Bộ Công an (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bộ Công an Việt Nam
Chính phủ Việt Nam
Vietnam People's Public Security insignia.png
Huy hiệu CAND Việt Nam


Bộ trưởng Tô Lâm.jpg

Đương nhiệm
Tô Lâm
từ 9 tháng 4 năm 2016


Bổ nhiệm bởi Quốc hội Việt Nam
Thành lập 19 tháng 8 năm 1945 (&0000000000000073.00000073 năm, &0000000000000152.000000152 ngày)
Thứ trưởng

Lê Quý Vương
Bùi Văn Nam
Nguyễn Văn Thành

Nguyễn Văn Sơn
Địa chỉ Số 47 đường Phạm Văn Đồng, quận Cầu Giấy, Hà Nội
Website mps.gov.vn
Trụ sở Bộ Công An trên đường Phạm Văn Đồng được xây dựng theo kiến trúc hiện đại
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Emblem of Vietnam.svg

Chính trị và chính phủ
Việt Nam


Các nước khác

Bộ Công an trực thuộc Chính phủ Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an ninh trật tự, an toàn xã hội; phản gián; điều tra phòng chống tội phạm; phòng cháy chữa cháy và cứu hộ; thi hành án hình sự, thi hành án không phải phạt tù, tạm giữ, tạm giam; bảo vệ, hỗ trợ tư pháp; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Bộ Công an là cơ quan quản lý Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam. Bộ Công an nhận được nhiều danh hiệu trong đó có Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân,[1] 13 Huân chương Sao vàng và 88 Huân chương Hồ Chí Minh. Hiện thời (2018) bộ có 205 tướng lĩnh.[2].

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ tháng 8 năm 1945, lực lượng Công an đã được thành lập chưa có tên gọi chung: ở Bắc Bộ có tên là Sở Liêm phóng, ở Trung Bộ là Sở trinh sát và ở Nam Bộ là Quốc gia tự vệ cuộc. Ngày 19 tháng 8 năm 1945 được coi là ngày thành lập ngành Công an Việt Nam.[3]

Theo Sắc lệnh số 23/SL ngày 21 tháng 2 năm 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cơ quan này được hợp nhất dưới tên gọi Việt Nam Công an vụ, đặt dưới quyền quản lý của Bộ Nội vụ.

Ngày 18 tháng 4 năm 1946, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 121-NV/NĐ về tổ chức Việt Nam Công an vụ có 3 cấp:[4]

  • Cấp trung ương gọi là Nha Công an Trung ương[4]
  • Cấp kỳ có tên gọi là Sở Công an kỳ[4]
  • Cấp tỉnh có tên gọi là Ty Công an tỉnh, thành phố[4]

Giám đốc đầu tiên của Việt Nam Công an vụ là Nguyễn Dương (từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 7 tháng 6 năm 1946). Sau đó Phó Giám đốc Việt Nam Công an vụ Lê Giản lên thay.[4]

Trong kháng chiến chống Pháp, Nha Công an Trung ương đóng tại thung lũng Lũng Cò, thôn Đồng Đon, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Tại đây có các cơ quan trực thuộc như Ty tình báo, Ty trật tự tư pháp, Ty chính trị. Giám đốc Nha Công an đầu tiên là Lê Giản. Đến tháng 8 năm 1952, Trần Quốc Hoàn thay Lê Giản làm Giám đốc Nha Công an.

Ngày 16 tháng 2 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141-SL đổi Nha công an Trung ương thành Thứ Bộ Công an trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Trần Quốc Hoàn ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam được cử giữ chức Thứ trưởng Thứ Bộ Công an. Thứ Bộ Công an có nhiệm vụ chống gián điệp, phản động ở trong nước để bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân, bảo vệ quân đội nhân dân, bảo vệ kinh tế quốc dân; bảo vệ biên giới, chống đặc vụ và gián điệp quốc tế; Bài trừ lưu manh trộm cướp, bài trừ các tệ nạn xã hội và giữ trật tự an ninh trong nhân dân; Quản trị các trại giam, giáo dục cải tạo phạm nhân. Thứ Bộ Công an gồm có: Văn phòng Thứ Bộ, Vụ Chấp pháp, Phòng Nhân sự, Cục cảnh vệ, Vụ Bảo vệ chính trị, Trường Công an, Vụ trị an hành chính.[5]

Cuộc họp Hội đồng Chính phủ từ ngày 27-29 tháng 8 năm 1953, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã quyết định đổi tên Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an. Trần Quốc Hoàn được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Công an.

Quá trình phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1959, các lực lượng biên phòng đổi thành lực lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là lực lượng Biên phòng) trực thuộc quyền quản lý của Bộ Công an.

Ngày 28 tháng 7 năm 1956, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 982/TTg về việc thành lập Cục Cảnh sát nhân dân thuộc Bộ Công an để thống nhất việc xây dựng, quản lý, huấn luyện, giáo dục các loại cảnh sát nhân dân trong toàn quốc về nghiệp vụ, chính trị, quân sự, văn hoá. Cục trưởng đầu tiên là Thượng tá Lê Hữu Qua[6]

Ngày 20 tháng 7 năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh 34-LCT công bố pháp lệnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn và pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc của sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân. Để tăng cường kiện toàn bộ máy lực lượng Công an, đồng thời để đáp ứng tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.[7]

Ngày 1 tháng 8 năm 1975, kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa X đã quyết định hợp nhất Bộ Công an và Bộ Nội vụ thành một bộ mới lấy tên là Bộ Nội vụ.

Cuối năm 1979, lực lượng Công an nhân dân vũ trang đổi tên là Bộ đội Biên phòng và được chuyển về trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Đến năm 1988, Bộ đội Biên phòng lại chuyển sang trực thuộc Bộ Nội vụ, đến cuối năm 1995 thì lại chuyển về Bộ Quốc phòng.

Ngày 7 tháng 5 năm 1998, Quốc hội ra Nghị quyết số 13/1998/NQ-QH10, theo đó Bộ Nội vụ đổi lại tên thành Bộ Công an.[8]

Ngày 9 tháng 6 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 37/1998/NĐ-CP, Quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an.[9]

Ngày 5 tháng 8 năm 2002, Quốc hội ra Nghị quyết số 02/2002/QH11 về việc quy định danh sách các bộ và cơ quan ngang bộ của Chính phủ. Theo đó, Bộ Nội vụ mới được thành lập trên cơ sở đổi tên từ Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ và tồn tại song song với Bộ Công an.[10]

Ngày 14 tháng 11 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 136/2003/NĐ-CP, Quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an[11]

Ngày 15 tháng 9 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 77/2009/NĐ-CP, Quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Theo đó, 6 Tổng cục hiện tại của Bộ Công an (An ninh nhân dân, Cảnh sát nhân dân, Xây dựng Lực lượng, Hậu cần, Tình báo, Kỹ thuật) được tách, sát nhập và đổi tên thành 8 Tổng cục đó là (An ninh 1, An ninh 2, Xây dựng Lực lượng, Hậu cần-Kỹ thuật, Tình báo, Cảnh sát Phòng-chống Tội phạm, Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp).

Ngày 9 tháng 12 năm 2013, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Quy định số 216-QĐ/TW về thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên ở Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Bộ Công an[12]

Ngày 17 tháng 11 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 106/2014/NĐ-CP, Quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an và có hiệu lực từ 01/01/2015. Theo đó, 8 Tổng cục (An ninh 1, An ninh 2, Xây dựng Lực lượng, Hậu cần Kỹ thuật, Tình báo, Cảnh sát Phòng chống tội phạm, Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội, Cảnh sát Thi hành án và hỗ trợ tư pháp) được sát nhập lại thành 6 Tổng cục (An ninh, Chính trị, Hậu cần-Kỹ thuật, Tình báo, Cảnh sát và Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp). Cũng theo đó, Tổng cục Xây dựng Lực lượng được đổi tên thành Tổng cục Chính trị Công an nhân dân.[13][14][15][16][17]

Cải cách tháng 8 năm 2018[sửa | sửa mã nguồn]

Trước ngày 6 tháng 8 năm 2018, Bộ Công an gồm có 6 Tổng cục là Tổng cục An ninh (Tổng cục I), Tổng cục Cảnh sát (Tổng cục II), Tổng cục Chính trị (Tổng cục III), Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật (Tổng cục IV), Tổng cục Tình báo (Tổng cục V), Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp (Tổng cục VIII). Các Tổng cục VI (Tổng cục Cảnh sát Phòng, chống Tội phạm) và Tổng cục VII (Tổng cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về trật tự an toàn xã hội) đã sáp nhập vào Tổng cục Cảnh sát.

Ngày 6 tháng 8 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Nghị định 01 có hiệu lực cùng ngày quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, theo đó Bộ Công an không còn cấp Tổng cục.[18]

Bộ máy Bộ Công an giảm 6 tổng cục và gần 60 đơn vị cấp Cục, 300 đơn vị cấp Phòng.[19] Bộ máy công an địa phương giảm hơn 500 đơn vị cấp phòng và 1000 đơn vị cấp Đội.[20] Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy của 20 tỉnh thành gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu được sát nhập vào Công an tỉnh, thành phố tương ứng.[21] Cục Cảnh sát điều tra về tội phạm kinh tế, tham nhũng sáp nhập với Cục Cảnh sát điều tra tội phạm buôn lậu thành Cục Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế, tham nhũng, buôn lậu. Cục An ninh mạng trực thuôc Bô trưởng Bô Công an và Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Tổng cục cảnh sát sáp nhập thành Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trực thuộc Bộ Công an Việt Nam. Thiếu tướng Nguyễn Minh Chính được bổ nhiệm giữ chức vụ Cục trưởng Cục này.[22][23] Cục An ninh Thông tin truyền thông sáp nhập vào Cục An ninh chính trị nội bộ.[24]

Theo Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 6 tháng 8 năm 2018, Bộ Công an gồm có 48 đơn vị cấp cục trực thuộc sau đây:[25][26]

  1. Văn phòng Bộ Công an
  2. Cục Đối ngoại
  3. Cục Pháp chế và Cải cách Hành chính, Tư pháp
  4. Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử, Bộ Công an
  5. Cục Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc
  6. Cục Tổ chức Cán bộ
  7. Cục Đào tạo
  8. Cục Công tác Đảng và công tác Chính trị
  9. Cục Truyền thông Công an nhân dân
  10. Cục Kế hoạch tài chính
  11. Thanh tra Bộ Công an
  12. Cục Quản lý Xuất nhập cảnh
  13. Cục An ninh điều tra
  14. Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao
  15. Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra
  16. Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội
  17. Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu
  18. Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy
  19. Cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về Trật tự xã hội
  20. Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ
  21. Cục Cảnh sát giao thông
  22. Viện Khoa học Hình sự
  23. Cục Cảnh sát Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng
  24. Cục Cảnh sát quản lý giam giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tại cộng đồng
  25. Bộ Tư lệnh Cảnh vệ
  26. Bộ Tư lệnh Cảnh sát Cơ động
  27. Cục Công nghệ thông tin
  28. Cục Y tế
  29. Cục Hậu cần
  30. Cục Công nghiệp an ninh (H08)[26]
  31. Cục An ninh kinh tế (A04)
  32. Cục Viễn thông và Cơ yếu[27]
  33. Viện Khoa học và công nghệ[28]
  34. Cục Quản lý xây dựng và doanh trại (H02)[29]
  35. Cục trang bị và kho vận (H03)[29]
  36. Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C05)[30]
  37. Cục An ninh chính trị nội bộ

và một số đơn vị nghiệp vụ khác.

Lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 09/04/2016, tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIII, Thượng tướng Tô Lâm được Quốc hội tín nhiệm bầu giữ chức Bộ trưởng Bộ Công an. Ngoài ra, lãnh đạo Bộ Công an hiện nay còn có 4 Thứ trưởng.[31]

Bộ trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Các Thứ trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Cựu lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Khối Cơ quan trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 6 tháng 8 năm 2018, tổ chức bộ máy của Bộ Công an có các đơn vị trực thuộc sau:[25]

  • Cục An ninh nội địa
  • Cục An ninh chính trị, nội bộ
  • Cục An ninh kinh tế
  • Cục Kỹ thuật nghiệp vụ
  • Cục Ngoại tuyến
  • Cục Hồ sơ nghiệp vụ
  • Cục Quản lý xây dựng và doanh trại
  • Cục trang bị và kho vận
  • Cục Viễn thông và Cơ yếu
  • Cục Công nghiệp an ninh
  • Viện Khoa học và Công nghệ

Bộ Tư lệnh trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Công an Tỉnh, Thành phố trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

STT HỌ & TÊN TỈNH, THÀNH PHỐ
01 Thiếu tướng Đoàn Duy Khương (1960) Thành phố Hà Nội
02 Trung tướng Lê Đông Phong (1960) Thành phố Hồ Chí Minh
03 Thiếu tướng Đỗ Hữu Ca (1958) Thành phố Hải Phòng
04 Thiếu tướng Vũ Xuân Viên (1964) Thành phố Đà Nẵng
05 Đại tá Nguyễn Văn Thuận (1965) Thành phố Cần Thơ
06 Thiếu tướng Lê Văn Bảy (1959) Lai Châu
07 Đại tá Đinh Tiến Quân (1960) Lào Cai
08 Đại tá Nguyễn Trung Thực Lạng Sơn
09 Đại tá, Tiến sĩ Dương Văn Tính (1967) Bắc Kạn
10 Thiếu tướng Tô Ân Xô Bắc Giang
11 Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Toàn Cao Bằng
12 Uỷ viên  Uỷ ban QP-AN Quốc hội Đại tá, Thạc sĩ Hầu Văn Lý (1967) Hà Giang
13 Đại tá Nguyễn Hồng Sâm Tuyên Quang
14 Đại tá Phạm Trường Giang (1968) Phú Thọ
15 Thiếu tướng Nguyễn Như Tuấn Thái Nguyên
16 Thiếu tướng Đặng Trần Chiêu (1960) Yên Bái
17 Đại tá Trần Anh Tuấn Sơn La
18 Uỷ viên Ủy ban Về các VĐXH của Quốc hội Thiếu tướng, Thạc sĩ Sùng A Hồng (1962) Điện Biên
19 Đại tá Phạm Hồng Tuyến Hòa Bình
20 Đại tá Vũ Thanh Chương Hải Dương
21 Đại tá Đinh Hoàng Dũng Ninh Bình
22 Thiếu tướng Nguyễn Chi Lăng Vĩnh Phúc
23 Đại tá Đỗ Đình Hào Hưng Yên
24 Đại tá Nguyễn Văn Trung Hà Nam
25 Đại tá Nguyễn Văn Long Bắc Ninh
26 Đại tá Đỗ Văn Lực Quảng Ninh
27 Đại tá Nguyễn Văn Minh Thái Bình
28 Thiếu tướng Đặng Văn Sinh Nam Định
29 Thiếu tướng Nguyễn Hải Trung (1968) Thanh Hóa
30 Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Cầu (1962) Nghệ An
31 Đại tá Lê Văn Sao (1967) Hà Tĩnh
32 Thiếu tướng Từ Hồng Sơn (1959) Quảng Bình
33 Đại tá Trần Đức Việt Quảng Trị
34 Đại tá Nguyễn Quốc Đoàn (1975) Thừa Thiên – Huế
35 Đại tá Nguyễn Viết Lợi Quảng Nam
36 Đại tá Nguyễn Thanh Trang Quảng Ngãi
37 Thiếu tướng Nguyễn Bá Nhiên (1961) Bình Định
38 Thiếu tướng Phan Văn Thanh (1960) Phú Yên
39 Đại tá Nguyễn Khắc Cường Khánh Hòa
40 Đại tá Phạm Huyền Ngọc (1962) Ninh Thuận
41 Đại tá Trần Văn Toản (1967) Bình Thuận
42 Đại tá Vũ Văn Lâu Gia Lai
43 Đại tá Nguyễn Công Văn (1976) Kon Tum
44 Đại tá Vũ Hồng Văn (1976) Đắk Lắk
45 Đại tá Lê Văn Tuyến Đắk Nông
46 Thiếu tướng Bùi Văn Sơn (1959) Lâm Đồng
47 Đại tá Huỳnh Tiến Mạnh (1965) Đồng Nai
48 Đại tá Trần Thắng Phúc (1962) Bình Phước
49 Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thao (1963) Bình Dương
50 Đại tá Nguyễn Tri Phương Tây Ninh
51 Đại tá Bùi Văn Thảo (1963) Bà Rịa – Vũng Tàu
52 Thiếu tướng Phan Chí Thanh (1959) Long An
53 Thiếu tướng Nguyễn Văn Hoàng Bến Tre
54 Thiếu tướng, Thạc sĩ Nguyễn Minh Thuấn (1959) Đồng Tháp
55 Đại tá Nguyễn Văn Hiểu (1964) Vĩnh Long
56 Đại tá Nguyễn Hữu Trí (1959) Tiền Giang
57 Đại tá Phan Hoàng Lắm (1961) Hậu Giang
58 Thiếu tướng Bùi Bé Tư (1960) An Giang
59 Thiếu tướng Bùi Tuyết Minh (1962) Kiên Giang
60 Đại tá Lê Văn Việt (1960) Trà Vinh
61 Đại tá Lê Minh Quang Sóc Trăng
62 Đại tá, Tiến sĩ Lê Tấn Tới (1969) Bạc Liêu
63 Đại tá Phạm Thành Sỹ (1964) Cà Mau

Học viện, Nhà trường Công an[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh luận về con số tướng lĩnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tính tới giữa năm 2018 bộ Công an có 205 tướng lĩnh.[2]

Tại Quốc hội trong phiên thảo luận về dự án Luật công an nhân dân sửa đổi sáng 14-6, có tranh luận về con số tướng lãnh ngành Công an.

  • Đại biểu Nguyễn Tạo đại diện Lâm Đồng cho biết thời gian qua người dân có nhiều băn khoăn về cả thời gian lên tướng và số lượng cấp tướng: "Hiện nay việc phong hàm lên nhanh, chất lượng tướng lĩnh cũng gây tranh cãi, thậm chí có tướng lĩnh vi phạm pháp luật như đã xảy ra ở một vài vụ việc gần đây".
  • Đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh (Khánh Hoà) nói rằng tình hình an ninh trật tự thời bình không quá phức tạp, trong khi kinh tế đất nước đang khó khăn mà "tướng lĩnh hơi bị nhiều".

Vấn đề Công an xã[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm chiều 7-6-2018 cho biết Công an xã đang được duy trì thì từ trước đến nay về bản chất không phải là công an, họ là lực lượng không chính quy. Lực lượng này không có quân hàm, không phải là sĩ quan, có trang phục riêng để phân biệt công an xã với công an chính quy do Bộ Công an quản lý. Đang có dự đưa công an huyện từ 3-5 người về xã hoạt động. Số công an xã mà hiện không thể vào được chính quy sẽ được tổ chức lại như hình thức của lực lượng dân phòng phường.[32]

Các Tổ chức Quốc tế tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế Interpol (tiếng Anh: International Criminal Police Organization)
  • Hiệp hội Cảnh sát các Quốc gia Đông Nam Á (Aseanapol)
  • Hiệp hội Học viện cảnh sát quốc tế (INTERPA)
  • Hội nghị các Bộ trưởng Nội vụ các nước ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC)
  • Hội nghị những người đứng đầu Cơ quan An ninh Nội địa các nước ASEAN (MACOH)
  • Hội nghị Phòng chống ma túy Quốc tế (tiếng Anh: "International Drug Enforcement Conference" hay "IDEC")

Quan điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Phát biểu tại Hội nghị Công An Toàn quốc lần thứ 72, lãnh đạo Đảng Cộng sản, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vào ngày 26/12/2016 chỉ đạo công an phải "là lực lượng tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, tuyệt đối kiên định mục tiêu, lý tưởng, con đường xã hội chủ nghĩa...Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân phải là những người hết lòng trung thành với Đảng, chỉ biết 'còn Đảng, còn mình'." [33]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Quá trình phát triển Bộ Công An”. 
  2. ^ a ă “Đại biểu tranh luận 'thời bình mà phong nhiều tướng tá thế?'. 
  3. ^ “Quá trình trưởng thành của lực lượng CAND Việt Nam qua những dấu mốc lịch sử”. 
  4. ^ a ă â b c “Nghị định 121-NV/NĐ 18/4/1946”. 
  5. ^ “Sắc lệnh 141/SL ngày 16/2/1953”. 
  6. ^ “Thành lập Cục Cảnh sát nhân dân”. 
  7. ^ “Pháp lệnh 34/LCT ngày 16/7/1962”. 
  8. ^ “Nghị quyết đổi tên Bộ Nội vụ thành Bộ Công an”. 
  9. ^ “QĐ ban hành quy chế dân chủ”. 
  10. ^ “NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổchức của Bộ Nội vụ”. 
  11. ^ “THÔNG TƯ”. 
  12. ^ “Thực hiện chế độ chính ủy tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát Cơ động 3/2014”. 
  13. ^ “Bộ Công an sẽ chỉ còn 6 Tổng cục”. 
  14. ^ “Thủ tướng điều động 3 trung tướng Tổng cục trưởng của Bộ Công an”. 
  15. ^ “Thủ tướng điều động một số cán bộ lãnh đạo”. 
  16. ^ “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng điều động một số cán bộ lãnh đạo Công an”. 
  17. ^ Quyết định số 86/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về việc bổ nhiệm Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Bằng giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (Tổng cục VIII), Bộ Công an Nguyễn Tấn Dũng 19/01/2015
  18. ^ Thái Sơn (7 tháng 8 năm 2018). “Bộ Công an giảm 6 tổng cục và 60 đơn vị cấp cục”. Báo Thanh niên. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2018. 
  19. ^ “Bộ Công an triển khai Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức; sơ kết công tác công an 6 tháng đầu năm 2018”. 7 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2019. 
  20. ^ “Chi tiết về nội dung Bộ Công an tinh gọn bộ máy hoạt động”. 
  21. ^ Bá Đô (12 tháng 8 năm 2018). “Hàng loạt tướng công an được bổ nhiệm làm phó thủ trưởng cơ quan điều tra”. VnExpress. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2018. 
  22. ^ Thái Sơn, Báo Thanh niên (14 tháng 8 năm 2018). “Bổ nhiệm Cục trưởng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng CNC”. VOV. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018. 
  23. ^ Bộ trưởng Công an bổ nhiệm thủ trưởng hai cơ quan điều tra
  24. ^ “Sáp nhập nhiều cục nghiệp vụ của Bộ Công an”. 
  25. ^ a ă “Danh sách các đơn vị mới thuộc Bộ Công an”. Báo An ninh thủ đô. 7 tháng 8 năm 2018. Truy cập Hoàng Phong.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  26. ^ a ă “Cục Công nghiệp an ninh công bố các Quyết định về công tác cán bộ”. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2019. 
  27. ^ “Cục Viễn thông và cơ yếu công bố các Quyết định về công tác cán bộ”. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2019. 
  28. ^ “Viện Khoa học và công nghệ, Bộ Công an tổ chức công bố các Quyết định về công tác cán bộ”. Báo Công an nhân dân. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2019. 
  29. ^ a ă “Công bố công tác cán bộ Cục Quản lý xây dựng - doanh trại và Cục Trang bị - kho vận”. Báo Công an nhân dân. 10 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2019. 
  30. ^ “Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường triển khai nhiệm vụ công tác cuối năm 2018”. Bộ Công an. 10 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2019. 
  31. ^ Bộ trưởng và 8 Thứ trưởng Bộ Công an hiện nay, cafef.vn, 27.4.2018
  32. ^ Bộ trưởng Tô Lâm: 'Không thể có hai nhóm công an', tuoitre.vn, 8.6.2018
  33. ^ TBT Nguyễn Phú Trọng: ‘Công an phải bảo vệ Đảng’, BBC, 27.12.2016

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]