Trương Quang Ân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
TRƯƠNG QUANG ÂN
Tiểu sử
Sinh 23 tháng 12 năm 1932
Gia Định, Việt Nam
Mất 8 tháng 9, 1968 (36 tuổi)
Đức Lập, Quảng Đức
Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1952-1968
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Vietnamese Airborne Division 's Insignia.svg Binh chủng Nhảy dù
ARVN 23rd Division Insignia.svg Sư đoàn 23 Bộ binh
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng -B.Quốc H.Chương đệ III[1]
Công việc khác Tỉnh trưởng

Trương Quang Ân (1932-1968) nguyên là một tướng lĩnh gốc Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân do Chính phủ Quốc gia được sự hỗ trợ của Quân đội Pháp mở ra ở nam Cao nguyên Trung phần Việt Nam với mục đích đào tạo sĩ quan người Việt phục vụ cho Quân đội Quốc gia trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Sau khi tốt nghiệp, ông được chọn phục vụ đơn vị Nhảy dù. Năm 1966, ông được chuyển sang chỉ huy đơn vị Bộ binh. Năm 1968, khi mang cấp bậc Chuẩn tướng đương nhiệm Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, ông bị tử nạn trong lúc thi hành công vụ, được truy thăng cấp bậc Thiếu tướng.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 23 tháng 12 năm 1932 trong một gia đình quân nhân tại Bình Lý, Gia Định (nay thuộc Tp HCM), Nam phần Việt Nam. Sau khi học hết bậc Trung học Đệ nhất cấp tại Gia Định và đỗ bằng Thành Chung. Do có cha là quân nhân phục vụ trong Quân đội Pháp. Năm 1949 ông được vào học tại trường Thiếu sinh quân Đông Dương Cap Saint Jacques chương trình Trung học Đệ nhị cấp. Năm 1951, ông được cấp chứng chỉ tốt nghiệp tương đương với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 1952, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/120.246. Theo học khóa 7 Ngô Quyền tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 5 năm 1952. Ngày 25 tháng 2 năm 1953 mãn khóa tốt nghiệp Thủ khoa với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được chọn về Binh chủng Nhảy dù giữ chức vụ Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 5 Nhảy dù.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 10 năm 1955, sau khi chuyển từ Quân đội Quốc gia sang phục vụ cơ cấu mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Trung úy và được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 5 Nhảy dù. Đầu năm 1959, ông được thăng cấp Đại úy giữ chức vụ Trưởng ban 3 trong Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 5 Nhảy dù do Thiếu tá Ngô Xuân Soạn[2] làm Tiểu đoàn trưởng.

Ngày 1 tháng 1 năm 1960, ông được thăng cấp Thiếu tá và được chỉ định làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Nhảy dù tân lập. Đến cuối năm 1961, ông được lệnh bàn giao Tiểu đoàn 8 Nhảy dù lại cho Đạị úyTrần Văn Hai.[3]Đầu năm 1962, ông được cử làm Tham mưu trưởng Lữ đoàn Nhảy Dù. Tháng 12 cùng năm, ông được giữ chức vụ chỉ huy Chiến đoàn 1 Nhảy dù thay thế Trung tá Dư Quốc Đống về làm Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù.

Đầu tháng 11 năm 1963, sau ngày đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (1 tháng 11). Ngày 3 tháng 11, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Đến đầu năm 1965, ông nhận lệnh bàn giao Chiến đoàn 1 Nhảy dù lại cho Thiếu tá Bùi Kim Kha. Ngay sau đó, ông được cử đi du học khóa Chỉ huy và Tham mưu cao cấp tại Fort Leavenworth thuộc Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Đến tháng 6 cùng năm, mãn khóa học ông tốt nghiệp Thủ khoa.

Đầu năm 1966, ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Gia Định. Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Đại tá chuyển sang đơn vị Bộ binh và được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh thay thế Chuẩn tướng Nguyễn Văn Mạnh.[4]Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

Tử nạn[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc 10 giờ 30 sáng ngày 8 tháng 9, cùng với phu nhân bị tử nạn vì công vụ trên trực thăng H.34 tại vùng trời quận Đức Lập[5]10 cây số về phía bắc, khi đang cùng phu nhân trên đường bay thăm viếng và ủy lạo các đơn vị trực thuộc Sư đoàn đang hành quân. Ông hưởng dương 36 tuổi.[6]

Cùng với linh cữu của phu nhân được đưa về quàn tại tư gia ở Cư xá sĩ quan Lê Đại Hành trên đường Lê Đại Hành, Sài Gòn. Sáng ngày 10 tháng 8, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã đến tận tư gia tổ chức lễ truy điệu, truy thăng cho ông cấp bậc Thiếu tướng và truy tặng Đệ tam đẳng Bảo quốc Huân chương. Phu nhân của ông cũng được truy tặng Đệ ngũ đẳng Bảo quốc Huân chương. Hiện diện trong buổi lễ còn có:

-Thủ tướng Trần Văn Hương.
-Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu.
-Đại tướng Creigton W. Abrams, Tổng Tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Buổi chiều cùng ngày, tang lễ tiễn đưa ông bà được tổ chức trọng thể theo lễ nghi Quân cách dành cho tướng lĩnh, ông bà được an táng tại Nghĩa trang Đô thành Mạc Đỉnh Chi, Sài Gòn.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

-Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu và nhiều huy chương Quân sự, Dân sự.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Trương Văn Ngỡi (nguyên là một Hạ sĩ quan phục vụ đơn vị Không quân trong Quân đội Liên hiệp Pháp).
  • Phu nhân: Bà Dương Thị Kim Thanh (1931-1968), nguyên là một trong 9 nữ quân nhân Nhảy dù đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt Nam, bà giải ngũ khi còn là Chuẩn úy.
-Ông bà có ba người con gồm 1 trai và 2 gái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Huân chương Bảo quốc đệ tam đẳng (truy tặng).
  2. ^ Vì không tham gia vào cuộc binh biến (ngày 11 tháng 11 năm 1960) đảo chính Tổng thống Diệm do Đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu, nên đã bị nhóm đảo chính sát hại trước đó 1 ngày (10 tháng 11 năm 1960), được truy thăng Trung tá.
  3. ^ Sinh 1929 tại Long An, về sau giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Sở Công tác, giải ngũ ở cấp Đại tá (Chú thích để không ngộ nhận với Chuẩn tướng Trần Văn Hai Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh).
  4. ^ Tướng Mạnh được cử đi làm Tư lệnh Quân đoàn IV và Vùng 4 chiến thuật
  5. ^ Nay là huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông
  6. ^ Cùng tử nạn với ông bà Trương Quang Ân, còn có ba quân nhân Hoa Kỳ, trong đó có Đại tá Cố vấn trưởng của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, hai sĩ quan Phi công chính và phụ của Phi hành đoàn. Chỉ còn sống sót hai xạ thủ Trung liên Bar, nhờ văng sớm ra khỏi phi cơ

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.