Thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sư đoàn Thủy quân lục chiến
Republic of Vietnam Marine Division SSI.png
Huy hiệu.
Hoạt động 1954–1975
Quốc gia  Việt Nam Cộng hòa
Phân loại Lực lượng vũ trang
Tên khác Cọp Biển
Khẩu hiệu Mạnh như sóng thần
Màu sắc Vàng, đỏ, xanh lục
Tham chiến Trận Khe Sanh
Trận Mậu Thân
Mùa hè đỏ lửa
Hải chiến Hoàng Sa
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Lê Nguyên Khang

Sư đoàn Thủy quân lục chiến (tiếng Anh: Republic of Vietnam Marine Division, RVNMD) là một đơn vị quy mô cấp sư đoàn, trực thuộc lực lượng Tổng trừ bị của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Đây được xem là một trong 4 lực lượng thiện chiên cơ động nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa (3 lực lượng còn lại gồm sư đoàn Nhảy dù, liên đoàn Biệt cách dù và lực lượng Biệt động quân). Nhiệm vụ chính của lực lượng cơ động hành quân thủy bộ, kiểm soát vùng biển và sông ngòi miền Nam, với địa bàn chiến đấu khắp bốn vùng chiến thuật và mặt trận ngoại biên. Đây là đơn vị được tổ chức, chiến đấu, và huấn luyện rập khuôn Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (USMC), được nhận xét như là đơn vị thiện chiến dày dặn kinh nghiệm nhất trong lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Dấu hiệu nhận biết:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng hòa có nguồn gốc từ thời kỳ Pháp thuộc. Năm 1949, theo Thỏa ước Pháp-Việt, lực lượng vũ trang Việt Nam sẽ bao gồm lực lượng hải quân, với tổ chức và huấn luyện do phía hải quân Pháp đảm nhiệm. Năm 1951, Pháp đề nghị phương án phát triển Hải quân Việt Nam, theo đó sẽ thành lập hai sư đoàn hải quân, do Pháp chỉ huy. Tháng 3 năm 1952, Sắc lệnh số 2 của Đế chế Pháp chính thức xác lập hải quân Việt Nam. Tới năm sau, hai sư đoàn hải quân được thiết lập.[1] Năm 1953, chính phủ Pháp và Việt Nam đồng ý tăng Lục quân lên 57 tiểu đoàn khinh bộ binh, đảm nhận nhiệm vụ tấn công. Các chiến dịch này mở rộng ra cả vùng duyên hải của Việt Nam, nên việc mở rộng hải quân cũng được xét đến. Trong khi việc các đội giang thuyền nên nằm dưới sự chỉ huy của Lục quân hay Hải quân còn chưa được định đoạt, thì phó Đô đốc Pháp Auboyneau đề xuất việc thành lập một quân đoàn thủy quân lục chiến Việt Nam. Năm 1954, khi người Pháp bắt đầu rút khỏi Việt Nam, thì quân đoàn thủy quân lục chiến đã bao gồm một bộ chỉ huy, bốn đại đội đường sông, một tiểu đoàn đổ bộ.[2]

Hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Sư đoàn Thuỷ quân Lục Chiến được thành lập ngày 1/10/1954 tại Nha Trang với danh xưng ban đầu là Bộ binh Hải quân (Sắc lệnh số 99/SL ngày 13/10/1954 của Phủ Thủ tướng) do Trung tá Lê Quang Trọng Chỉ huy trưởng đầu tiên.

Văn phòng Bộ chỉ huy đầu tiên đặt tại Bộ Tổng tham mưu ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Tháng 6/1955 Bộ chỉ huy dời về Trại Cửu Long, Thị Nghè, Gia Định.

Tháng 4/1956 Bộ binh Hải quân cải danh Thuỷ quân Lục chiến, trực thuộc Hải quân. Năm 1957 Thuỷ quân Lục chiến được định cấp Liên đoàn.

Ngày 1/1/1962, Liên đoàn được nâng cấp thành Lữ đoàn độc lập và rời khỏi Bộ Tư lệnh Hải quân. Lúc này Lữ đoàn đã có quân số là 4 Tiểu đoàn. Năm 1965, thành lập Bộ tư lệnh Lữ đoàn và trực thuộc có 2 Chiến đoàn (gồm 5 Tiểu đoàn tác chiến) và 1 Tiểu đoàn Pháo binh

Những năm kế tiếp thành lập thêm các Tiểu đoàn tác chiến và pháo binh. Năm 1968 Lữ đoàn đã có 9 Tiểu đoàn tác chiến và 3 Tiểu đoàn Pháo binh cùng các đơn vị yểm trợ khác. Được cải danh lần cuối là Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến, đồng thời trở thành Lực lượng Tổng trừ bị trực thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH.

Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến là đơn vị Tổng trừ bị, lưu động và rất thiện chiến. Hầu hết các quân nhân đều là tình nguyện. Sư đoàn đã lập được nhiều chiến công, mặt trận nào cũng tham dự. Từ rừng rậm hay núi non hiểm trở đến duyên hải và đồng bằng sình lầy đều có mặt các chiến binh Thuỷ quân Lục chiến. Đã đem lại nhiều chiến công lẫy lừng trên cao nguyên, trận Mậu thân, chiến trận nơi biên giới Lào, Campuchia và chiến thắng cổ thành Quảng Trị. Với thành tích đạt được Quân kỳ Sư đoàn được tưởng thưởng dây biểu chương mầu Tam hợp.

Các chiến trận tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn vị trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • *Từ Bộ chỉ huy Tổng hành dinh đến Bộ chỉ huy Pháo binh là các đơn vị yểm trợ
TT Đơn vị Chú thích TT Đơn vị Chú thích
1
Lữ đoàn 147
Tiểu đoàn 1 Quái Điểu
Tiểu đoàn 4 Kình Ngư
Tiểu đoàn 7 Hùm Xám
11
Tiểu đoàn

Yểm trợ đổ bộ

Phân đội 147
Phân đội 258
Phân đội 369
Phân đội 468
Phối thuộc 4 Lữ đoàn
2
Lữ đoàn 258
Tiểu đoàn 2 Trâu Điên
Tiểu đoàn 5 Hắc Long
Tiểu đoàn 8 Ó Biển
12
Tiểu đoàn Quân y
3
Lữ đoàn 369
Tiểu đoàn 3 Sói Biển
Tiểu đoàn 6 Thần Ưng
Tiểu đoàn 9 Mãnh Hổ
13
Tiểu đoàn Truyền tin
4
Lữ đoàn 468

Tân lập

Tiểu đoàn 14
Tiểu đoàn 16
Tiểu đoàn 18
14
Tiểu đoàn Công binh
5
Đại đội Viễn thám
Đại đội 147
Đại đội 258
Đại đội 369
Đại đội 468
Phối thuộc 4 Lữ đoàn
15
Trung tâm huấn luyện

Sư đoàn

Toạ lạc cạnh Căn cứ Sóng Thần
6
Bộ chỉ huy*

Tổng hành dinh

16
Tiểu đoàn Huấn luyện
Rừng Cấm, Thủ Đức
7
Đại đội Trinh sát
Dưới quyền điều động trực tiếp của Tư lệnh Sư đoàn
17
Khối Bổ sung

Sư đoàn

8
Đại đội

Quân cảnh 202

18
Bệnh viện

Lê Hữu Sanh

9
Biệt đội

Tác chiến Điện tử

19
Bộ chỉ huy

Pháo binh

Tiểu đoàn 1 Lôi Hoả
Tiểu đoàn 2 Thần Tiễn
Tiểu đoàn 3 Nỏ Thần
Tiểu đoàn 4 tân lập
Phối thuộc 4 Lữ đoàn
10
Đại đội diệt tăng

Bộ Tư lệnh Sư đoàn & Các Lữ đoàn tháng 4/1975[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chức danh Chỉ huy & Tham mưu sau cùng:
TT Cấp bậc Họ & Tên Chức vụ Chú thích
1
Thiếu tướng
Bùi Thế Lân

Sĩ quan Thủ Đức K4

Tư lệnh
2
Đại tá
Nguyễn Thành Trí

Sĩ quan Thủ Đức K5

Tư lệnh phó
3
nt
Lê Đình Quế

Sĩ quan Thủ Đức K4

Tham mưu trưởng
Cấp bậc
Tiểu đoàn trưởng
4
nt
Nguyễn Thế Lương

Sĩ quan Thủ Đức K4

Lữ đoàn trưởng

Lữ đoàn 147

Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá
Dương Văn Hưng Tiểu đoàn 1
Đinh Long Thành Tiểu đoàn 4
Phạm Cang Tiểu đoàn 7
5
nt
Nguyễn Năng Bảo

Địa phương Bắc Việt

nt

Lữ đoàn 258

Thiếu tá Thiếu tá Trung tá
Trần văn Hợp(Đà Lạt K19) Tiểu đoàn 2
Phạm Văn Tiền Tiểu đoàn 5
Nguyễn Đăng Hoà(Đồng Đế K2) Tiểu đoàn 8
6
Trung tá
Nguyễn Xuân Phúc

Võ bị Đà Lạt K16

nt

Lữ đoàn 369

Thiếu tá Trung tá Thiếu tá
Nguyễn Văn Sử Tiểu đoàn 3
Lê Bá Bình(Thủ Đức K12) Tiểu đoàn 6
Lâm Tài Thạnh Tiểu đoàn 9
7
Đại tá
Ngô Văn Định

Võ bị Đà Lạt K4

nt

Lữ đoàn 468

Trung tá Thiếu tá Thiếu tá
Nguyễn Văn Cảnh Tiểu đoàn 14
Đinh Xuân Lãm Tiểu đoàn 16
Trần Ngọc Toàn(Đà Lạt K16) Tiểu đoàn 18
8
Trung tá
Đặng Bá Đạt
Chỉ huy trưởng

Pháo binh

Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá
Nguyễn Hữu Lạc(Đà lạt K13) Tiểu đoàn 1
Võ Đằng Phương Tiểu đoàn 2
Nguyễn Tấn Lộc Tiểu đoàn 3
Hà Tiến Chương Tiểu đoàn 4

Chỉ huy Lữ đoàn qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • *Cấp bậc khi nhậm chức
TT Đơn vị Họ & Tên Cấp bậc* Tại chức Chú thích
Lữ đoàn 147
Năm 1965, được thành lập với danh xưng ban đầu là Chiến đoàn A. Năm 1968 Binh chủng Thuỷ quân Lục chiến được nâng lên cấp Sư đoàn. Chiến đoàn được cải danh thành Lữ đoàn 147.
1
Hoàng Tích Thông

Sĩ quan Thủ Đức K4

Trung tá
1965-1971
Sau cùng là Đại tá
2
Nguyễn Năng Bảo

Địa phương Bắc Việt

nt
1971-1974
Sau cùng là Đại tá
3
Nguyễn Thế Lương

Sĩ quan Thủ Đức K4

Đại tá
1974-1975
4
Phạm Cang
Thiếu tá
1/1975-4/1975
Xử lý thường vụ chức vụ Lữ đoàn trưởng
Lữ đoàn 258
Năm 1965 được thành lập với danh xưng ban đầu là Chiến đoàn B. Năm 1968 được cải danh thành Lữ đoàn 258
1
Tôn Thất Soạn

Sĩ quan Thủ Đức K4

Trung tá
1965-1970
Sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng tỉnh Hậu Nghĩa
2
Nguyễn Thành Trí

Sĩ quan Thủ Đức K5

nt
1970-1971
Sau cùng là Đại tá Tư lệnh phó Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến
3
Ngô Văn Định

Võ bị Đà Lạt K4

nt
1971-1974
4
Nguyễn Năng Bảo
Đại tá
1974-1975
Lữ đoàn 369
Được thành lập năm 1969
1
Ngô Văn Định
Trung tá
1969-1970
2
Phạm Văn Chung

Võ bị Đà Lạt K4

nt
1970-1972
Sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam
3
Nguyễn Thế Lương
nt
1972-1974
4
Nguyễn Xuân Phúc

Võ bị Đà Lạt K16

nt
1974-1975
Lữ đoàn 468
Thành lập vào thượng tuần tháng 4/1975
1
Ngô Văn Định
Đại tá

Tư lệnh qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ năm 1954-1962, được gọi là Chỉ huy trưởng
  • *Cấp bậc khi nhậm chức
TT Cấp bậc* Họ & Tên Tại chức Chú thích
1
Trung tá
Lê Quang Trọng

Võ bị Huế K2

10/1954-06/1956
Thuỷ quân Lục chiến khi mới thành lập (1954) danh xưng là: Bộ binh Hải quân. Trung tá Trọng giải ngũ ở cấp Đại tá
2
Thiếu tá
Phạm Văn Liễu

Võ bị Đà Lạt K5

06/1956-08/1956
Tháng 4/1956, Bộ binh Hải quân cải danh thành Thuỷ quân Lục chiến. Thiếu tá Liễu, sau cùng là Đại tá Tham vấn Hoà đàm Paris
3
Đại úy
Bùi Phó Chí
08/1956-10/1956
Giải ngũ ở cấp Đại úy. Là Nhạc phụ của Trung tướng 'Phan Trọng Chinh
4
Thiếu tá
Lê Như Hùng
10/1955-04/1960
Năm 1957, cải danh thành Liên đoàn Thuỷ quân Lục chiến. Thiếu tá Hùng, sau làm Tỉnh trưởng Kiến Hoà, giải ngũ ở cấp Trung tá
5
nt
Lê Nguyên Khang

Sĩ quan Nam Định

04/1960-11/1963
Đầu năm 1962, Liên đoàn TQLC cải danh thành Lữ đoàn. Thiếu tá Khang Tư lệnh lần thứ 1
6
Trung tá
Nguyễn Bá Liên

Võ bị Đà Lạt K9p

11/1963-02/1964
Sau cùng là Đại tá Phụ tá Tư lệnh Quân đoàn II kiêm Tư lệnh Biệt khu 24 (Kontum-Pleiku). Năm 1969 tử trận được truy thăng Chuẩn tướng
7
Đại tá
Lê Nguyên Khang

Sĩ quan Nam Định

02/1964-05/1972
Tư lệnh lần thứ 2. Sau cùng là Trung tướng Phụ tá Tổng tham mưu trưởng đặc trách Hành quân
8
nt
Bùi Thế Lân

Sĩ quan Thủ Đức K4

05/1972-04/1975
Cuối tháng 5/1972 thăng Chuẩn tướng, đầu tháng 4/1975 thăng Thiếu tướng. Tư lệnh sau cùng

Tướng lãnh xuất thân từ binh chủng[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ & Tên Cấp bậc Thời gian phục vụ Chú thích
1
Lê Nguyên Khang
Trung tướng
1952-1972
Thiểu uý, Trung úy: Lực lượng Bổ bộ Hải quân (1952-1955). Đại úy, Thiếu tá: Tiểu đoàn trưởng TQLC (1955-1960). Thiếu tá, Trung tá, Đại tá: Liên đoàn trưởng TQLC (1960-1964) . Chuẩn tướng: Tư lệnh Lữ đoàn TQLC (1964). Thiếu tướng, Trung tướng: Tư lệnh Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến (1964-1972)
2
Bùi Thế Lân
Thiếu tướng
1954-1975
Thiếu úy, Trung úy, Đại úy: Đại trưởng, Tiểu đoàn trưởng TQLC (1954-1964). Thiếu tá, Trung tá, Đại tá: Tham mưu trưởng Lữ đoàn, Tư lệnh phó Sư đoàn TQLC (1964-1972). Chuẩn tướng, Thiếu tướng: Tư lệnh Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến (1972-1975)
3
Nguyễn Bá Liên
Chuẩn tướng

Truy thăng

1956-1964
Năm 1956 đang là sĩ quan cơ hữu ở Quân trường Đồng Đế, tình nguyện sang binh chủng TQLC. Thiếu úy, Trung úy Đại đội trưởng TQLC (1956-1958). Đại úy: Trưởng phòng 1 Tiểu đoàn, Tiểu đoàn trưởng, Liên đoàn phó TQLC (1958-1963). Thiếu tá, Trung tá: Liên đoàn phó, Chỉ huy trưởng Liên đoàn Thuỷ quân Lục chiến (1963-1964).

Sau chuyển sang bộ binh. Năm 1969, đang là Đại tá phụ tá Tư lệnh Quân đoàn II kiêm Tư lệnh Biệt khu 24 Kontum, tử trận tại chiến trường Benhet, được truy thăng Chuẩn tướng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Brush, Peter (1966). “The Vietnamese Marine Corps”. Viet Nam Generation: A Journal of Recent History and Contemporary Issues. Vol. 7:1-2. tr. 73–77. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ Victor J. Croizat, "Vietnamese Naval Forces: Origin of the Species," U.S. Naval Institute Proceedings, (February, 1973), tr 48-58.