Thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến
Republic of Vietnam Marine Division SSI.png
Huy hiệu.
Hoạt động 1954–1975
Quốc gia  Việt Nam Cộng hòa
Phân loại Lực lượng võ trang
Tên khác Cọp Biển
Khẩu hiệu Mạnh như sóng thần
Màu sắc Vàng, đỏ, xanh lục
Tham chiến Sự kiện Tết Mậu Thân 1968
Chiến dịch hành quân Lam Sơn 719
Mùa Hè Đỏ Lửa 1972
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Lê Nguyên Khang

Bùi Thế Lân

Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa (tiếng Anh: Republic of Vietnam Marine Division, RVNMD) là 1 đại đơn vị quy mô cấp sư đoàn, trực thuộc lực lượng Tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đây được xem là một trong 4 lực lượng thiện chiến cơ động nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa (3 lực lượng còn lại gồm Sư đoàn Nhẩy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Liên đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù và lực lượng Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa). Nhiệm vụ chính của lực lượng cơ động hành quân thủy bộ, kiểm soát vùng biển và sông ngòi miền Nam, với địa bàn chiến đấu khắp bốn vùng chiến thuật và mặt trận ngoại biên. Đây là đơn vị được tổ chức, chiến đấu, và huấn luyện rập khuôn theo Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (USMC), được nhận xét như là đơn vị thiện chiến dày dặn kinh nghiệm nhất trong lực lượng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Lệnh kỳ

Dấu hiệu nhận biết:

  • Bài ca chính thức: Thủy quân lục chiến hành khúc]
  • Đặc trưng: Quân phục tác chiến họa tiết "rằn ri cọp" (tiger-stripe camouflage), phía Việt Nam Cộng Hòa gọi là rằn ri Sóng Thần với phù hiệu sư đoàn trên tay áo trái, phù hiệu tiểu đoàn trên tay áo phải, nón beret xanh lục đội chếch bên phải có phù hiệu Thủy Quân Lục Chiến, bằng tốt nghiệp khóa huấn luyện Thủy Quân Lục Chiến may ở túi áo bên phải.

Lịch sử

Lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa có nguồn gốc từ thời kỳ Pháp thuộc. Năm 1949, theo Thỏa ước Pháp-Việt, lực lượng vũ trang của chính phủ Quốc gia Việt Nam sẽ bao gồm lực lượng hải quân, với tổ chức và huấn luyện do phía hải quân Pháp đảm nhiệm. Năm 1951, Pháp đề nghị phương án phát triển Hải quân Việt Nam, theo đó sẽ thành lập hai sư đoàn hải quân, do Pháp chỉ huy. Tháng 3 năm 1952, Sắc lệnh số 2 của Đế chế Pháp chính thức xác lập hải quân Việt Nam. Tới năm sau, hai sư đoàn hải quân được thiết lập.[1]

Năm 1953, chính phủ Pháp và Việt Nam đồng ý tăng Lục quân lên 57 tiểu đoàn khinh bộ binh, đảm nhận nhiệm vụ tấn công. Các chiến dịch này mở rộng ra cả vùng duyên hải của Việt Nam, nên việc mở rộng hải quân cũng được xét đến. Trong khi việc các đội giang thuyền nên nằm dưới sự chỉ huy của Lục quân hay Hải quân còn chưa được định đoạt, thì phó Đô đốc Pháp Auboyneau đề xuất việc thành lập 1 quân đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam. Năm 1954, khi người Pháp bắt đầu rút khỏi Việt Nam, thì Quân đoàn Thủy Quân Lục Chiến đã bao gồm một bộ chỉ huy, bốn đại đội đường sông, một tiểu đoàn đổ bộ.[2]

Hình thành và phát triển

Quân kỳ

Sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam được thành lập ngày 1/10/1954 tại Nha Trang với danh xưng ban đầu là Bộ binh Hải quân (Sắc lệnh số 99/SL ngày 13/10/1954 của Phủ Thủ tướng) do Trung tá Lê Quang Trọng Chỉ huy trưởng đầu tiên nhưng trước đó, Con Cọp Biển đàn anh của cả Sư đoàn, Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến, danh hiệu là Quái Điểu đã được thành lập tại Nha Trang tháng 8/1954.

Bộ Chỉ Huy đặt tại Bộ Tổng tham mưu ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Tháng 6/1955, Bộ Chỉ Huy dời về căn cứ Cửu Long, Thị Nghè, Sài Gòn.

Tháng 4/1956, Bộ Binh Hải Quân cải danh thành Thuỷ Quân Lục Chiến, trực thuộc Hải Quân và đặt dưới quyền động của Bộ Tư lệnh Hải Quân. Cũng trong năm này, Tiểu đoàn 2 Trâu Điên nổi tiếng được thành lập tại Rạch Dừa, sau đó chuyển về Cam Ranh, tiểu khu Khánh Hòa.

Năm 1957, Tiểu đoàn 3 Sói Biển được thành lập, Tiểu đoàn được Việt Nam Cộng hòa ghi nhận thành tích sau trận Đông Hà trong mùa hè 1972, với sự kiện 700 tay súng của tiểu đoàn đã tham gia cùng các đơn vị khác ngăn cản thành công đà tiến của QĐNDVN có xe tăng và pháo tầm xa yểm trợ suốt thời gian trách nhiệm cho đến khi tiểu đoàn có lệnh bàn giao vùng trách nhiệm cho đơn vị bạn.

Cùng năm, Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến được nâng cấp thành Liên đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng hòa với quân số 2.300 quân nhân do Thiếu tá Lê Nguyên Khang chỉ huy.

Năm 1961, Tiểu đoàn 4 Kình Ngư được thành lập tại thị xã Vũng Tàu và đặt hậu cứ ở trong thị xã, khi vừa mới thành lập, Tiểu đoàn đã cùng với Hải Quân mở ngay chiến dịch truy quét tiểu đoàn U Minh tại vùng rừng U Minh.

Từ năm 1960 cho đến khi tan hàng vào năm 1975, ngoại trừ Tiểu đoàn 4 đóng ở Vũng Tàu, Bộ Tư lệnh cùng vài đơn vị yểm trợ đóng ở Thị Nghè, Sài Gòn thì toàn bộ phần còn lại của Sư đoàn đều đóng ở căn cứ Sóng Thần, Rừng Cấm, quận Thủ Đức.

Năm 1962, để yểm trợ cho các tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến, tiểu đoàn 1 Pháo Binh Lôi Hỏa được thành lập gồm 2 pháo đội 75mm và 1 pháo đội 105mm.

Lúc này Liên đoàn đã có quân số là 3.300 quân gồm 1 Bộ Chỉ Huy Liên đoàn, 4 Tiểu đoàn tác chiến và 1 Tiểu đoàn pháo binh cơ hữu cùng với các đơn vị yểm trợ.

Năm 1963, Tiểu đoàn 2 Trâu Điên đã đánh trận Đầm Dơi ở tiểu khu An Xuyên. Cũng trong năm này, toàn bộ Liên đoàn đã mở 2 cuộc hành quân Sóng Tình Thương và Mật khu Đỗ Xá tuy nhiên không có xảy ra giao tranh.

Năm 1964, Liên đoàn thành lập Tiểu đoàn 5 Hắc Long. Đây cũng là năm đen tối của Thủy Quân Lục Chiến khi Tiểu đoàn 4 Kình Ngư lọt vào ổ phục kích của Trung đoàn 27 Bình Giã ở vùng rừng cao su Bình Giã thuộc tiểu khu Phước Tuy. Tiểu đoàn chịu thiệt hại nặng, Tiểu đoàn thương vong hơn 60% quân số, tiểu đoàn trưởng lẫn tiểu đoàn phó đều tử trận.

Năm 1965, Liên đoàn Thủy Quân Lục Chiến được cải danh thành Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam bao gồm 1 Bộ Chỉ Huy Lữ đoàn, 5 Tiểu đoàn tác chiến, 1 Tiểu đoàn Pháo Binh, Yểm Trợ Thủy Bộ, Quân Y, Công Binh, Viễn Thám, Huấn luyện mỗi loại 1 Đại đội. Do nhu cầu chiến thuật tăng phái đi từng khu chiến thuật nên Lữ đoàn chia thành 2 Chiến Đoàn A và B Thủy Quân Lục Chiến. Chiến Đoàn A hay còn gọi là Chiến Đoàn An Dương Vương, Chiến Đoàn B hay còn gọi là Chiến Đoàn Bắc Bình Vương.

Cũng trong năm này, Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến chính thức tách khỏi Hải Quân và được đặt dưới quyền điều động trực tiếp của Bộ Tổng Tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cùng với Sư đoàn Nhẩy Dù Việt Nam và các Liên đoàn Biệt Động Quân, Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến trở thành lực lượng Tổng Trừ Bị chiến lược bên cạnh các đơn vị bạn.

Ngày 08/4/1965, Tiểu đoàn 2 Trâu Điên được tăng phái cho Sư đoàn 22 Bộ Binh đã đánh bại 1 trung đoàn thuộc Sư đoàn 3 Sao Vàng tại Phụng Dư, tiểu khu Bình Định.

Năm 1966, Tiểu đoàn 2 Trâu Điên được tăng phái dưới quyền sử dụng của Sư đoàn 1 Bộ Binh do Đại tá Ngô Quang Trưởng làm tư lệnh từ An Hòa (Huế) di chuyển ra Quảng Trị và bị phục kích tại Phong Điền, Thừa Thiên. Tiểu đoàn đã phản phục kích và đánh lui Trung đoàn đối phương tại đây nhưng mất Tiểu đoàn trưởng Lê Hằng Minh cùng với 42 quân nhân khác tử trận, gần 100 người bị thương trong đó có Trung úy Nguyễn Xuân Phúc.

Năm này cũng là năm Tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến, Thiếu tướng Lê Nguyên Khang được thăng cấp lên Trung tướng.

Thời kì năm 1966 - 1967, Lữ đoàn vinh dự tiếp nhận thêm 2 Tiểu đoàn mới nữa là Tiểu đoàn 6 Thần Ưng và Tiểu đoàn 7 Hùng Xám.

Năm 1968 là năm thành công của Thủy Quân Lục Chiến khi tất cả Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến đều lập chiến công trong các cuộc hành quân giải tỏa Biệt khu Thủ Đô - Sài Gòn, Chiến Đoàn A Thủy Quân Lục Chiến hành quân giải tỏa Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968.

Giữa năm 1968, Lữ đoàn được cải danh thành Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, Chiến Đoàn A và B được cải danh thành Lữ đoàn 147 và Lữ đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến. Các đơn vị yểm trợ như Quân Y, Truyền Tin, Công Binh, Viễn Thám, Huấn luyện được tăng cấp thành Tiểu đoàn.

Năm 1969, Tiểu đoàn 8 Ó Biển và Tiểu đoàn 9 Mãnh Hổ cùng với Tiểu đoàn 2 Pháo Binh Thần Tiễn được thành lập. Quân số của Sư đoàn lúc này đạt mức 9.300 quân nhân.

Đầu năm 1970, Tiểu đoàn 3 Pháo Binh Nỏ Thần và Bệnh viện Lê Hữu Sanh thuộc Tiểu đoàn Quân y được thành lập. Cùng lúc đó, Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến ra đời.

Cho đến khi nổ ra các cuộc hành quân tiến sang Cam Bốt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Sư đoàn đã hoàn chỉnh gồm Bộ Chỉ Huy Sư đoàn, 3 Lữ đoàn tác chiến và các đơn vị yểm trợ, Tiểu đoàn Thiết giáp Thủy-Bộ (xe thiết giáp lưỡng cư), Tiểu đoàn Huấn luyện, Khối Bổ Sung, Bệnh viện Lê Hữu Sanh. Tổng quân số của toàn Sư đoàn là 16.000 quân nhân.

Năm 1971, Sư đoàn được trực thăng vận đến Khe Sanh tham gia Chiến dịch Lam Sơn 719, các Lữ đoàn làm nút chận cho quân bạn là Sư đoàn Dù, Sư đoàn 1 Bộ Binh, Lữ đoàn 1 Kỵ Binh và Liên đoàn 1 Biệt Động Quân rút lui. Lữ đoàn 147 gồm các tiểu đoàn 2, 4, 7 Thủy Quân Lục Chiến chịu thiệt hại nặng, mất hơn 70% quân số khi Quân đội Nhân dân Việt Nam mở cuộc tấn công vào phòng tuyến của Lữ đoàn. Đây được coi là chiến dịch thất bại nặng nề nhất của Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến tính đến thời điểm đó.

Sau Chiến dịch Lam Sơn 719, Tiểu đoàn 9 được tăng phái cho Sư đoàn 1 Bộ Binh giải tỏa Động A Tây, thu hồi 100 thi hài quân bạn.

Mùa hè Đỏ Lửa năm 1972, cả 3 Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến cùng với Sư đoàn 3 Bộ Binh thay phiên nhau chống đỡ cuộc tấn công dữ dội và thần tốc của Quân đội Nhân dân Việt Nam và sau khi Quảng Trị mất, Lữ đoàn 258 và Lữ đoàn 369 nhận lệnh trấn đóng tuyến đầu của Quân đoàn I chặn đối phương tại tuyến sông Mỹ Chánh để Lữ đoàn 147 mở các cuộc tấn công giới hạn qua bên kia sông nhằm phá hủy các nỗ lực tiếp liệu và tuyến tiếp vận của đối phương, sau đó cùng với Sư đoàn Dù mở cuộc phản công tái chiếm Cổ Thành Đinh Công Tráng với phần lớn sức tấn công là từ yểm trợ không quân của Mỹ. Thực tế cho thấy đa số thương vong của QĐNDVN là do các cuộc không kích của không lực Hoa Kỳ, số thương vong gây ra bởi vũ khí cá nhân của bộ binh đối phương là khá nhỏ, ngược lại quân Việt Nam Cộng Hòa đã chịu thương vong lớn từ hỏa lực pháo binh cũng như súng bộ binh của Giải phóng quân. QĐNDVN đã trụ vững tại thành cổ suốt 81 ngày đêm, làm phá sản kế hoạch chiếm thành cổ trong 2 tuần của Ngô Quang Trưởng và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Giải phóng quân chỉ bắt đầu rút từ đêm ngày 14/9 đến cuối ngày 15 do nước lũ dâng cao không thể tiếp tục chi viện và tiếp tế cho các tuyến phòng thủ trong thành. Tuy phải rút nhưng họ đã giành được lợi thế về mặt chiến lược, giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam có lợi thế lớn trên bàn đàm phán Paris, đồng thời làm phá sản ý đồ tái chiếm bờ bắc sông Thạch Hãn của đối phương. Ngày 16/9/1972, lính của 2 Tiểu đoàn 3 và 6 Thủy Quân Lục Chiến đã kéo cờ lên Thành Cổ. Để tái chiếm được Cổ Thành, hơn 3.500 lính Mũ Xanh bỏ mạng và hàng ngàn lính khác bị thương. Đây cũng là lần cuối cùng mà các Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến dành chiến thắng về mặt chiến thuật (dù kết quả này có được là nhờ sự giúp sức rất lớn của Mỹ) trước khi Hiệp Định Paris được ký kết.

Cuối năm 1972 đầu năm 1973, Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến tham gia các cuộc hành quân "Sóng Thần" nhằm tái chiếm các vùng khác của tỉnh Quảng Trị, nhưng đều bị quân Giải phóng đánh lui. Đến cuối tháng 1/1973, khi Hiệp định Paris được ký, Sư đoàn cũng đã kiệt sức do tổn thất quá lớn.

Từ cuối năm 1973 đến giữa năm 1974, thành lập Biệt đội Sóng Thần với quân số hơn 100 tay súng, sau đó giải tán và sát nhập vào Tiểu đoàn 2 Trâu Điên.

Đầu năm 1975, Sư đoàn thành lập thêm Lữ đoàn 468 Thủy Quân Lục Chiến do Đại tá Ngô Quang Định - Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 258 làm tư lệnh gồm 3 tiểu đoàn 14, 16, 18 Thủy Quân Lục Chiến và Tiểu đoàn 4 Pháo Binh. Lữ đoàn mới này tiếp nhận hậu cứ Sóng Thần và được tăng phái hành quân thanh tảo Long An, sau đó ra Vùng I gia nhập các cuộc hành quân chung của Sư đoàn. Quân số lúc này của Sư đoàn là 20.000 quân nhân. Là một trong 2 sư đoàn có quân số cao nhất trong tổng số các đại đơn vị thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Sư đoàn còn lại là Sư đoàn Nhẩy Dù).

Tháng 3 năm 1975, Sư đoàn nhận lệnh bỏ tuyến phòng ngự phía nam sông Thạch Hãn rút về phòng ngự Đà Nẵng, nhưng do mệnh lệnh lung tung và phối hợp không đồng nhất nên Lữ đoàn 147 gồm 1 Chi đoàn Kỵ Binh, các Tiểu đoàn 3, 4, 5, 7 và Tiểu đoàn 1 Pháo Binh đang chờ tại cửa Thuận An (Huế) để tàu Hải Quân vào đón với quân số hơn 4.000 quân bị Quân đội nhân dân Việt Nam bao vây tấn công, chỉ có hơn 200 sĩ quan và binh sĩ được tàu Hải Quân vào đón, số còn lại chống cự cho đến khi hết đạn hoặc bỏ vũ khí và tan rã, phần còn lại của Lữ đoàn bị bắt, Lữ đoàn chính thức tan hàng tại đây. Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến gồm các Tiểu đoàn 2, 6, 9 và Tiểu đoàn 3 Pháo Binh đóng tại Đại Lộc, tiểu khu Quảng Nam được lệnh rút về Đà Nẵng thì Trung tá Nguyễn Xuân Phúc, Lữ đoàn trưởng và Lữ đoàn phó mất tích hoàn toàn (đến nay vẫn chưa tìm thấy tin tức - được xem như đã tử trận) khi đang điều động các đơn vị chiến đấu. Lữ đoàn tự tháo chạy và tan hàng.

Khác với số phận của 2 Lữ đoàn trên, Lữ đoàn 258 và Lữ đoàn 468 đang đóng tại đèo Hải Vân may mắn được tàu Hải Quân vào đón nên còn nguyên vẹn quân số rút về Vũng Tàu.

Vào những ngày cuối tháng Tư, Lữ đoàn 258 đặt dưới quyền điều động của Quân đoàn III, Lữ đoàn 468 phòng ngự ở Tổng kho Long Bình, còn Lữ đoàn 147 và 369 phải tái bổ sung tổn thất tại Vũng Tàu. Các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến đầu hàng toàn bộ khi Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng ngày 30/4/1975. Riêng Tiểu đoàn 2 Trâu Điên đang đóng tại Thủ Đức vẫn còn chống cự tới gần 17h chiều ngày 30/4/1975 mới chịu đầu hàng. Họ chào cờ lần cuối và bàn giao vũ khí cho quân Giải phóng trong trật tự.

Sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến là đơn vị Tổng Trừ Bị, cực kì lưu động và được coi là thiện chiến nhất trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Sư đoàn được thành lập theo đà phát triển của chiến tranh, đồng thời chia sẻ gánh nặng với các đơn vị bạn, Sư đoàn được đánh giá là một trong những đơn vị chiến đấu tốt nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lời nhận xét này được đưa ra từ phía Đồng Minh, đặc biệt là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Tất cả các quân nhân trong Sư đoàn, từ sĩ quan cho đến binh sĩ đều là tình nguyện. Sư đoàn đã lập được rất nhiều thành tích, mặt trận nào cũng tham dự, từ rừng rậm hay núi non hiểm trở đến duyên hải và đồng bằng sình lầy. Với những thành tích đạt được, Quân kỳ Sư đoàn được tặng thưởng dây biểu chương màu Tam Hợp.

Các chiến trận tham gia

Đơn vị trực thuộc

  • *Từ Bộ chỉ huy Tổng hành dinh đến Bộ chỉ huy Pháo binh là các đơn vị yểm trợ
TT Đơn vị Chú thích TT Đơn vị Chú thích
1
Lữ đoàn 147
Tiểu đoàn 1 Quái Điểu
Tiểu đoàn 4 Kình Ngư
Tiểu đoàn 7 Hùm Xám
11
Tiểu đoàn

Yểm trợ đổ bộ

Phân đội 147
Phân đội 258
Phân đội 369
Phân đội 468
Phối thuộc 4 Lữ đoàn
2
Lữ đoàn 258
Tiểu đoàn 2 Trâu Điên
Tiểu đoàn 5 Hắc Long
Tiểu đoàn 8 Ó Biển
12
Tiểu đoàn Quân y
3
Lữ đoàn 369
Tiểu đoàn 3 Sói Biển
Tiểu đoàn 6 Thần Ưng
Tiểu đoàn 9 Mãnh Hổ
13
Tiểu đoàn Truyền tin
4
Lữ đoàn 468

Tân lập

Tiểu đoàn 14
Tiểu đoàn 16
Tiểu đoàn 18
14
Tiểu đoàn Công binh
5
Đại đội Viễn thám
Đại đội 147
Đại đội 258
Đại đội 369
Đại đội 468
Phối thuộc 4 Lữ đoàn
15
Trung tâm huấn luyện

Sư đoàn

Toạ lạc cạnh Căn cứ Sóng Thần
6
Bộ chỉ huy*

Tổng hành dinh

16
Tiểu đoàn Huấn luyện
Rừng Cấm, Thủ Đức
7
Đại đội Trinh sát
Dưới quyền điều động trực tiếp của Tư lệnh Sư đoàn
17
Khối Bổ sung

Sư đoàn

8
Đại đội

Quân cảnh 202

18
Bệnh viện

Lê Hữu Sanh

9
Biệt đội

Tác chiến Điện tử

19
Bộ chỉ huy

Pháo binh

Tiểu đoàn 1 Lôi Hoả
Tiểu đoàn 2 Thần Tiễn
Tiểu đoàn 3 Nỏ Thần
Tiểu đoàn 4 tân lập
Phối thuộc 4 Lữ đoàn
10
Đại đội diệt tăng

Bộ Tư lệnh Sư đoàn & Các Lữ đoàn tháng 4/1975

  • Chức danh Chỉ huy & Tham mưu sau cùng:
TT Cấp bậc Họ & Tên Chức vụ Chú thích
1
Thiếu tướng
Bùi Thế Lân

Sĩ quan Thủ Đức K4

Tư lệnh
2
Đại tá
Nguyễn Thành Trí

Sĩ quan Thủ Đức K5

Tư lệnh phó
3
nt
Lê Đình Quế

Sĩ quan Thủ Đức K4

Tham mưu trưởng
Cấp bậc
Tiểu đoàn trưởng
4
nt
Nguyễn Thế Lương

Sĩ quan Thủ Đức K4

Lữ đoàn trưởng

Lữ đoàn 147

Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá
Dương Văn Hưng Tiểu đoàn 1
Đinh Long Thành Tiểu đoàn 4
Phạm Cang Tiểu đoàn 7
5
nt
Nguyễn Năng Bảo

Địa phương Bắc Việt

nt

Lữ đoàn 258

Thiếu tá Thiếu tá Trung tá
Trần văn Hợp(Đà Lạt K19) Tiểu đoàn 2
Phạm Văn Tiền Tiểu đoàn 5
Nguyễn Đăng Hoà(Đồng Đế K2) Tiểu đoàn 8
6
Trung tá
Nguyễn Xuân Phúc

Võ bị Đà Lạt K16

nt

Lữ đoàn 369

Thiếu tá Trung tá Thiếu tá
Nguyễn Văn Sử Tiểu đoàn 3
Lê Bá Bình(Thủ Đức K12) Tiểu đoàn 6
Lâm Tài Thạnh Tiểu đoàn 9
7
Đại tá
Ngô Văn Định

Võ bị Đà Lạt K4

nt

Lữ đoàn 468

Trung tá Thiếu tá Thiếu tá
Nguyễn Văn Cảnh Tiểu đoàn 14
Đinh Xuân Lãm Tiểu đoàn 16
Trần Ngọc Toàn(Đà Lạt K16) Tiểu đoàn 18
8
Trung tá
Đặng Bá Đạt
Chỉ huy trưởng

Pháo binh

Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá
Nguyễn Hữu Lạc(Đà lạt K13) Tiểu đoàn 1
Võ Đằng Phương Tiểu đoàn 2
Nguyễn Tấn Lộc Tiểu đoàn 3
Hà Tiến Chương Tiểu đoàn 4

Chỉ huy Lữ đoàn qua các thời kỳ

  • *Cấp bậc khi nhậm chức
TT Đơn vị Họ & Tên Cấp bậc* Tại chức Chú thích
Lữ đoàn 147
Năm 1965, được thành lập với danh xưng ban đầu là Chiến đoàn A. Năm 1968 Binh chủng Thuỷ quân Lục chiến được nâng lên cấp Sư đoàn. Chiến đoàn được đổi tên thành Lữ đoàn 147.
1
Hoàng Tích Thông

Sĩ quan Thủ Đức K4

Trung tá
1965-1971
Sau cùng là Đại tá
2
Nguyễn Năng Bảo

Địa phương Bắc Việt

nt
1971-1974
Sau cùng là Đại tá
3
Nguyễn Thế Lương

Sĩ quan Thủ Đức K4

Đại tá
1974-1975
4
Phạm Cang
Thiếu tá
1/1975-4/1975
Xử lý thường vụ chức vụ Lữ đoàn trưởng
Lữ đoàn 258
Năm 1965 được thành lập với danh xưng ban đầu là Chiến đoàn B. Năm 1968 được đổi tên thành Lữ đoàn 258
1
Tôn Thất Soạn

Sĩ quan Thủ Đức K4

Trung tá
1965-1970
Sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng tỉnh Hậu Nghĩa
2
Nguyễn Thành Trí

Sĩ quan Thủ Đức K5

nt
1970-1971
Sau cùng là Đại tá Tư lệnh phó Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến
3
Ngô Văn Định

Võ bị Đà Lạt K4

nt
1971-1974
4
Nguyễn Năng Bảo
Đại tá
1974-1975
Lữ đoàn 369
Được thành lập năm 1969
1
Ngô Văn Định
Trung tá
1969-1970
2
Phạm Văn Chung

Võ bị Đà Lạt K4

nt
1970-1972
Sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam
3
Nguyễn Thế Lương
nt
1972-1974
4
Nguyễn Xuân Phúc

Võ bị Đà Lạt K16

nt
1974-1975
Lữ đoàn 468
Thành lập vào thượng tuần tháng 4/1975
1
Ngô Văn Định
Đại tá

Tư lệnh qua các thời kỳ

  • Từ năm 1954-1962, được gọi là Chỉ huy trưởng
  • *Cấp bậc khi nhậm chức
TT Cấp bậc* Họ & Tên Tại chức Chú thích
1
Trung tá
Lê Quang Trọng

Võ bị Huế K2

10/1954-06/1956
Thuỷ quân Lục chiến khi mới thành lập (1954) danh xưng là: Bộ binh Hải quân. Trung tá Trọng giải ngũ ở cấp Đại tá
2
Thiếu tá
Phạm Văn Liễu

Võ bị Đà Lạt K5

06/1956-08/1956
Tháng 4/1956, Bộ binh Hải quân đổi tên thành Thuỷ quân Lục chiến. Thiếu tá Liễu, sau cùng là Đại tá Tham vấn Hoà đàm Paris
3
Đại úy
Bùi Phó Chí
08/1956-10/1956
Giải ngũ ở cấp Đại úy. Là Nhạc phụ của Trung tướng 'Phan Trọng Chinh
4
Thiếu tá
Lê Như Hùng
Võ bị Huế K1
10/1955-04/1960
Năm 1957, đổi tên thành Liên đoàn Thuỷ quân Lục chiến. Thiếu tá Hùng, sau làm Tỉnh trưởng Kiến Hoà, giải ngũ ở cấp Trung tá
5
nt
Lê Nguyên Khang

Sĩ quan Nam Định

04/1960-11/1963
Đầu năm 1962, Liên đoàn TQLC đổi tên thành Lữ đoàn. Thiếu tá Khang Tư lệnh lần thứ 1
6
Trung tá
Nguyễn Bá Liên

Võ bị Đà Lạt K9p

11/1963-02/1964
Sau cùng là Đại tá Phụ tá Tư lệnh Quân đoàn II kiêm Tư lệnh Biệt khu 24 (Kontum-Pleiku). Năm 1969 tử trận được truy thăng Chuẩn tướng
7
Đại tá
Lê Nguyên Khang

Sĩ quan Nam Định

02/1964-05/1972
Tư lệnh lần thứ 2. Sau cùng là Trung tướng Phụ tá Tổng tham mưu trưởng đặc trách Hành quân
8
nt
Bùi Thế Lân

Sĩ quan Thủ Đức K4

05/1972-04/1975
Cuối tháng 5/1972 thăng Chuẩn tướng, đầu tháng 4/1975 thăng Thiếu tướng. Tư lệnh sau cùng

Tướng lãnh xuất thân từ binh chủng

TT Họ & Tên Cấp bậc Thời gian phục vụ Chú thích
1
Lê Nguyên Khang
Trung tướng
1952-1972
Thiểu uý, Trung úy: Lực lượng Bổ bộ Hải quân (1952-1955). Đại úy, Thiếu tá: Tiểu đoàn trưởng TQLC (1955-1960). Thiếu tá, Trung tá, Đại tá: Liên đoàn trưởng TQLC (1960-1964). Chuẩn tướng: Tư lệnh Lữ đoàn TQLC (1964). Thiếu tướng, Trung tướng: Tư lệnh Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến (1964-1972)
2
Bùi Thế Lân
Thiếu tướng
1954-1975
Thiếu úy, Trung úy, Đại úy: Đại trưởng, Tiểu đoàn trưởng TQLC (1954-1964). Thiếu tá, Trung tá, Đại tá: Tham mưu trưởng Lữ đoàn, Tư lệnh phó Sư đoàn TQLC (1964-1972). Chuẩn tướng, Thiếu tướng: Tư lệnh Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến (1972-1975)
3
Nguyễn Bá Liên
Chuẩn tướng

Truy thăng

1956-1964
Năm 1956 đang là sĩ quan cơ hữu ở Quân trường Đồng Đế, tình nguyện sang binh chủng TQLC. Thiếu úy, Trung úy Đại đội trưởng TQLC (1956-1958). Đại úy: Trưởng phòng 1 Tiểu đoàn, Tiểu đoàn trưởng, Liên đoàn phó TQLC (1958-1963). Thiếu tá, Trung tá: Liên đoàn phó, Chỉ huy trưởng Liên đoàn Thuỷ quân Lục chiến (1963-1964).

Sau chuyển sang bộ binh. Năm 1969, đang là Đại tá phụ tá Tư lệnh Quân đoàn II kiêm Tư lệnh Biệt khu 24 Kontum, tử trận tại chiến trường Benhet, được truy thăng Chuẩn tướng.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Brush, Peter (1966). “The Vietnamese Marine Corps”. Viet Nam Generation: A Journal of Recent History and Contemporary Issues. Vol. 7:1-2. tr. 73–77. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ Victor J. Croizat, "Vietnamese Naval Forces: Origin of the Species," U.S. Naval Institute Proceedings, (February, 1973), tr 48-58.