Thôn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thôn là tổ chức dân cư cấp cơ sở tại các vùng nông thôn Việt Nam, Trung QuốcĐài Loan.

Thônâm Hán Việt của từ tiếng Hoa 村 (bính âm: cūn), được du nhập vào Việt Nam theo trào lưu Hán hóa và Hán học trước đây. Tại nhiều vùng ở Bắc Bộ không có phân biệt "thôn" - "làng": khi "nói Nôm" thì dùng ví dụ "làng Gừng", "thôn Gừng" (không dùng "Gừng thôn"), còn trong văn tự Hán Việt (gọi là "nói Chữ", ví dụ trong bài cúng bằng văn Hán Việt) thì dùng "Khương thôn". Tuy nhiên cũng có vùng có quan niệm và sử dụng khác nhau giữa "thôn" và "làng", nêu ở mục dưới.

Trong phân cấp hành chính Việt Nam hiện nay thì thôn không phải là một đơn vị hành chính nhà nước. Thôn là cấp cơ sở không pháp nhân dưới cấp xã để quản lý dân cư ở vùng sử dụng từ này, và cấp tương đương là khu dân cư (ở thành phố)/làng/bản/buôn/sóc tùy theo vùng.

Tại Trung Quốc theo "phân cấp hành chính Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" thì trong hệ 5 cấp, cấp thứ 5 ở vùng nông thôn thì gọi là thôn. Thôn không phải là cấp chính quyền chính thức mà là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư.

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Thôn là một hình thức tổ chức xã hội quan trọng nhất của nông thôn người Việt (Kinh). Miền nam Việt Nam các tỉnh từ Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu trở xuống phía nam gọi là ấp. Tuy nhiên, có một số xã ở tỉnh Bình Phước và Bà Rịa - Vũng Tàu sử dụng "thôn" thay cho "ấp". [cần dẫn nguồn]

Thôn bao gồm một số xóm. Có ý kiến cho thôn là làng; có ý kiến cho thôn là một phần của làng, ví dụ như ở xã Trường Yên, Hoa Lư gồm 7 làng với 16 thôn. 7 làng ở Trường Yên gồm: Yên Trung, Yên Thượng, Yên Thành, Yên Hạ, Yên Trạch, Chi Phong, Lạc Hối. 16 thôn ở Trường Yên gồm: thôn Đông, thôn Đoài, thôn Nam, thôn Bắc, thôn Trung, thôn Tam Kỳ, thôn Trường An, thôn Chi Phong, thôn Tự An, thôn Trường Sơn, thôn Trường Thịnh, thôn Trường Xuân, thôn Tân Kim, thôn Vàng Ngọc, thôn Yên Trạch, thôn Đông Thành. Làng Yên Thành gồm 4 thôn Đông, Đoài, Nam, Bắc trong khi làng Chi Phong chính là thôn Chi Phong.[cần dẫn nguồn]

Từ thế kỉ 15 trở về sau, thông thường vài thôn hợp thành một xã, đôi khi thôn lớn là xã. Cư dân trong thôn thường có hai mối quan hệ: quan hệ láng giềng và quan hệ họ hàng. Thôn thường có hương ước, tín ngưỡng, thờ thành hoàngđình. Hiện nay trong hệ thống hành chính mới của Việt Nam, đơn vị cấp cuối cùng là . Những làng họp lại thành xã đều được gọi là thôn. Nhà nước Việt Nam ban hành trong phạm vi toàn quốc quy chế thôn, xem đó là điểm tụ cư dưới xã, có tính chất tự quản. Cư dân bầu ra trưởng thôn và một bộ phận giúp việc để điều hành công việc của thôn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]