Bộ Công an (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bộ Công an Việt Nam
CongAnHieu.jpg
Công an hiệu
Hoạt động 19/8/1945 (&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000347.000000347 ngày)
Quốc gia  Việt Nam
Phục vụ Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Công an Nhân dân Việt Nam
Phân loại Bộ trực thuộc Chính phủ
Chức năng Quản lý nhà nước về an ninh trật tự, an toàn xã hội; phản gián; điều tra phòng chống tội phạm; phòng cháy chữa cháy và cứu hộ; thi hành án hình sự, thi hành án không phải phạt tù, tạm giữ, tạm giam; bảo vệ, hỗ trợ tư pháp
Quy mô 280.000 người
Bộ phận của Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Bộ Công an (Việt Nam)
Bộ chỉ huy Số 47, Phạm Văn Đồng, Hà Nội
Khẩu hiệu Kỷ cương, trách nhiệm, hiệu quả
Lễ kỷ niệm ngày 19 tháng 8 năm 1945
Các tư lệnh
Bộ trưởng Đại tướng Trần Đại Quang
Thứ trưởng gồm có:
Huy hiệu
Trang web Bộ Công an

Bộ Công an trực thuộc Chính phủ Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an ninh trật tự, an toàn xã hội; phản gián; điều tra phòng chống tội phạm; phòng cháy chữa cháy và cứu hộ; thi hành án hình sự, thi hành án không phải phạt tù, tạm giữ, tạm giam; bảo vệ, hỗ trợ tư pháp; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Bộ Công an là cơ quan quản lý Lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam. Bộ Công An nhận được nhiều danh hiệu trong đó có Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.,[1] 13 Huân chương Sao vàng và 88 Huân chương Hồ Chí Minh.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ tháng 8 năm 1945, lực lượng Công an đã được thành lập chưa có tên gọi chung: ở Bắc Bộ có tên là Sở Liêm phóng, ở Trung Bộ là Sở trinh sát và ở Nam Bộ là Quốc gia tự vệ cuộc. Ngày 19 tháng 8 năm 1945 được coi là ngày thành lập ngành Công an Việt Nam.[2]

Theo Sắc lệnh số 23/SL ngày 21 tháng 2 năm 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cơ quan này được hợp nhất dưới tên gọi Việt Nam Công an vụ, đặt dưới quyền quản lý của Bộ Nội vụ.

Ngày 18 tháng 4 năm 1946, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 121-NV/NĐ về tổ chức Việt Nam Công an vụ có 3 cấp:[3]

  • Cấp trung ương gọi là Nha Công an Trung ương[3]
  • Cấp kỳ có tên gọi là Sở Công an kỳ[3]
  • Cấp tỉnh có tên gọi là Ty Công an tỉnh, thành phố[3]

Giám đốc đầu tiên của Việt Nam Công an vụ là Nguyễn Dương (từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 7 tháng 6 năm 1946). Sau đó Phó Giám đốc Việt Nam Công an vụ Lê Giản lên thay.[3]

Trong kháng chiến chống Pháp, Nha Công an Trung ương đóng tại thung lũng Lũng Cò, thôn Đồng Đon, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Tại đây có các cơ quan trực thuộc như Ty tình báo, Ty trật tự tư pháp, Ty chính trị. Giám đốc Nha Công an đầu tiên là Lê Giản. Đến tháng 8 năm 1952, Trần Quốc Hoàn thay Lê Giản làm Giám đốc Nha Công an.

Ngày 16 tháng 2 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141-SL đổi Nha công an Trung ương thành Thứ Bộ Công an trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Đồng chí Trần Quốc Hoàn ủy viên Trung ương Đảng được cử giữ chức Thứ trưởng Thứ Bộ Công an. Thứ Bộ Công an có nhiệm vụ chống gián điệp, phản động ở trong nước để bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân, bảo vệ quân đội nhân dân, bảo vệ kinh tế quốc dân; bảo vệ biên giới, chống đặc vụ và gián điệp quốc tế; Bài trừ lưu manh trộm cướp, bài trừ các tệ nạn xã hội và giữ trật tự an ninh trong nhân dân; Quản trị các trại giam, giáo dục cải tạo phạm nhân. Thứ Bộ Công an gồm có: Văn phòng Thứ Bộ, Vụ Chấp pháp, Phòng Nhân sự, Cục cảnh vệ, Vụ Bảo vệ chính trị, Trường Công an, Vụ trị an hành chính.[4]

Trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ từ ngày 27-29 tháng 8 năm 1953, dưới sự chủ tọa của Hồ Chủ tịch, đã quyết định đổi tên Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an. Đồng chí Trần Quốc Hoàn ủy viên Trung ương Đảng được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Công an.

Năm 1959, các lực lượng biên phòng đổi thành lực lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là lực lượng Biên phòng) trực thuộc quyền quản lý của Bộ Công an.

Ngày 28 tháng 7 năm 1956, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 982/TTg về việc thành lập Cục Cảnh sát nhân dân thuộc Bộ Công an để thống nhất việc xây dựng, quản lý, huấn luyện, giáo dục các loại cảnh sát nhân dân trong toàn quốc về nghiệp vụ, chính trị, quân sự, văn hoá.[5]

Ngày 20 tháng 7 năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh 34-LCT công bố pháp lệnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn và pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc của sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân. Để tăng cường kiện toàn bộ máy lực lượng Công an, đồng thời để đáp ứng tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.[6]

Ngày 1 tháng 8 năm 1975, kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa X đã quyết định hợp nhất Bộ Công an và Bộ Nội vụ thành một bộ mới lấy tên là Bộ Nội vụ.

Cuối năm 1979, lực lượng Công an nhân dân vũ trang đổi tên là Bộ đội Biên phòng và được chuyển về trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Đến năm 1988, Bộ đội Biên phòng lại chuyển sang trực thuộc Bộ Nội vụ, đến cuối năm 1995 thì lại chuyển về Bộ Quốc phòng.

Ngày 7 tháng 5 năm 1998, Quốc hội ra Nghị quyết số 13/1998/NQ-QH10, theo đó Bộ Nội vụ đổi lại tên thành Bộ Công an.[7]

Ngày 9 tháng 6 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 37/1998/NĐ-CP, Quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an.[8]

Ngày 5 tháng 8 năm 2002, Quốc hội ra Nghị quyết số 02/2002/QH11 về việc quy định danh sách các bộ và cơ quan ngang bộ của Chính phủ. Theo đó, Bộ Nội vụ mới được thành lập trên cơ sở đổi tên từ Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ và tồn tại song song với Bộ Công an.[9]

Ngày 14 tháng 11 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 136/2003/NĐ-CP, Quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an[10]

Ngày 15 tháng 9 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 77/2009/NĐ-CP, Quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Theo đó, 6 Tổng cục hiện tại của Bộ Công an (An ninh Nhân dân, Cảnh sát Nhân dân, Xây dựng Lực lượng, Hậu cần, Tình báo, Kỹ thuật) được tách, sát nhập và đổi tên thành 8 Tổng cục đó là (An ninh 1, An ninh 2, Xây dựng Lực lượng, Hậu cần-Kỹ thuật, Tình báo, Cảnh sát Phòng-chống Tội phạm, Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp).

Ngày 9 tháng 12 năm 2013, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Quy định số 216-QĐ/TW về thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên ở Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Bộ Công an[11]

Ngày 17 tháng 11 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 106/2014/NĐ-CP, Quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an và có hiệu lực từ 01/01/2015. Theo đó, 8 Tổng cục (An ninh 1, An ninh 2, Xây dựng Lực lượng, Hậu cần Kỹ thuật, Tình báo, Cảnh sát Phòng chống tội phạm, Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội, Cảnh sát Thi hành án và hỗ trợ tư pháp) được sát nhập lại thành 6 Tổng cục (An ninh, Chính trị, Hậu cần-Kỹ thuật, Tình báo, Cảnh sát và Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp). Cũng theo đó, Tổng cục Xây dựng Lực lượng được đổi tên thành Tổng cục Chính trị Công an Nhân dân.[12][13][14][15][16]

Hệ thống cơ quan Công an[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở Bộ Công An trên đường Phạm Văn Đồng được xây dựng theo kiến trúc hiện đại

Hệ thống tổ chức được tổ chức thành 4 cấp, bao gồm:

  1. Bộ Công an;
  2. Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
  3. Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
  4. Công an xã, phường, thị trấn.[17]

Trong đó công an xã là lực lượng vũ trang bán chuyên trách có vai trò chính trong việc bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội cấp cơ sở. Công an xã được lãnh đạo trực tiếp bởi cấp ủy Đảng, quản lý bởi Uỷ ban nhân dân xã, đồng thời chịu sự chỉ đạo, đào tạo năng lực từ Công an cấp trên.[18] Căn cứ yêu cầu công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Chính phủ quy định việc thành lập Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

TT Chức vụ Cấp bậc Họ và tên Đảm nhiệm Chức trách nhiệm vụ Ghi chú
1 Bộ trưởng Đại tướng Trần Đại Quang Từ 2011 phụ trách chung
2 Thứ trưởng Thượng tướng Đặng Văn Hiếu Từ 2011 phụ trách khối cơ quan trực thuộc Bộ, Văn phòng Bộ.
3 Thứ trưởng Thượng tướng Lê Quý Vương Từ 2010 phụ trách Tổng cục Cảnh sát, Tổng cục VIII
4 Thứ trưởng Thượng tướng Tô Lâm Từ 2010 phụ trách Tổng cục An ninh, BTL Cảnh vệ, CSCĐ
5 Thứ trưởng Thượng tướng Trần Việt Tân Từ 2011 phụ trách Tổng cục Tình báo
6 Thứ trưởng Thượng tướng Bùi Văn Nam Từ 2013 phụ trách Công an các tỉnh, thành phố
7 Thứ trưởng Thượng tướng Bùi Quang Bền Từ 2011 phụ trách Tổng cục Chính trị CAND
8 Thứ trưởng Trung tướng Bùi Văn Thành Từ 2014 phụ trách Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật

Khối Cơ quan trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Chánh Văn phòng: Trung tướng Nguyễn Danh Cộng
Chánh Thanh tra: Thiếu tướng Nguyễn Văn Lưu- Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương
Phó Chủ nhiệm Thường trực: Thiếu tướng Trần Công Viên- Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương
Cục trưởng: Thiếu tướng Nguyễn Tiến Bền
Cục trưởng: Thiếu tướng Trần Gia Cường
Cục trưởng: Trung tướng GS.TS Nguyễn Ngọc Anh
Cục trưởng: Thiếu tướng Nguyễn Văn Khảo
Cục trưởng: Thiếu tướng PGS. TS Đoàn Việt Mạnh
Cục trưởng: Thiếu tướng PGS.TS Hoàng Phước Thuận
Cục trưởng: Thiếu tướng Đồng Văn Sơn
Cục trưởng: Thiếu tướng Đào Mạnh Tuấn
Cục trưởng: Thiếu tướng Trần Sơn Hà
Viện trưởng: Trung tướng, PGS.TS Trần Minh Thư

Khối các Tổng cục[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng cục trưởng: Trung tướng Nguyễn Chí Thành - Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương
Tổng cục trưởng: Trung tướng Phan Văn Vĩnh - Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương
Tổng cục trưởng: Trung tướng Trần Bá Thiều - Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương
Tổng cục trưởng: Trung tướng Lê Văn Minh
Tổng cục trưởng: Trung tướng Đặng Xuân Loan - Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương
Tổng cục trưởng: Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Bằng - Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương

Bộ Tư lệnh trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Tư lệnh: Trung tướng Nguyễn Thanh Hà
Tư lệnh: Trung tướng Nguyễn Văn Vượng - Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương
Chính ủy: Trung tướng Đỗ Đức Kính - Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương

Công an Tỉnh, Thành phố trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Giám đốc: Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung - Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương
Giám đốc: Trung tướng Nguyễn Chí Thành - Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương
Giám đốc: Thiếu tướng Đỗ Hữu Ca
Giám đốc: Thiếu tướng Nguyễn Văn Sơn
Giám đốc: Đại tá Trần Ngọc Hạnh

Các Tổ chức Quốc tế tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế Interpol (tiếng Anh: International Criminal Police Organization)
  • Hiệp hội Cảnh sát các Quốc gia Đông Nam Á (Aseanapol)
  • Hiệp hội Học viện cảnh sát quốc tế (INTERPA)
  • Hội nghị các Bộ trưởng Nội vụ các nước ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC)
  • Hội nghị những người đứng đầu Cơ quan An ninh Nội địa các nước ASEAN (MACOH)
  • Hội nghị Phòng chống ma túy Quốc tế (tiếng Anh: "International Drug Enforcement Conference" hay "IDEC")

Bộ trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

  • Theo giáo sư Carl Thayer của viện Lực lượng Phòng thủ Úc, tổng cộng các lực lượng an ninh ít nhất là 6,9 triệu người. So sánh với tổng cộng những người đi làm khoảng chừng 43 triệu thì cứ 6 người thì có một người làm việc cho các cơ quan an ninh.[19]
  • Trong chương trình Bàn tròn thứ Năm với BBC Tiếng Việt hôm 05/03/2015, bàn về vụ xô xát giữa người mẫu Trang Trần với công an, vụ người dân tử vong tại đồn công an ở Hà Tĩnh và giới hạn quyền lực của lực lượng công an cũng như tự quản[20]:
  • Chủ bút của trang Đàn Chim Việt Mạc Việt Hồng từ Ba Lan nhận xét, công an ở Việt Nam "là công cụ trấn áp của chính quyền, mà chính quyền ở đây là chính quyền của đảng Cộng sản. Nó là công cụ của chuyên chính vô sản." 07-2015[cần dẫn nguồn]
  • Luật sư Hà Huy Sơn ở Hà Nội cho rằng, nếu ngành tư pháp có quyền đối trọng thì lực lượng công an Việt Nam không thể lạm dụng quyền hành pháp của mình. "Nhưng do hiến pháp hiện tại của Việt Nam, tư pháp và hành pháp tổ chức theo sự phân công, tức là có sự lãnh đạo ở trên, tức là nó theo hình tháp chứ không có quan hệ đối trọng." 07-2015[cần dẫn nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Quá trình phát triển Bộ Công An”. 
  2. ^ “Quá trình trưởng thành của lực lượng CAND Việt Nam qua những dấu mốc lịch sử”. 
  3. ^ a ă â b c “Nghị định 121-NV/NĐ 18/4/1946”. 
  4. ^ “Sắc lệnh 141/SL ngày 16/2/1953”. 
  5. ^ “Thành lập Cục Cảnh sát nhân dân”. 
  6. ^ “Pháp lệnh 34/LCT ngày 16/7/1962”. 
  7. ^ “Nghị quyết đổi tên Bộ Nội vụ thành Bộ Công an”. 
  8. ^ “QĐ ban hành quy chế dân chủ”. 
  9. ^ “NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổchức của Bộ Nội vụ”. 
  10. ^ “THÔNG TƯ”. 
  11. ^ “Thực hiện chế độ chính ủy tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát Cơ động 3/2014”. 
  12. ^ “Bộ Công an sẽ chỉ còn 6 Tổng cục”. 
  13. ^ “Thủ tướng điều động 3 trung tướng Tổng cục trưởng của Bộ Công an”. 
  14. ^ “Thủ tướng điều động một số cán bộ lãnh đạo”. 
  15. ^ “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng điều động một số cán bộ lãnh đạo Công an”. 
  16. ^ http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=2&_page=1&mode=detail&document_id=178650
  17. ^ Luật Công an nhân dân số 54/2005/QH 11 thông qua ngày 29/11/2005
  18. ^ Vị trí chức năng của Công an nhân dân, Cổng thông tin điện tử Bộ Công an Việt Nam (MPS).
  19. ^ Vietnam: Where saying 'I love you' is impossible, BBC, 29.08.2013
  20. ^ Công an Việt Nam và 'kiêu binh thời mới', BBC, 05.03.2015

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]