Phan Huy Quát

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Phan Huy Quát
Phan Huy Quat.jpg
Phan Huy Quát tại Paris
Chức vụ
Nhiệm kỳ16 tháng 2 năm 1965 – 11 tháng 6 năm 1965
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000115.000000115 ngày
Quốc trưởngPhan Khắc Sửu
Tiền nhiệmNguyễn Xuân Oánh (Quyền)
Kế nhiệmNguyễn Cao Kỳ (Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương)
Vị trí Việt Nam Cộng hòa
Phó Thủ tướngNguyễn Văn Thiệu
Flag of South Vietnam.svg
Tổng trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa
Nhiệm kỳ8 tháng 2 năm 1964 – 1964
Tiền nhiệmTrần Văn Đỗ
Kế nhiệmTrần Văn Lắm
Flag of South Vietnam.svg
Tổng trưởng phụ trách công cuộc Dân chủ hóa Quốc gia, Quốc gia Việt Nam
Nhiệm kỳ11 tháng 1 năm 1954 – 16 tháng 6 năm 1954
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000156.000000156 ngày
Thủ tướngBửu Lộc
Flag of South Vietnam.svg
Tổng trưởng Quốc phòng Quốc gia Việt Nam
Nhiệm kỳ8 tháng 1 năm 1953 – 17 tháng 12 năm 1953
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000343.000000343 ngày
Thủ tướngNguyễn Văn Tâm
Tiền nhiệmNghiêm Văn Tri
Kế nhiệmNguyễn Đắc Khê
Flag of South Vietnam.svg
Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng Quốc gia Việt Nam
Nhiệm kỳ21 tháng 1 năm 1950 – 21 tháng 2 năm 1951
&0000000000000001.0000001 năm, &0000000000000031.00000031 ngày
Thủ tướngNguyễn Phan Long
Trần Văn Hữu
Tiền nhiệmTrần Văn Hữu
Kế nhiệmNguyễn Khắc Vệ (Phó Thủ tướng)
Trần Văn Hữu (Tổng trưởng Quốc phòng)
Flag of South Vietnam.svg
Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục, Quốc gia Việt Nam
Nhiệm kỳ14 tháng 7 năm 1949 – 21 tháng 1 năm 1950
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000191.000000191 ngày
Thủ tướngBảo Đại
Tiền nhiệmNguyễn Khoa Toàn (Tổng trưởng Bộ Lễ và Giáo dục)
Kế nhiệmkhuyết
Thông tin chung
Quốc tịch Việt Nam Cộng hòa
Sinh12 tháng 6 năm 1908
Thạch Châu, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh, Trung Kỳ
Mất27 tháng 4 năm 1979
Nhà lao Chí Hòa, Quận 10, Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nơi ởSài Gòn, Việt Nam Cộng hòa
Nghề nghiệpBác sĩ, Ký giả, chính khách
Dân tộcKinh
Tôn giáokhông
Đảng pháiFlag of VNQDD.svg Đại Việt Quốc dân Đảng
VợĐặng Thị Lý
Gia quyếnPhan Huy Lê (1934–2018, em cùng cha khác mẹ)
ChaPhan Huy Tùng (1878-1939)
Con cáiPhan Huy Kiểm (trưởng nam)
Phan Huy Bách (thứ nam)
Phan Huy Anh (út nam)
Phan Mạnh Giao (trưởng nữ)
Phan Mỹ Chương (thứ nữ)
Phan Thị Lâm Hương (tam nữ)
Học vấnTiến sĩ Y khoa

Phan Huy Quát[1] (1908 - 1979) tự Châu Cử, quê quán Hà Tĩnh, là Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa từ ngày 16 tháng 2 năm 1965 đến ngày 5 tháng 6 năm 1965. Phan Huy Quát đồng thời là thành viên Đại Việt Quốc dân Đảng và Tổng trưởng Quốc phòng Quốc gia Việt Nam. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 ông tổ chức vượt biên nhưng bị phát hiện, bị tuyên án tù và mất trong nhà lao Chí Hòa ngày 27 tháng 4 năm 1979 do bệnh viêm gan.

Ông có bằng Tiến sĩ ngành Y khoa.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Phan Huy Quát, sinh năm 1908 tại Thạch Châu, Thạch Hà, Hà Tĩnh trong gia đình dòng họ Phan Huy giàu truyền thống khoa bảng ở xứ Nghệ, là con trai trưởng của Tiến sĩ Phan Huy Tùng-Lang trung Bộ hình triều Nguyễn, anh trai cùng cha khác mẹ của nhà sử học Việt Nam Phan Huy Lê.

Tham gia chính phủ Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Quốc gia Việt Nam được thành lập, ông làm Tổng trưởng các bộ Giáo dục (1949), Quốc phòng (1950 - 1954) trong các chính phủ Quốc gia Việt Nam thời Quốc trưởng Bảo Đại. Sau đó ông lui về hành nghề bác sĩ tại Sài Gòn.

Đảm nhiệm chức Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cuộc Đảo chánh 1963, tướng Dương Văn Minh rồi Nguyễn Khánh lên nắm quyền trong thời kỳ quân quản của Việt Nam Cộng hòa nhưng tình hình vẫn nhiều xáo trộn. Vì áp lực của Hội đồng Quân lực, tướng Nguyễn Khánh phải rút khỏi chính trường và chính phủ dân sự được thành lập do ông đứng đầu với cương vị Thủ tướng. Phó thủ tướng là Nguyễn Văn Thiệu. Nội các gồm có Bộ trưởng Thông tin Linh Quang Viên, Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Tiến Hỷ, Bộ trưởng Phủ thủ tướng Bùi Diễm, Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Đỗ.[2]

Ngày 8/3/1965, Mỹ chính thức đổ quân viễn chinh lên Đà Nẵng. Phía Mỹ đã không thông báo cho Việt Nam Cộng hòa về thời gian và địa điểm đổ quân, mặc dù một bản tin của Bộ Quốc phòng Mỹ 2 ngày trước tuyên bố rằng Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam là theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Sáng 8/3, một sĩ quan Mỹ đến gặp Phan Huy Quát, yêu cầu soạn thảo một thông cáo chung bằng hai thứ tiếng Anh-Việt để thông báo rộng rãi, lúc đó ông Quát mới biết quân Mỹ đã đổ bộ vào Việt Nam. Báo Đà Nẵng, cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đà Nẵng, cho rằng điều đó cho thấy Mỹ rất chi là coi thường và mà không hề đi tin tưởng cái chính thể quốc gia Việt Nam Cộng hòa.[3] Khi biết tin thì quân Mỹ đã đổ bộ rồi, Phan Huy Quát phải hợp thức hóa việc này bằng cách gọi Tổng trưởng Phủ Thủ tướng là Bùi Diễm cùng với một viên chức Mỹ là Melvin Manfull soạn ngay thông cáo chào mừng quân Mỹ, với chỉ đạo: "Viết càng ngắn càng tốt. Chỉ mô tả sự kiện rồi khẳng định rằng chúng ta đã đồng ý mà thôi".[4] Trong những tháng sau đó, Mỹ đổ bộ hàng chục vạn quân, lính Mỹ hiện diện ở khắp miền Nam.

Ngày 25 tháng 5 năm 1965 ông quyết định cải tổ Nội các,[5] thay thế một số Tổng trưởng nhưng phe giáo dân Thiên Chúa giáo lại phản đối. Quốc trưởng Phan Khắc Sửu cũng không đồng tình nên không phê chuẩn.[6] Tình hình bế tắc kéo dài sang tháng 6 vì bất đồng giữa Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát không giải quyết được; chính phủ hoàn toàn bị tê liệt.

Ngày 11 tháng 6, ông triệu tập hội đồng chính phủ để giải quyết nhưng không đạt được thỏa hiệp nào nên ông ra lệnh giải tán chính phủ và từ chức Thủ tướng. Các tướng lãnh tiếp thu chính quyền và đặt hai cơ quan: Ủy ban Hành pháp Trung ươngỦy ban lãnh đạo Quốc gia. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch Ủy ban lãnh đạo Quốc gia với cương vị quốc trưởng trong khi Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương với cương vị Thủ tướng cho tới khi thành lập nền Đệ Nhị Cộng hòa Việt Nam vào năm 1967.

Bị bắt và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông và gia đình bị kẹt lại ở Việt Nam do không kịp lên máy bay Mỹ di tản. Ông không ra trình diện theo lệnh của chính quyền mới và sống trốn tránh trong một thời gian ngắn, sau đó tìm cách tổ chức vượt biên. Trên đường vượt biên, ông bị phát hiện, bắt giữ cùng con trai út là Phan Huy Anh, bị tuyên án tù rồi mất tại nhà lao Chí Hòa[7] vì bệnh viêm gan vào ngày 27 tháng 4 năm 1979.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]