Binh chủng Nhảy dù Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Binh chủng Nhảy Dù
Vietnamese Airborne Division 's Insignia.svg
Phù hiệu
Hoạt động 1955–1975
Quốc gia  Việt Nam Cộng hòa
Phân loại Lực lượng vũ trang
Tên khác Thiên thần mũ đỏ
Khẩu hiệu Nhẩy dù sát Cộng
Màu sắc Vàng, đỏ, đen
Tham chiến Trận Mậu Thân
Chiến dịch Campuchia
Mùa hè đỏ lửa
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
-Đỗ Cao Trí
-Nguyễn Văn Vỹ
-Cao Văn Viên
-Nguyễn Khánh
-Dư Quốc Đống
-Nguyễn Chánh Thi
-Nguyễn Khoa Nam
-Đoàn Văn Quảng
-Lê Quang Lưỡng

Sư đoàn Nhẩy dù Quân lực Việt Nam Cộng hòa - hay Binh chủng Nhẩy Dù (tiếng Anh: Vietnamese Airborne Division, VNAD) - là một đơn vị Chính quy trực thuộc Không lực Việt Nam Cộng hòa, có lịch sử thành lập sớm nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sau này là một Sư đoàn tác chiến độc lập và trở thành đơn vị Tổng trừ bị trực thuộc Bộ Tổng tham mưu.

Lược sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Một áp-phích tổng động viên thời Quốc gia Việt Nam.

Thời Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 1/1/1948 do nhu cầu chống lại Việt Minh, đơn vị Nhẩy Dù Việt Nam đầu tiên là Đại đội 1 Nhảy Dù Dông Dương [1ere Compagnie Indochinoise Parachutiste - CIP] được thành lập, Đại đội trưởng người Pháp là Đại úy Grillet-Paysan. Liền sau đó là các Đại đội Nhẩy Dù Đông Dương 2, 3, 5 và Đại đội Dù Lê Dương [Compagnie Indochinoise Parachutiste Légion Etrangère]. Chỉ huy phần lớn là người Pháp.

Có duy nhất Đại đội 3 Nhẩy Dù Đông Dương (3ème CIP nguyên Compagnie Tonkinoise Parachutiste, hay còn mệnh danh là Compagnie Vỹ) do Đại úy Nguyễn Văn Vỹ thành lập và chỉ huy từ tháng 5 năm 1948. Thiếu úy Đoàn Văn Quảng là vị Trung đội trưởng người Việt duy nhất trong Đại đội này. Mỗi một đại đội này được biệt phái làm đại đội thứ 4 cho mỗi các Tiểu đoàn 1, 2, 3 và 5 Biệt Kích Nhẩy Dù Thuộc địa Pháp (BCCP - Bataillon Colonial de Commandos Parachutistes) và Tiểu đoàn 1 Dù Lê Dương (1er BEP).

Năm 1949 Đại đội Nhẩy Dù Liên Đoàn Phòng vệ Nam Việt ["Escadron Parachutiste Garde du Việt Nam Sud - EPGVNS"] được thành lập tại Thủ Đức, là một đơn vị biệt lập xuất nguồn từ Liên Đoàn Phòng Vệ Cộng hòa Nam Việt (Garde Répubiique de Cochinchine). Đại úy Richard thành lập và chỉ huy, đến tháng 6 năm 1951 Trung úy Nguyễn Khánh từ Trung đoàn Ngự Lâm Quân chuyển về làm Đại đội Phó.

Ngày 1/8/1951 Tiểu đoàn 1 Nhẩy Dù Việt Nam được thành lập tại Chí Hòa, Sài Gòn từ Đại đội 1 Nhẩy dù và Đại đội Dù Phòng vệ Nam Việt. Tiểu đoàn có 2 Trung tâm Huấn luyện tại Căn cứ Tân Sơn Nhất, Sài Gòn và tại Phi trường Bạch Mai, Hà Nội. Lần lượt tiếp theo sau đó các Tiểu đoàn Dù số 3, 4, 5, 7 và 6 được thành lập trong thời gian 1952-1954.

Thời Đệ nhất Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29/9/1954 Pháp bàn giao quân đội lại cho chính phủ Việt Nam. Trong các trận đánh với quân đối phương, tiểu đoàn 4,7 bị thiệt hại nặng và giải tán để lấy quân số bổ sung cho Bộ chỉ huy và đội yểm trợ. Liên đoàn Nhẩy dù được thành lập từ 4 Tiểu đoàn 1, 3, 5 và 6. Chỉ huy trưởng Liên đoàn Dù là Thiếu tá Đỗ Cao Trí. Liên đoàn có khoảng 4.000 người gồm Bộ chỉ huy, các Tiểu đoàn 1, 3, 5, 6 và Tiểu đoàn Trợ chiến (Quân y, Công Binh, Kỹ thuật và Súng cối mỗi một Đại đội, Truyền tin 1 phân đội và Tiếp tế thả dù 1 Trung đội). Đến giữa năm 1955 toàn bộ Liên đoàn đã đóng quân tại Sài Gòn, Trung tâm Huấn luyện Nhẩy Dù cũng được thành lập tại căn cứ Tân Sơn Nhất.

Ngày 1/9/1956 Trung tá Nguyễn Chánh Thi thay thế Đại tá Đỗ Cao Trí nhận chức vụ Chỉ huy trưởng. Năm 1959 Liên đoàn đổi tên thành Lữ đoàn Nhẩy dù. Ngày 12/11/1960 Trung tá Cao Văn Viên được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Lữ đoàn, thay thế Đại tá Nguyễn Chánh Thi tham gia đảo chính bất thành.

Năm 1961 Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8 Nhẩy Dù được thành lập. Năm 1962 Liên đoàn Nhẩy Dù tổ chức thành 2 Chiến đoàn Nhẩy Dù. Thiếu tá Dư Quốc Đống là Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 1 gồm các Tiểu đoàn 1, 3 và 8, đóng tại Căn cứ Hoàng Hoa Thám. Thiếu tá Đỗ Kế Giai là Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 2 gồm các Tiểu đoàn 5, 6 và 7, đóng tại Tam Hiệp, Biên Hòa.

Đệ nhị Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Quân kỳ

Năm 1964 Đại tá Cao Văn Viên được đặc cách thăng Thiếu tướng ngay tại mặt trận sau chiến thắng Hồng Ngự, bổ nhiệm về Bộ Tổng Tham mưu, Trung tá Dư Quốc Đống lên giữ chức vụ Tư lệnh Lữ đoàn Nhẩy Dù.

Giữa năm 1965 Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 9 Nhẩy Dù và Tiểu đoàn Pháo binh được thành lập. Đơn vị Quân y được nâng cấp thành Tiểu đoàn Quân y.

Ngày 1/12/1965 Lữ đoàn Nhẩy Dù tổ chức nâng cấp thành Sư đoàn Nhẩy Dù. (Bộ Tư lệnh Sư đoàn được đặt tại trại Hoàng Hoa Thám, Tân Bình, Gia Định). Các Chiến đoàn 1 và 2 đổi tên thành Lữ đoàn, do Trung tá Hồ Trung Hậu (Lữ đoàn 1) và Trung tá Đào Văn Hùng chỉ huy (Lữ đoàn 2). Lữ đoàn 3 Nhẩy Dù được thành lập, Trung tá Nguyễn Khoa Nam là Lữ đoàn trưởng.

Lính dù Hoàng Ngọc Giao (trực thuộc Tiểu đoàn 5) chuẩn bị thực hiện một phi vụ nhảy toán.

Tiểu đoàn 11 Nhẩy dù được thành lập năm 1967. Tiểu đoàn Yểm trợ KBC 4759 (Tiền thân là Tiểu đoàn Trợ chiến) được thành lập ngày 1/11/1968, có 6 Đại đội là: Đại đội Chỉ huy và Công vụ, Đại đội kỹ thuật, Đại đội Tài chính, Đại đội Vận tải, Đại đội Tiếp liệu, Đại đội Bảo trì và 4 Phân đội Tiếp vận Hành quân, yểm trợ với 4 Lữ đoàn tác chiến. Đồn trú trong Căn cứ Hoàng Hoa Thám. Tiểu đoàn trưởng đầu tiên là Trung tá Tống Hồ Hàm. Tiểu đoàn trưởng cuối cùng là Thiếu tá Võ Văn Thu.

Năm 1968, Sư đoàn Dù đã hoàn chỉnh với 3 Lữ đoàn gồm 9 Tiểu đoàn tác chiến, 3 Đại đội Trinh sát và 3 Tiểu đoàn Pháo binh. Dù bị thiệt hại khá nặng qua các chiến dịch trong Tet Offensive, đơn vị vẫn kịp thời được bổ sung và giữ vững đội hình.

Đầu năm 1974, thành lập Lữ đoàn 4 với các Tiểu đoàn trực thuộc tân lập gồm: 3 Tiểu đoàn 12, 14 và 15. Đồng thời thành lập thêm 3 Tiểu đoàn biệt lập trực thuộc Bộ Tư lệnh Sư đoàn: Tiểu đoàn 16, 17 và 18.

Dù là một đơn vị đặc biệt, tổng trừ bị của QLVNCH[sửa | sửa mã nguồn]

Sư đoàn Nhẩy dù là một đơn vị tinh nhuệ và thiện chiến của Quân lực Việt Nam Việt Nam Cộng hòa, đặt dưới quyền điều động trực tiếp của Bộ Tổng Tham mưu. Quân nhân trong Sư đoàn từ binh sĩ đến sĩ quan đều là thành phần tình nguyện sau khi mãn khóa quân trường, tuy nhiên vẫn phải qua một quá trình tuyển chọn rất kỹ lưỡng mới được gia nhập vào binh chủng. Đặc biệt đa phần lực lượng là con em Công giáo, trong số đó cũng có khá nhiều người miền bắc di cư năm 1954. Được huấn luyện nhẩy dù và ôn tập tác chiến rất chu đáo, trang bị vũ khí tối tân.

Những trận chiến và biến cố lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi thành lập đến khi hoàn thiện, sư đoàn Dù liên tiếp đối đầu với những đơn vị giỏi của đối phương. Sư đoàn tham gia chiến tranh cục bộ, những trận chiến Mậu Thân, Việt Nam hóa chiến tranh với những thương vong cực lớn và cũng được chính đối phương đánh giá cao.

Năm 1971, Sư đoàn Nhẩy dù đã tham gia Chiến dịch Lam Sơn 719. Dù có không quân Mỹ yểm trợ, vẫn mắc bẫy đối phương và bị Sư đoàn 320 (F320A) QĐNDVN tiêu diệt mất Lữ đoàn 3, bắt sống Lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ. Quân Dù bị đánh thiệt hại rất nặng trong chiến dịch này.

Năm 1972, sau Mùa hè đỏ lửa Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng giữ chức vụ Sư đoàn trưởng. Đầu năm 1974 Lữ đoàn 4 Nhẩy Dù được thành lập, Trung tá Lê Minh Ngọc là Lữ đoàn trưởng. Ngày 20 tháng 4 năm 1975, Lữ đoàn phó là Trung tá Nguyễn Đình Ngọc lên thay và chỉ huy Lữ đoàn 4 phòng thủ Sài Gòn.

Năm 1974, Lữ đoàn 1 và 2 Nhẩy dù đã cùng với Sư đoàn 3 Bộ binh tái chiếm lại Thượng Đức, một tiền đồn quan trọng của Việt Nam Cộng Hòa đã bị F304 đánh chiếm trước đó.

  • Tái chiếm lần thứ nhất vào ngày 19-9-1974.
  • Tái chiếm lần thứ hai vào ngày 11-11-1974. Đến cuối năm, đơn vị Dù thất bại và rút ra ngoài gần hết quân, chỉ để lại 2 tiểu đoàn cầm cự lẻ tẻ.

Năm 1975, Ban Mê Thuột thất thủ, Sư đoàn 23 Bộ binh bị đánh tan ở Nông Trại, Phước An và sân bay Hòa Bình, phía đông Ban Mê Thuột. Lữ đoàn 3 Nhẩy dù đã được điều từ Vùng 1 Chiến thuật vào giữ đèo Phụng Hoàng ngăn đối phương phát triển xuống đồng bằng; Lữ 3 kháng cự một thời gian và bị đánh tan.

Cùng với việc Lữ đoàn 3 Nhẩy dù được gửi đến đèo Phụng Hoàng, Lữ đoàn 1 và 2 Nhẩy dù được điều về miền đông phòng thủ trước cửa ngõ Sài Gòn. Các đơn vị này đã tham gia trận đánh nổi tiếng bên cạnh Sư đoàn 18 Bộ binh, Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù tại Xuân Lộc, đánh trả Quân đoàn 4 gồm các Sư đoàn 341, 6, 7 QĐNDVN

Phần còn lại của lực lượng Dù đã về Sài Gòn khi Xuân Lộc thất thủ. Họ đã chiến đấu với Sư đoàn 325 và không cản được lữ đoàn xe tăng 203 đối phương tiến về Dinh Độc Lập. Khi tổng thống Minh đầu hàng, Dù cũng đầu hàng.

Đơn vị trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • * Từ Bộ chỉ huy Tổng hành dinh đến Bộ chỉ huy Pháo binh là những đơn vị yểm trợ
TT Đơn vị Chú thích TT Đơn vị Chú thích
1
Lữ đoàn 1
-Các Tiểu đoàn 1, 8, 9
-Đại đội 1 Trinh sát
10
Ban Quân nhạc
2
Lữ đoàn 2
-Các Tiểu đoàn 5, 7, 11
-Đại đội 2 Trinh sát
11
Tiểu đoàn Quân y
3
Lữ đoàn 3
-Các Tiểu đoàn 2, 3, 6
-Đại đội 3 Trinh sát
12
Tiểu đoàn Truyền tin
4
Lữ đoàn 4
-Các Tiểu đoàn 12, 14, 15
-Đại đội 4 Trinh sát
13
Tiểu đoàn Yểm trợ
Gồm các Đại đội:
-Chỉ huy & Công vụ
-Tài chính
-Vận tải
-Tiếp liệu
-Kỹ thuật
-Bảo trì
Và các Phân đội yểm trợ hành quân cho 4 Lữ đoàn
5
Lữ đoàn 5
(Đang hình thành)
-Các Tiểu đoàn 16, 17, 18
-(Tiểu đoàn 5 Pháo binh và Đại đội 5 Trinh sát đang hình thành)
14
Bộ chỉ huy
Trung tâm Huấn luyện
Sư đoàn
6
Bộ chỉ huy*
Tổng hành dinh
15
Tiểu đoàn Huấn luyện
Quân trường
Vương Mộng Hồng
7
Đại đội
Quân cảnh 204
16
Khối Bổ sung
Sư đoàn
8
Đại đội Thám báo
Dưới quyền điều động trực tiếp của Tư lệnh Sư đoàn
17
Bệnh viện
Đỗ Vinh
9
Biệt đội
Tác chiến Điện tử
18
Bộ chỉ huy
Pháo binh
Các Tiểu đoàn 1, 2, 3, 4 trang bị đại bác 105ly. Phối thuộc với 4 Lữ đoàn

Bộ Tư lệnh Sư đoàn & các Lữ đoàn tháng 4/1975[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chức danh Chỉ huy & Tham mưu sau cùng:
TT Cấp bậc Họ & Tên Chức vụ Chú thích
1
Chuẩn tướng
Lê Quang Lưỡng
Tư lệnh
2
Đại tá
Trương Vĩnh Phước
Thủ Đức K4
Tư lệnh phó
3
nt
Văn Bá Ninh
Tham mưu trưởng
Cấp bậc
Tiểu đoàn trưởng
4
Trung tá
Nguyễn Văn Đĩnh
Đà Lạt K15
Chỉ huy
Lữ đoàn 1
Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Ngô Tùng ChâuTiểu đoàn 1
Nguyễn Viết Thanh(ĐL K18) Tiểu đoàn 8
Lê Mạnh Đường Tiểu đoàn 9
5
Đại tá
Nguyễn Thu Lương*
Thủ Đức K4
Chỉ huy
Lữ đoàn 2
Thiếu tá Trung tá Thiếu tá Võ Trọng Em Tiểu đoàn 5
Nguyễn Lô(ĐL K18) Tiểu đoàn 7
Nguyễn Văn Thành Tiểu đoàn 11
6
nt
Trần Đăng Khôi
Đà Lạt K16
Chỉ huy
Lữ đoàn 3
Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Trần Công Hạnh(ĐL K20) Tiểu đoàn 2
Lã Quý Trang Tiểu đoàn 3
Trần Tấn Hòa(ĐL K20) Tiểu đoàn 6
7
nt
Lê Minh Ngọc
Đà Lạt K16
Chỉ huy
Lữ đoàn 4
Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Nguyễn Văn Nghiêm(ĐL K20) Tiểu đoàn 12
Nguyễn Đức Tâm Tiểu đoàn 14
Nguyễn Văn Phú Tiểu đoàn 15
8
Đại tá
Nguyễn Văn Tường
Thủ Đức K4
Chỉ huy trưởng
Pháo binh
Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Nguyễn Bá Trí Tiểu đoàn 1
Nguyễn Ngọc Triệu(TĐ K10) Tiểu đoàn 2
Nguyễn Văn Thông(Đồng Đế K1) Tiểu đoàn 3
Đặng Hữu Minh Tiểu đoàn 4
9
Lữ đoàn 5
(Đang hình thành)
Trung tá Thiếu tá Thiếu tá Phạm Kim Bằng(ĐL K16) Tiểu đoàn 16
Hồng Thu Tiểu đoàn 17
Lê Hữu Chí Tiểu đoàn 18

* Ngày 16 tháng 3/75 mặt trận Phan Rang thất thủ, Đại tá Nguyễn Thu Lương bị đối phương bắt làm tù binh. Trung tá Đào Thiện Tuyển thay thế chỉ huy Lữ đoàn 2 cho đến cuối tháng 4/75.

Chỉ huy Lữ đoàn & Đơn vị Yểm trợ qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • *Cấp bậc khi nhậm chức
TT Đơn vị Họ & Tên Cấp bậc* Tại chức Chú thích
Lữ đoàn 1
Đơn vị tác chiến
Năm 1961, thành lập với danh xưng ban đầu là Chiến đoàn 1, đến năm 1968 đổi tên thành Lữ đoàn 1
1
Dư Quốc Đống
Đà Lạt K5
Thiếu tá
1961-1964
2
Bùi Kim Kha
Đà Lạt
nt
1964-1966
Năm 1970 là Đại tá Tham mưu trưởng Sư đoàn Dù
3
Hồ Trung Hậu
Thủ Đức K4
nt
1966-1967
4
Lê Quang Lưỡng
Thủ Đức K4
nt
1967-1972
5
Lê Văn Ngọc
Thủ Đức
Trung tá
1972-1974
Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng sau cùng của Tỉnh Quảng Ngãi
6
Nguyễn Văn Đĩnh
Đà lạt K15
nt
1974-1975
Lữ đoàn 2
Đơn vị tác chiến
Thành lập Chiến đoàn và đổi tên thành Lữ đoàn cùng thời điểm với Lữ đoàn 1
1
Đỗ Kế Giai
Đà Lạt K5
Thiếu tá
1961
2
Hồ Tiêu
Đập Đá Huế K2
nt
1961-1963
Là Đại tá Tư lệnh sau cùng của Binh chủng Lực lượng Đặc biệt (giải tán năm 1970)
3
Đỗ Kế Giai
nt
1963-1964
4
Trương Quang Ân
Đà Lạt K7
nt
1964-1965
5
Ngô Xuân Nghị
Đà lạt
nt
1965-1966
Sau cùng là Đại tá Chánh Sở Công tác Nha Kỹ thuật Bộ Tổng tham mưu
6
Đào Văn Hùng
Đà Lạt
nt
1966-1968
Sau cùng là Trung tá Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Sư đoàn Dù
7
Trần Quốc Lịch
Thủ Đức K4p
Trung tá
1968-1972
8
Nguyễn Thu Lương
Thủ Đức K4
Đại tá
1972-1974
9
Lê Minh Ngọc
Đà Lạt K16
Trung tá
1974
10
Nguyễn Thu Lương
Đại tá
1974-1975
11
Đào Thiện Tuyển
Đà Lạt K14
Trung tá
3/1975
Ngày 16/3/1975, Đại tá Lương bị địch bắt tại mặt trận Phan Rang, Trung tá Tuyển được chỉ định thay thế làm Lữ trưởng đến 30/4/1975
Lữ đoàn 3
Đơn vị tác chiến
Năm 1966, thành lập với danh xưng ban đầu là Chiến đoàn 3, đổi tên thành Lữ đoàn cùng thời điểm với Lữ đoàn 1 và 2
1
Nguyễn Khoa Nam
Thủ Đức K3
Trung tá
1966-1970
2
Nguyễn Văn Thọ
Thủ Đức K4
nt
1970-1971
Bị địch bắt làm tù binh trong trận Hạ Lào Lam Sơn 719 năm 1971
3
Trương Vĩnh Phước
Thủ Đức K4
nt
1971-1972
4
Văn Bá Ninh
nt
1972-1974
5
Lê Văn Phát
Thủ Đức K4
nt
1974-1975
6
Trần Đăng Khôi
Đà Lạt K16
nt
1975
Lữ đoàn 4
(Tân lập)
Đơn vị tác chiến
7
Lê Minh Ngọc
nt
1974-1975
Pháo binh
Đơn vị Yểm trợ
Năm 1965, Lữ đoàn Dù được nâng cấp Sư đoàn đồng thời thành lập Tiểu đoàn Pháo binh (mỗi Lữ đoàn có 1 Pháo đội yểm trợ). Thiếu tá Huỳnh Long Phi được cử làm Tiểu đoàn trưởng. Đến năm 1968, thành lập thêm 2 Tiểu đoàn nữa đồng thời thành lập Bộ chỉ huy Pháo binh. Thiếu tá Phi vẫn là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Dù đầu tiên (đổi tên thành Tiểu đoàn 1 Pháo binh) kiêm Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn Dù.
1
Huỳnh Long Phi
Thủ Đức K4
Thiếu tá
1965-1971
Năm 1972, tử nạn trực thăng trong khi thi hạnh nhiệm vụ, được truy thăng Đại tá
2
Nguyễn Văn Tường
Thủ Đức K4
Trung tá
1971-1975
Cấp bậc sau cùng là Đại tá
Trợ chiến
Tiểu đoàn Yểm trợ
Đơn vị này, năm 1954 Binh chủng Nhảy dù của Quân đội Liên hiệp Pháp bàn giao cho Quân đội Quốc gia, đã cử 1 sĩ quan VN chỉ huy. Năm 1955 cơ cấu lại thành Tiểu đoàn Trợ chiến Nhảy dù. Năm 1968 đổi tên thành Tiểu đoàn Yểm trợ Nhảy dù
1
Trịnh Xuân Nghiêm
Đà Lạt K3
Đại úy
1954
Sau cùng là Đại tá Tham mưu trưởng Trường Chỉ huy & Tham mưu (từ năm 1972)
2
Nguyễn Thọ Lập
Đà Lạt K5
nt
1954-1956
Sau cùng là Đại tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 15, SĐ 9 BB
3
Nguyễn Thành Chuẩn
Đà Lạt K6
nt
1956-1960
Năm 1959, các đơn vị trực thuộc Tiểu đoàn Trợ chiến được chuyển trực thuộc Bộ Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn Trợ chiến trở thành Bộ chỉ huy Căn cứ (trại) Hoàng Hoa Thám, Đến năm 1965 trở thành Bộ chỉ huy Tổng hành dinh Sư đoàn Nhảy dù. Do đó Tiểu đoàn trưởng Trợ chiến kiêm Chỉ huy trưởng Trại Hoàng Hoa Thám và sau đó là Chỉ huy trưởng Tổng hành dinh Sư đoàn (Thời điểm này Tiểu đoàn Trợ chiến tạm thời giải tán). Đại úy Chuẩn sau cùng là Đại tá Chỉ huy trưởng Biệt động quân Quân khu 3 và mấy ngày cuối cùng nhận chức Tư lệnh Sư đoàn 101 Biệt động quân tân lập
4
Hồ Tiêu
Đập Đá Huế K2
nt
1960-
5
Nguyễn Đức Huy
Đà Lạt K10
Trung tá
1968
Bắt đầu từ ngày Tiểu đoàn Trợ chiến được tái lập và đổi tên thành Tiểu đoàn Yểm trợ. Sau cùng là Đại tá Trưởng phòng 4 Sư đoàn Dù
6
Tống Hồ Hàm
Đà Lạt K18
nt
1968-1970
7
Lê Đức Trang
Thiếu tá
1970-1971
Sau cùng là Trung tá
8
Nguyễn Ngọc Bắc
nt
1971-1973
Sau cùng là Trung tá thuộc phòng 4 Sư đoàn dù
9
Võ Văn Thu
nt
1973-1975

Tướng lãnh xuất thân từ binh chủng[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ & Tên Cấp bậc Thời gian phục vụ Chú thích
1
Nguyễn Khánh
Võ bị Viễn Đông K1
Đại tướng
1949-1952
Trung úy, Đại úy Đại đội trưởng Đại đội Biệt lập Dù, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Nhảy dù
2
Cao Văn Viên
Nước Ngọt Vũng Tàu
Tư lệnh thứ 3
nt
1960-1964
Trung tá, Đại tá, Thiếu tướng Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù
3
Đỗ Cao Trí
Nước Ngọt Vũng Tàu
Tư lệnh đầu tiên
nt
1950-1956
Trung úy Trung đội trưởng, Đại đội trưởng Đại đội Biệt lập Dù, Đại úy, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Dù (1950-1954), Thiếu tá, Trung tá, Đại tá tư lệnh Liên đoàn Nhảy dù (1954-1956)
4
Nguyễn Chánh Thi
Địa phương Nam Việt
Tư lệnh thứ 2
Trung tướng
1951-1960
Thiếu úy, Trung úy Đại đội trưởng đại đội biệt kích của Tiểu đoàn 1 Nhảy dù (1951-1954), Đại úy Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Dù (1955), Thiếu tá Tư lệnh phó Liên đoàn Dù (1955-1956), Thiếu tá, Trung tá, Đại tá Tư lệnh Liên đoàn Dù (1956-1960)
5
Dư Quốc Đống
Đà Lạt K5
Tư lệnh thứ 4
nt
1952-1972
Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng (1952-1960), Đai úy Tiểu đoàn trưởng (1960-1962), Thiếu tá Chiến đoàn trưởng (1962-1963), Trung tá Tư lệnh phó Lữ đoàn dù (1963-1964), Đai tá quyền Tư lệnh Lữ đoàn Dù (1964), Chuẩn tướng, Thiếu tướng, Trung tướng Tư lệnh Lữ đoàn, Sư đoàn Dù (1964-1972)
6
Nguyễn Văn Vỹ
Võ bị Tông
nt
1949-1950
Đại úy Đại đội trưởng Đại đội 3 Nhảy dù Đông Dương thuộc Tiểu đoàn 3 Biệt kích Nhảy dù, khi sát nhập qua Quân đội Quốc gia, chuyển sang bộ binh
7
Phan Trọng Chinh
Đà Lạt K5
nt
1952-1960
Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng Dù, Đại úy Tiểu đoàn trưởng đầu tiên Tiểu đoàn 3 Dù, Thiếu tá Tham mưu trưởng Liên đoàn Dù (Năm 1960, ngày 11/11 tham gia cuộc đảo chính do Đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu, bị xử tù cho đến sau cuộc đảo chính 1/11/1963 được phục hồi quân ngũ và chuyển qua bộ binh
8
Ngô Quang Trưởng
Thủ Đức K4
nt
1954-1966
Thiểu uý Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 5 Dù (1954-1961), Đại úy, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 (1961-1964), Trung tá Tham mưu trưởng Lữ đoàn Dù, Trung tá, Đại tá Tư lệnh phó Sư đoàn Dù (1964-1966)
9
Đoàn Văn Quảng
Võ bị Pháp
Thiếu tướng
1945-1953
Thiếu úy, Trung úy, Đại úy chỉ huy Trung đội, Đại đội trong đơn vị Dù, sau Chỉ huy trưởng Biệt động đội và thời gian sau chuyển qua Lực lượng Đặc biệt.
10
Phạm Văn Phú
Đà Lạt K8
nt
1953-1954
Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy, Đại úy Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 5 Dù. Năm 1954, bị Việt Minh bắt làm tù binh. Năm 1955 được thả, chuyến qua bộ binh, thời gian sau chuyến sang Lực lượng Đặc biệt
11
Trương Quang Ân
Đà Lạt K7
nt
1963-1965
Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng, Đại úy Trưởng ban 3 trong Tiểu đoàn 5 Dù, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Dù tân lập (1953-1962) Thiếu tá, Trung tá Tham mưu trưởng Lữ đoàn Dù, Trung tá Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 1 Dù (1962-1956). Sau là Đại tá, Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh. Năm 1968, tử nạn được truy thăng Thiếu tướng
12
Đỗ Kế Giai
Đà Lạt K5
nt
1952-1965
Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 3 Dù (1952-1955), Đại úy, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6, rồi Tiểu đoàn 5 Dù (1966-1962), Thiếu tá Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 2 Dù (1962-1965). Sau chuyển qua Bộ binh, Biệt động quân.
13
Nguyễn Khoa Nam
Thủ Đức K3
nt
1953-1970
Thiếu úy Trung đội trưởng trong các Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 3 Dù (1953-1955) Trung úy phục vụ Tiểu đoàn Trợ chiến, Phòng 3 Liên đoàn Dù, (1955-1959), Đại úy Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 5 Dù, Trưởng phòng 4 Lữ đoàn Dù, Tham mưu trưởng chiến đoàn 1 Dù, Thiếu tá Tiểu đoàn 5 Dù, Trung tá Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 3 Dù, Đại tá lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Dù (1969-1970)
14
Vũ Văn Giai
Đà Lạt K10
Chuẩn tướng
1954-1960
Thiếu úy Trung đội trưởng, Trưởng ban 2, Trung úy Đại đội trưởng trong Tiểu đoàn 5 Dù (1954-1960)
15
Hồ Trung Hậu
Thủ Đức K4
nt
1954-1972
Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng trong Tiểu đoàn 6 Dù (1954-1958). (Từ 1958-1963, tạm rời khỏi binh chủng, tới năm 1963 trở lại). Thiếu tá phụ tá cho Chỉ huy chiến đoàn 1 Dù, phụ tá cho Tham mưu trưởng Lữ đoàn Dù, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Dù, Trung tá Chiến đoàn trưởng chiến đoàn 1 Dù (1963-1968). Đại tá, Chuẩn tướng Tư lệnh phó Sư đoàn Dù (1968-1972)
16
Trần Quốc Lịch
Thủ Đức K4
nt
1954-1972
Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng trong Tiểu đoàn 3 Dù. Đại úy Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Dù. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Dù (1954-1968). Trung tá, Đại tá Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Dù (1968-1972)
17
Trần Đình Thọ
Đà Lạt K6
nt
1952-1953
Thiếu úy trung đội trưởng, Trung úy Đại đội phó trong Tiểu đoàn 3 Dù
18
Lê Văn Tư
Đà Lạt K5
nt
1952-1953
Thiếu úy Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 1 và 3 Dù
19
Lê Nguyên Vỹ
Đập Đá Huế K2
nt
1954-1955
Thiếu úy Trung đội trưởng trong Tiểu đoàn 6 Dù, sau đó chuyển qua bộ binh
20
Lê Quang Lưỡng
Thủ Đức K4
Tư lệnh sau cùng
nt
1954-1975
Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng, Đại úy Tiểu đoàn phó trong Tiểu đoàn 5 Dù (1954-1963). Đại úy, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Dù (1963-1966). Thiếu tá, Trung tá, Đại tá Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 1, rồi Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 1 Dù (1966-1972). Đại tá Tư lệnh phó, Chuẩn tướng (1972) Tư lệnh Sư đoàn Dù (1972-1975)

Tư lệnh Sư đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kể từ ngày thành lập đến sau cùng, trải qua 5 vị Tư lệnh
  • *Cấp bậc khi nhậm chức
TT Cấp bậc* Họ & Tên Tại chức Chú thích
1
Thiếu tá
Đỗ Cao Trí
Võ bị Viễn Đông K2
(Nước Ngọt Vũng Tàu)
10/1954-09/1956
Chỉ huy trưởng đầu tiên Liên đoàn. Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn III, năm 1971 tử nạn trực thăng khi đang bay thị sát chiến trường miền đông (bầu trời Tây Ninh). Được truy thăng Đại tướng
2
Trung tá
Nguyễn Chánh Thi
Địa Phương Nam Việt
09/1956-11/1960
Tư lệnh Lữ đoàn (1959). Cầm đầu cuộc đảo chính 11/11/1960, thất bại sang Campuchia tỵ nạn. Đến cuộc đảo chính 1/11/1963 thành công, được trở về tiếp tục phục vụ quân đội. Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn I. Liên quan đến vụ biến động miền trung năm 1966, giải ngũ và lưu vong tại hải ngoại cùng năm
3
nt
Cao Văn Viên
Địa Phương Nam Việt
11/1960-09/1964
Sau đảo chính 1/11/1963 bị ngưng chức Tư lệnh Lữ đoàn Dù 1 tuần. Sau cùng là Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu. Ngày 27/4/1975 giải ngũ
4
Đại tá
Dư Quốc Đống
Đà Lạt K5
09/1964-11/1972
Tư lệnh Sư đoàn (1965). Sau cùng là Trung tướng phụ tá Tổng tham mưu trưởng
5
Chuẩn tướng
Lê Quang Lưỡng
Thủ Đức K4
11/1972-04/1975
Tư lệnh sau cùng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]