Bùi Thanh Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bùi Thanh Sơn
Bùi Thanh Sơn.jpg
Chức vụ
Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Việt Nam
Nhiệm kỳTháng 11 năm 2009 – nay
Nhiệm kỳ2016 – 2021
Thông tin chung
Sinh16 tháng 10, 1962 (56 tuổi)
phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nghề nghiệpchính trị gia
Dân tộcKinh
Tôn giáoKhông
Đảng pháiĐảng Cộng sản Việt Nam
Học vấn
  • Đại học Ngoại giao (chuyên ngành Ngoại giao)
  • Thạc sĩ Quan hệ quốc tế

Bùi Thanh Sơn (sinh ngày 16 tháng 10 năm 1962) là một chính trị gia người Việt Nam. Ông hiện là Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV nhiệm kì 2016-2021, thuộc đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Đắk Nông.[1] Ông lần đầu trúng cử đại biểu Quốc hội năm 2016 ở đơn vị bầu cử số 2, tỉnh Đắk Nông gồm có các huyện: Đắk Mil, Cư JútKrông Nô.[2]

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Bùi Thanh Sơn sinh ngày 16 tháng 10 năm 1962 quê quán ở phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. Ông hiện cư trú ở Nhà A26-BT6, khu đô thị Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1986.6.11: Ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • 1987.9: Ông bắt đầu làm việc tại Bộ Ngoại giao với vị trí là cán bộ nghiên cứu tại Học viện Quan hệ quốc tế, Bộ Ngoại giao.[3]
  • 1996.3~: ông lần lượt được bổ nhiệm vào các vị trí Phó ban rồi Trưởng ban Âu - Mỹ, Chánh Văn phòng, Học viện Quan hệ quốc tế, Bộ Ngoại giao.[3]
  • 1996.3~2000.1: ông được cử giữ chức Phó Vụ trưởng, Phó Giám đốc Học viện Quan hệ quốc tế, Bộ Ngoại giao.[3]
  • 2000.3~2003.7: Ông công tác tại Đại sứ quán Việt Nam tại nước Cộng hòa Singapore với cương vị Tham tán Công sứ.[3]
  • 2003.7~2008.9: Ông trở lại công tác tại Bộ Ngoại giao và được bổ nhiệm làm Phó Vụ trưởng rồi Vụ trưởng, Vụ Chính sách Đối ngoại.[3]
  • 2008.9~2009.11: ông đảm nhận cương vị Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, Vụ trưởng Vụ Chính sách Đối ngoại, Bộ Ngoại giao.[3]
  • 2008.9~2012.6: ông còn đảm nhận các chức vụ Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU)[3]
  • 2009.11: ông được bổ nhiệm chức vụ thứ trưởng Bộ ngoại giao[3]
  • 2010.11~:ông là Ủy viên Ủy ban quốc gia về Thanh niên Việt Nam[3]
  • 2011.9~2015: ông là Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2011-2015[3]
  • 2015.2: ông được bổ nhiệm lại chức vụ Thứ trưởng Bộ Ngoại giao[3]
  • 2015.3: ông được cử là Ủy viên kiêm Tổng thư ký Ban Chỉ đạo liên ngành Hội nhập quốc tế về chính trị, an ninh, quốc phòng.[3]
  • 2016.1: tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII[3]
  • 2016.5: Khi lần đầu được trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV vào tháng 5 năm 2016 ông đang là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương, Ủy viên Ban cán sự Đảng Bộ Ngoại giao, Bí thư Đảng bộ Bộ Ngoại giao, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, làm việc ở Bộ Ngoại giao Việt Nam.
  • 2016.5.22: Ông lần đầu trúng cử đại biểu Quốc hội năm 2016 ở đơn vị bầu cử số 2, tỉnh Đắk Nông gồm có các huyện: Đắk Mil, Cư JútKrông Nô, được 140.073 phiếu, đạt tỷ lệ 79,52% số phiếu hợp lệ.
  • 2017: Ông hiện là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII (2015-2020), Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương, Ủy viên Ban Cán sự đảng Bộ Ngoại giao, Bí thư Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao, Ủy viên Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội. Ông đang làm việc ở Bộ Ngoại giao.

Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV nhiệm kì 2016-2021[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2016.7.29: Ông cho rằng, hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, đồng thời kiến nghị Quốc hội và Chính phủ phối hợp nhịp nhàng để tận dụng cơ hội cũng như đương đầu với những thách thức đặt ra trong quá trình hội nhập[5]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông có một vợ và một con.[3]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Lao động hạng Ba năm 2011 vì có thành tích xuất sắc trong công tác từ năm 2006 đến năm 2010, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.[3]
  • Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam năm 2014 vì có nhiều thành tích trong quá trình xây dựng và triển khai Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.[3]
  • Huân chương Isala Hạng Ba của Chính phủ Lào năm 2014.[3]
  • Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2011 vì có thành tích xuất sắc trong đàm phán Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) giữa Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.[3]
  • Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2009 vì có thành tích xuất sắc trong công tác giai đoạn 2004-2008.[3]
  • Bằng khen Bộ trưởng Ngoại giao năm 2005 về thành tích có nhiều đóng góp xuất sắc vì sự nghiệp Ngoại giao trong 5 năm 2001-2005.[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Thông tin đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV”. Website Quốc hội Việt Nam. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017. 
  2. ^ Hội đồng bầu cử Quốc gia năm 2016, Danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV năm 2016 ở 63 tỉnh thành
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s “Tiểu sử Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn”. Vụ Thông tin Báo chí - Bộ Ngoại giao Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017. 
  4. ^ Anh Tân, Hồng Cúc (12 tháng 2 năm 2015). “Bổ nhiệm lại ông Bùi Thanh Sơn giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao”. Trí thức trẻ. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017. 
  5. ^ Nguyễn Phương (29 tháng 7 năm 2016). “ĐBQH Bùi Thanh Sơn- Đắk Nông: Hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ trọng tâm”. Cổng thông tin điện tử văn phòng Quốc hội Việt Nam. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]