954 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.

Ra trường, ông tình nguyện gia nhập đơn vị Nhảy dù, theo học khóa căn bản Binh chủng[4] tại Trung tâm Huấn luyện Nhảy dù trong thời gian 1 tháng. Đầu tháng 7 năm 1954, mãn khóa căn bản, ông được thuyên chuyển về Tiểu đoàn 5 Nhảy dù và được cử giữ chức vụ Trung đội trưởng trong Đại đội 4 đồn trú tại trường Bưởi cạnh Hồ Tây, Hà Nội. Sau Hiệp định Genève, ông theo đơn vị di chuyển vào Nam bằng đường không vận và đồn trú tại bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng. Tháng 10 cùng năm từ Đà Nẵng di chuyển bằng đường Hỏa xa vào Nha Trang, trú đóng tại Đồng Đế. Cuối năm này, ông được cử theo học khóa Huấn luyện viên Nhảy dù[5]tại Đà Nẵng và Sài Gòn 3 tháng.

Quân đội Việt nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tuần tháng 1 năm 1955, ông được cử làm sĩ quan An ninh của Tiểu đoàn 5 Nhảy dù. Sau đó, ông cùng đơn vị chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa mới được cải danh từ Quân đội Quốc gia. Đầu tháng 6 năm 1956, ông được thăng cấp Trung úy và được cử giữ chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 3 của Tiểu đoàn 5, đồn trú tại Thủ Đức.

Đầu năm 1957, ông được cử đi học khóa sĩ quan Tình báo tại Trường Cây Mai, Sài Gòn. Cuối năm này, ông tiếp tục được đi du học khóa Bộ binh cao cấp và Nhảy dù tại trường Võ bị Lục quân ở Fort Benning, Columbus, Georgia, Hoa Kỳ.

Đầu năm 1960, ông được chuyển sang nhiệm vụ mới và rời khỏi Binh chủng Nhảy dù. Ngay sau đó, ông được chỉ định chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn Sơn cước đồn trú tại trại Kateca, An Khê, Pleiku. Khi Tiểu đoàn Sơn cước giải tán để thành lập Tiểu đoàn 10 Công vụ đồn trú tại nội thành Huế, ông được giữ chức vụ Tiểu đoàn phó. Tháng 8 cùng năm, ông chuyển đi nhận chức vụ Đại đội trưởng Đại đội Biệt kích Thượng Rhé. Tháng 2 năm 1961, ông được thăng cấp Đại úy. Tháng 6 cùng năm, ông được cử đi học khóa sĩ quan cán bộ Biệt động quân tại Trung tâm Huấn luyện Hòa Cầm, Đà nẵng. Đầu năm 1962, ông được giao trách nhiệm mới với chức vụ Tỉnh đoàn phó Bảo an kiêm Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Dân vệ (Nghĩa quân) tỉnh Thừa Thiên.

Sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông được cử làm Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc biệt Khu 11 chiến thuật tại Huế. Sau đó làm Trưởng trại Lực lượng Đặc biệt tại Khe Sanh. Đầu năm 1964, ông được chuyển về Sư đoàn 1 Bộ binh giữ chức vụ Trưởng phòng 2 tại Bộ tư lệnh Sư đoàn thay thế Đại úy Nguyễn Văn Điềm.

Đầu năm 1965, ông được cử làm Phó Tỉnh trưởng Nội an kiêm Tiểu khu phó Quảng Nam. Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá. Trung tuần tháng 12 cuối năm, ông được cử đi du học khóa Tình báo cao cấp tại Trường Fort Hollabird, Baltimore, Tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ. Sau khi mãn khóa, về phục vụ tại Trung tâm Quân báo thuộc Bộ Tổng tham mưu. Sau đó, chuyển công tác và được chỉ định làm Biệt đội trưởng Biệt đội 6 Quân báo cạnh Phòng 2 tại Bộ tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh.

Tháng 6 năm 1966, ông thuyên chuyển ra Quân khu 1 và được cử giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh kiêm Biệt khu trưởng Biệt khu Giới tuyến, đồn trú tại Đông Hà, Quảng Trị thay thế Thiếu tá Lại Văn Khuy.[6]Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1967, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm.

Đầu tháng 2 năm 1969, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Tháng 6 cùng năm, ông được cử giữ chức vụ Phụ tá hành quân cho Tư lệnh Sư đoàn 1 kiêm Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Tiền phương Sư đoàn tại Ái Tử, Quảng Trị. Đầu năm 1970, ông chính thức được được cử vào chức vụ Tư lệnh phó Sư đoàn 1 Bộ binh.

Trung tuần tháng 4 năm 1971, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 cùng năm, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh đầu tiên của Sư đoàn 3 Bộ binh tân lập, Bộ tư lệnh đặt tại căn cứ Ái Tử, Quảng Trị.[7]

Đầu tháng 5 năm 1972, sau khi Sư đoàn 3 Bộ binh dưới quyền chỉ huy của ông bị tan hàng tại phòng tuyến Quảng Trị, ông bị cách chức Tư lệnh Sư đoàn 3. Đại tá Ngô Văn Chung, Tư lệnh Phó được cử Xử lý Thường vụ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn trong thời gian tái trang bị, bổ sung quân số và chờ bổ nhiệm Tư lệnh mới.[8]

Sau đó, ông bị đưa ra xét xử trước Tòa án Mặt trận tại Sài Gòn và bị kết án 5 năm tù về tội để mất Quảng Trị. Ông đã thụ án được 3 năm tại Đề lao Chí Hòa, Sài Gòn thì xảy ra biến cố 30 tháng 4 năm 1975.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4, ông bị Chính quyền mới chuyển từ nhà tù Chí Hòa qua các trại tù: Quang Trung, Hóc Môn. Yên Bái, Hoàng Liên Sơn. Hà Tây, Hà Sơn Bình. Đến ngày 9 tháng 9 năm 1987 ông mới được trả tự do.

Ngày 3 tháng 3 năm 1990, ông cùng gia đình xuất cảnh theo diện H.O do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh và định cư tại Stanton, Nam California. Hoa Kỳ.

Ngày 13 tháng 10 năm 2012, ông từ trần tại Garden Grove, cũng thuộc miền Nam California, Hoa Kỳ. Hưởng thọ 78 tuổi.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

-Chương mỹ Bội tinh đệ nhất hạnh.
-Mười Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu.
-Hai Anh dũng Bội tinh ngôi sao Bạc.
-Hai Anh dũng Bội tinh ngôi sao Đồng.
-Một số huy chương Quân sự và Dân sự.
-Hai huy chương sao bạc, hai huy chương sao đồng của Hoa Kỳ.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ ông Vũ Viết Trí
  • Thân mẫu: Cụ bà Đoàn Thị Tín
  • Nhạc phụ: Cụ Phan Xuân Nguyên
  • Nhạc mẫu: Cụ Ngũ Thiếu Lan
  • Phu nhân: Bà Phan Ly Ly - Ông bà có năm người con gồm 2 trai, 3 gái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tứ đẳng (ân thưởng)
  2. ^ -Khóa 10 Đà Lạt mãn khóa cùng thời điểm với khóa 4 Thủ Đức. Tốt nghiệp khóa 10 sau này lên tướng còn có:
    -Thiếu tướng Lê Minh Đảo (Nguyên Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh)
    -Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt (Nguyên Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh)
    -Cố Chuẩn tướng Trương Hữu Đức (Nguyên Chỉ huy trưởng Chiến đoàn 52 Đặc nhiệm).
  3. ^ Còn có tên là Long, sinh năm 1928. Tốt nghiệp khóa 8 Võ bị Đà Lạt. Nguyên Tỉnh trưởng Tuyên Đức, Kontum. Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 40 Bộ binh, Tư lệnh phó Sư đoàn 5 Bộ binh. Chức vụ sau cùng: Đại tá Trưởng phòng 3 Quân đoàn III. Giải ngũ năm 1974.
  4. ^ Thời điểm đầu tháng 6 năm 1954, cùng học khóa căn bản Nhảy dù với Thiếu úy Giai còn có các tân Thiếu úy tốt nghiệp khóa 4 Cương Quyết Võ khoa Thủ Đức:
    -Ngô Quang Trưởng (Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn I)
    -Lê Quang Lưỡng (Sau cùng là Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn Nhảy dù).
  5. ^ Cùng theo học khóa này còn có Thiếu úy Trương Quang Ân (Tốt nghiệp khóa 7 Võ bị Đà lạt. Năm 1968 đang là Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, bị tử nạn trực thăng tại quận Đức Lập, Quảng Đức, được truy thăng cấp bậc Thiếu tướng).
  6. ^ Sinh năm 1930 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khoa 3 Võ bị Đà Lạt. Chức vụ sau cùng: Đại tá Liên đoàn trưởng Liên đoàn 925 Địa phương quân
  7. ^ -Sĩ quan Chỉ huy và Tham mưu trong Sư đoàn gồm có:
    -Tư lệnh phó: Đại tá Ngô Văn Chung (Sinh năm 1930 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khoa 4 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức)
    -Tham mưu trưởng: Đại tá Nguyễn Khoa Bảo (Sinh năm 1935 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khóa 10 Võ bị Đà Lạt)
    -Trung đoàn 2: Trung tá Huỳnh Đình Tùng (Sinh năm 1930 tại Quảng Nam, tốt nghiệp khóa 2 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức)
    -Trung đoàn 56: Trung tá Phạm Văn Đính (Sinh năm 1937 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khóa 9 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức K)
    - rung đoàn 57: Trung tá Nguyễn Hữu Cương (Sinh năm 1929 tại Quảng Nam, tốt nghiệp khóa 8 Võ bị Đà Lạt)
    -Pháo binh Sư đoàn: Trung tá Nguyễn Hữu Cam (Tốt nghiệp khóa 3 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức)
  8. ^ Ngày 9 tháng 6 năm 1972, sau khi tái trang bị và bổ sung quân số, Sư đoàn 3 Bộ binh có Tư lệnh mới là Chuẩn tướng Nguyễn Duy Hinh (Nguyên Tham mưu trưởng Quân đoàn I).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.