Vladimir Vladimirovich Putin
Bài viết này cần được cập nhật do có chứa các thông tin có thể đã lỗi thời hay không còn chính xác nữa. |
| Chính trị và chính phủ Nga |
| Một phần của loạt bài về |
| Chủ nghĩa dân túy |
|---|
| Chủ đề Chính trị |
Vladimir Vladimirovich Putin (tiếng Nga: Владимир Владимирович Путин, đã Latinh hoá: Vladimir Vladimirovich Putin IPA: [vɫɐˈdʲimʲɪr vɫɐˈdʲimʲɪrəvʲɪtɕ ˈputʲɪn] ⓘ; phiên âm tiếng Việt: Vla-đi-mia Vla-đi-mia-rô-vích Pu-chin; sinh ngày 7 tháng 10 năm 1952), là một chính trị gia người Nga và là cựu Thủ tướng của Liên bang Nga, là Tổng thống thứ hai của Nga từ ngày 7 tháng 5 năm 2000 cho đến ngày 7 tháng 5 năm 2008 và là Tổng thống thứ tư của Nga từ ngày 7 tháng 5 năm 2012 cho đến nay.[khi nào?] Ông đảm nhiệm chức vụ này theo hiến pháp từ ngày 31 tháng 12 năm 1999 sau khi cựu tổng thống Boris Nikolayevich Yeltsin từ chức.
Putin là nhà lãnh đạo Nga giành được sự ủng hộ lớn nhất của người dân kể từ sau sự tan rã của Liên Xô. Putin được những người ủng hộ khen ngợi vì đã phục hồi sức mạnh của nước Nga sau những năm hỗn loạn của Boris Yeltsin.[1][2][3] Về văn hóa – xã hội, ông Putin đề xướng các bộ luật cấm mọi hình thức tuyên truyền về đồng tính luyến ái và hôn nhân đồng tính.[4], cấm phẫu thuật chuyển giới đối với những người không bị dị tật bẩm sinh về giới tính[5] Ông Putin cho rằng các bộ luật này sẽ bảo vệ văn hóa và các giá trị truyền thống của nước Nga, tránh sự phá hủy nền tảng đạo đức gia đình do sự xâm nhập tư tưởng phương Tây, và ngăn chặn nguy cơ già hóa dân số đối với đất nước.[6]
Về kinh tế, trong 2 nhiệm kỳ đầu của Putin, nền kinh tế Nga đã thoát khỏi khủng hoảng với GDP tăng gấp sáu lần (72% theo PPP).[7][8] Ông cũng phản bác nhiều vụ tuyên truyền chống phá nước Nga và loại bỏ những đầu sỏ tài phiệt từng lũng đoạn chính trường Nga trong thập niên 1990.[9] Trong khi đó, những người phản đối Putin lại mô tả ông là một nhà độc tài và lạm dụng quyền lực. Một số nhà hoạt động, các tổ chức nhân quyền và một số nhà bình luận phương Tây đã "bày tỏ lo ngại" về tình trạng dân chủ, tự do báo chí và nhân quyền tại Nga,[10] họ cáo buộc Putin đã "vi phạm nhân quyền", đàn áp các cuộc phản đối dân sự cũng như ra lệnh ám sát các đối thủ chính trị của ông. Putin đã bác bỏ các cáo buộc nói trên,[11] ông cũng cho rằng nước phương Tây đang tỏ ra "đạo đức giả" khi họ luôn thuyết giảng nước Nga về dân chủ, nhân quyền nhưng lại liên tục "bất chấp luật pháp quốc tế" và "đem quân xâm lược các nước khác".[12] Các quan chức của chính phủ Hoa Kỳ buộc tội ông đưa ra một chương trình can thiệp chống lại Hillary Clinton và ủng hộ Donald Trump trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2016, điều mà Putin đã thường xuyên phủ nhận.[13]
Năm 2007, ông Putin được tạp chí Time chọn làm Nhân vật của năm.[14][15] Năm 2015, Putin đứng đầu trong danh sách 100 người có sức ảnh hưởng nhất thế giới cũng của tạp chí này.[16][17][18] Tạp chí Forbes đã bầu chọn Putin là người quyền lực nhất thế giới trong 4 năm liên tiếp kể từ năm 2013 đến năm 2016.[19]
Cuộc đời và sự nghiệp

Putin sinh tại Leningrad (St. Petersburg từ 1991 và trước 1914). Cuốn tiểu sử của ông, Ot Pervogo Litsa, dịch sang tiếng Anh dưới tiêu đề First Person (Người đầu tiên, tựa Việt: Nhân vật số một, Firstnews Trí Việt) dựa trên các cuộc phỏng vấn được thực hiện với Putin năm 2000 và lấy chi phí từ chiến dịch tranh cử của ông. Cuốn sách nói về xuất thân bình dân của vị tổng thống, gồm cả những năm đầu tiên cuộc đời trong một căn hộ chung cư cũ kỹ nhỏ bé được nhà máy của bố Putin phân. Theo tiểu sử, thời tuổi trẻ ông rất thích theo dõi các âm mưu trong các bộ phim trinh thám của Điện ảnh Xô viết do các diễn viên như Vyacheslav Vasilyevich Tikhonov và Georgiy Stepanovich Zhzhonov thủ vai.
Cũng trong cuốn sách này, Putin nói rằng ông nội ông, bếp trưởng Spiridon Putin, đã được đưa tới các khu ngoại ô Moskva nấu ăn trong một trong những căn nhà nông thôn (dacha) của Joseph Stalin. Trong cuốn sách The Court of the Red Tsar (Triều đình của Sa hoàng Đỏ) của Simon Sebag Montefiore có một chú thích tại trang 300 ghi rằng Putin đã nói ông nội mình ít khi đề cập tới công việc, nhưng ông đã kể lại việc chuẩn bị các bữa ăn cho Grigori Yefimovich Rasputin khi ông này còn là một cậu bé và cả Lenin. Mẹ ông, Maria Ivanovna Shelomova, là công nhân trong nhà máy và cha ông làm việc trong lực lượng hải quân, tại hạm đội tàu ngầm đầu thập niên 1930. Cha ông sau này chuyển sang lực lượng bộ binh trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Hai người anh của ông ra đời giữa thập niên 1930; một người chết vài tháng sau khi sinh; người thứ hai chết vì bệnh bạch hầu trong thời gian phong tỏa Leningrad.
Putin tốt nghiệp Ban quốc tế Khoa luật Đại học Quốc gia St. Petersburg năm 1975 và được tuyển dụng vào KGB. Trong cuốn First Person, Putin đã kể lại với các nhà báo về những nhiệm vụ đầu tiên của mình trong KGB, gồm cả những hoạt động đàn áp đối lập tại Leningrad.
Từ 1985 đến 1990 KGB chuyển Putin sang làm việc tại Dresden, Đông Đức, ở vị trí mà ông cho là hạng thấp. Sau khi chế độ Đông Đức sụp đổ, Putin được gọi về Liên bang Xô Viết và quay trở lại Leningrad, nơi vào tháng 6 năm 1990 ông được trao một chức vụ tại ban Quan hệ quốc tế của Đại học Quốc gia Leningrad, trực tiếp dưới quyền hiệu phó. Tháng 6 năm 1991, ông được chỉ định làm lãnh đạo Ủy ban quốc tế trong văn phòng thị trưởng St. Petersburg, với trách nhiệm tăng cường quan hệ quốc tế và đầu tư nước ngoài.
Putin đã chính thức thôi chức vụ bên trong ngành an ninh quốc gia ngày 20 tháng 8 năm 1991, khi KGB ủng hộ cuộc đảo chính sớm thất bại chống lại Tổng thống Liên Xô Mikhail Sergeyevich Gorbachyov. Năm 1994 ông trở thành Phó chủ tịch thứ nhất thành phố St. Petersburg dưới quyền Anatoly Sobchak, vị trí ông giữ cho tới tận khi được gọi tới Moskva, tháng 8 năm 1996, để nhận nhiều chức vụ cao cấp bên trong bộ máy chính quyền thứ hai của Boris Nikolayevich Yeltsin. Ông là lãnh đạo dân sự của Tổng cục An ninh Liên bang Nga FSB (cơ quan kế tục KGB) từ tháng 7 năm 1998 đến tháng 8 năm 1999, và giữ chức vụ Thư ký Ủy ban An ninh từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1999.
Trong thập niên 1990, Putin được nhận bằng phó tiến sĩ kinh tế học tại học viện mỏ ở St. Petersburg (СПбГГУ). Bài luận văn của ông mang chủ đề "Hoạch định chiến lược các nguồn tài nguyên vùng trong bối cảnh thành lập các mối quan hệ thị trường".[20]
Tháng 8 năm 1999, Yeltsin đã bổ nhiệm Putin làm thủ tướng Nga thay thế cho người tiền nhiệm Sergei Stepashin. Ngay sau đó Putin đã nhanh chóng trở nên thu hút ở Nga nhờ cuộc xung đột Nga-Chechnya tháng 9 năm 1999 để đáp trả lại Cuộc chiến tranh ở Dagestan và Vụ ném bom nhà ở của người Nga. Sau chiến dịch này các đảng phái hậu thuẫn Putin đã giành được sự ủng hộ vững chắc trong cuộc bầu cử nghị viện 1999. Đến cuối năm 1999 trước sức ép quá lớn từ các nhà lãnh đạo cũng như người dân Nga, Yeltsin đã quyết định từ chức và Putin trở thành tổng thống lâm thời. Trong cuộc bầu cử vào tháng 3 năm 2000, ông đứng đầu trong mười ứng cử viên và trở thành tổng thống thứ hai của Liên bang Nga thời kỳ hậu Xô viết.
Do giới hạn hiến pháp (không làm quá 2 nhiệm kỳ Tổng thống Nga liên tục), Putin không thể kéo dài thời gian lãnh đạo sang nhiệm kỳ thứ 3. Sau sự thành công của người kế nhiệm của ông, Dmitry Medvedev, trong cuộc Bầu cử tổng thống Nga, 2008, ông được Medvedev đề cử vào chiếc ghế Thủ tướng Nga và chính thức nhậm chức vào ngày 8 tháng 5 năm 2008. Năm 2012, ông tiếp tục tranh cử Tổng thống, và đắc cử nhiệm kỳ thứ 3 với 63% số phiếu cử tri. Năm 2018, Putin giành được 77% phiếu bầu tổng thống vào kỳ bầu cử tháng 3 năm 2018, đồng nghĩa với việc ông sẽ tiếp tục đảm nhiệm chức vụ Tổng thống Nga trong nhiệm kỳ sáu năm sẽ kết thúc vào năm 2024.[21]
Chức vụ Thủ tướng và nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên
Putin được Tổng thống Yeltsin chỉ định làm chủ tịch (predsedatel, hay thủ tướng) Chính phủ Liên bang Nga vào tháng 8 năm 1999, khiến ông trở thành thủ tướng thứ năm của nước Nga trong khoảng thời gian chưa đầy mười tám tháng. Khi được chỉ định, rất ít người tin rằng Putin, một khuôn mặt rõ ràng ít tiếng tăm, có thể giữ ghế lâu hơn so với những người tiền nhiệm. Những đối thủ chính và có thể là người kế nhiệm của Yeltsin như Thị trưởng Moskva Yuriy Mikhaylovich Luzhkov và cựu Thủ tướng Nga Yevgeniy Maksimovich Primakov đã tiến hành các chiến dịch vận động nhằm thay thế vị tổng thống già yếu, đã có phản ứng mạnh mẽ nhằm ngăn cản Putin xuất hiện với tư cách một đối thủ tiềm năng. Hình ảnh một nhân viên ngành an ninh tiếp cận và xử lý vấn đề khủng hoảng Chechnya (xem bên dưới) một cách cứng rắn của Putin đã nhanh chóng lôi cuốn sự ủng hộ của dân chúng, cho phép ông dần vượt xa các đối thủ. Trong khi chính thức không liên kết với một đảng nào, Putin lại nhận được sự ủng hộ của phe Edinstvo (thống nhất) mới thành lập và hiện chiếm đa số trong cuộc bầu cử Duma tháng 12 năm 1999. Putin được tái chỉ định làm Thủ tướng chính phủ và dường như đang ở vị trí thuận lợi nhất cho cuộc bầu cử tổng thống trong mùa hè sau đó. Quá trình thăng tiến của ông tới chức vụ cao nhất nước Nga thậm chí còn nhanh chóng hơn: ngày 31 tháng 12 năm 1999, Yeltsin bất ngờ từ chức, và theo hiến pháp, Putin được chỉ định làm tổng thống (tạm quyền), trở thành vị tổng thống thứ hai của nhà nước Liên bang Nga. Cuộc bầu cử tổng thống được tổ chức ngày 26 tháng 3 năm 2000, trong đó Putin đã thắng cử ngay từ vòng đầu tiên. Sau này Putin đã trao cho vị cựu tổng thống và gia đình của ông quyền hoàn toàn miễn trừ truy tố (thông qua nghị định tổng thống). Ngay trước đó, Yeltsin và gia đình mình đang bị các cơ quan chức năng Nga và Thụy Sĩ đặt nghi vấn về các trách nhiệm liên quan tới những vụ chuyển tiền bất hợp pháp.
Sau nhiều năm bê bối, thay đổi chính sách liên tục và khủng hoảng kinh tế khiến dân chúng bất mãn với Yeltsin - vị tổng thống già cả, vụng về và ốm yếu - thì việc Putin thắng cử và lên nhậm chức đã đánh dấu một bước khởi đầu mới cho nước Nga trong giai đoạn lịch sử hậu Xô viết. Tuy nhiên, việc vị tổng thống mới được thắng cử không tránh khỏi những biện pháp ảnh hưởng hậu trường không nhỏ do nhóm ủng hộ Yeltsin tiến hành, họ đã lựa chọn và ủng hộ Putin nhằm bảo vệ quyền lực riêng cũng như giữ vững các quyền lợi ưu tiên của mình. Khi bộ máy chính phủ mới của Putin hình thành, các bộ mặt nhiều ảnh hưởng cũ thời Yeltsin – gồm cả Lãnh đạo Nhân sự Aleksandr Staliyevich Voloshin và Thủ tướng Mikhail Mikhailovitch Kasyanov – vẫn giữ được nhiều quyền kiểm soát đối với các chính sách và sự chỉ đạo của chính phủ mới. Mặt khác, Putin cũng được hậu thuẫn bởi một nhóm các nhà cải cách kinh tế từ quê hương Sankt-Peterburg của ông, và có thể tin cậy cũng như có được ủng hộ từ siloviki. (Nhóm này được gọi là những thành viên vẫn giữ nhiều quyền lực bên trong các cơ quan an ninh Nga, họ tự coi mình là những người bảo vệ quyền lợi quốc gia khỏi các chính trị gia và các quan chức tham lam, và thường được cung cấp đầy đủ thông tin về mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị Nga.) Sự đấu tranh – và hợp tác – giữa nhiều nhóm đó là đặc trưng lớn nhất của nhiệm ký thứ nhất của Tổng thống Putin.
Ngay khi trúng cử, Putin đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm tái lập quyền lực tuyệt đối của Kremlin đối với đời sống chính trị Nga. Thời Yeltsin, 89 vùng lãnh thổ chính trị cấp dưới liên bang ở nước Nga (các nước cộng hoà, vùng, krai, Moskva và Sankt-Peterburg) đều được trao những quyền tự trị rất lớn. Trong khi hành động cải cách triệt để này có mục tiêu nhằm giúp cho các thủ đoạn chính trị của Yeltsin trong giai đoạn đầu thập niên 1990, nó cũng dẫn tới tình trạng phá vỡ các quy tắc liên bang và góp phần làm lớn mạnh các phong trào li khai, nổi tiếng nhất như tại Chechnya. Vì thế, một trong những đạo luật đầu tiên của Putin, nhằm tái lập lại cái mà ông gọi là "quyền lực theo chiều dọc" – nghĩa là quay trở lại với hệ thống liên bang từ trên xuống theo truyền thống. Trong hành động đầu tiên, Putin thông báo chỉ định bảy vị "đại diện toàn quyền" của tổng thống. Trong khi được coi là hành động thức hai nhằm phá vỡ kiểu nhà nước liên bang thời Yeltsin, vì nhiều lý do hệ thống đại diện toàn quyền đã mang lại một số thành công. Một hành động khác còn mang ý nghĩa quan trọng hơn, Putin cũng đã tiến hành cải cách triệt để hệ thống Thượng viện Nga, Ủy ban Liên bang. Putin và bộ máy của mình trực tiếp đối đầu với nhiều vị Thống đốc bất tuân bị buộc tội tham nhũng, dù không phải lúc nào cũng là người chiến thắng.
Những tháng đầu tiên trong nhiệm kỳ tổng thống thứ nhất của Putin được đánh dấu bằng sự dàn xếp quan hệ với các nhóm tài chính-công nghiệp lớn, mà các nguồn tài chính cũng như các đế chế truyền thông của họ từng là những vũ khí quan trọng trong cuộc chiến tranh chính trị xảy ra trong nước những năm trước đó. Các thành viên chủ chốt trong bộ máy cũ của Yeltsin – thường được gọi thông tục là "the Family" (Gia đình) – do Vladimir Aleksandrovich Gusinsky, người từng ủng hộ bộ đôi Primakov/Luzhkov cầm đầu. Trong vòng một năm từ khi Putin lên nắm quyền, Gusinsky từ lúc là một kẻ có ảnh hưởng trở thành người bị giam vào tù. Thành tích ấn tượng nhất của Putin trong nhiệm kỳ tổng thống thứ nhất là ngay khi vừa lên cầm quyền ông đã vực dậy nền kinh tế Nga từ chỗ suy thoái nhiều năm liền chuyển sang tăng trưởng. Nước Nga bắt đầu hồi sinh dưới sự lãnh đạo của Putin.
Cuộc khủng hoảng lớn nhất Putin phải đối mặt trên cương vị tổng thống xảy ra tháng 8 năm 2000, khi chiếc tàu ngầm nguyên tử Nga Kursk đắm ngoài khơi bán đảo Kola, làm thiệt mạng 118 thủy thủ trên tàu. Rất nhiều người thuộc đủ mọi tầng lớp trong xã hội Nga tức giận với sự thất bại của chính phủ và quân đội trong việc cung cấp những thông tin đáng tin cậy về mức độ và sự chắc chắn của thảm họa trong những ngày đầu tiên. Sau nhiều ngày để dân chúng tức giận và ngày càng hoang mang, Putin cắt ngắn kì nghỉ của mình, quay trở lại Moskva nhận trách nhiệm trực tiếp giải quyết cuộc khủng hoảng. Cho tới khi chiếc tàu ngầm được kéo lên, ủy ban điều tra của chính phủ về vụ tai nạn này đã đưa ra rất nhiều giả thuyết về nguyên nhân, gồm cả việc va chạm với tàu ngầm của NATO (một giả thuyết không bao giờ được các bằng chứng ủng hộ và bị các nước thuộc liên minh bác bỏ). Tuy Putin bị chỉ trích trên các phương tiện thông tin đại chúng Nga vì sự bất lực của mình trong những giai đoạn đầu cuộc khủng hoảng, nhưng nó không để lại những hậu quả lâu dài đối với hình ảnh ông trong lòng nhân dân.
Putin không ủng hộ việc xóa bỏ quá khứ Liên bang Xô viết ra khỏi lịch sử nước Nga — vốn là chính sách trước kia của Yeltsin nhằm mục đích chính là đối phó với các đối thủ của Đảng Cộng sản Nga. Ông đã miêu tả niềm tin của mình rằng Liên Xô trước kia là một phần quan trọng trong lịch sử Nga và những di sản của Liên Xô có một ảnh hưởng lớn trên việc hình thành xã hội Nga hiện đại. Vì thế, Putin đã đưa một số biểu tượng thời Xô viết đã quay trở lại nước Nga, như lá cờ đỏ của Hồng quân, tiêu ngữ "Ngôi sao Xô Viết", và Quốc ca Liên Xô (được sửa chữa lời nhưng giữ nguyên nền nhạc) – tất cả những thứ đó đã tạo được ấn tượng tốt với đa số dân chúng Nga. Trả lời những người chỉ trích các hành động đó, Putin đã đưa ra lý lẽ rằng ông là tổng thống của mọi người Nga - gồm cả những người về hưu đã mất mọi thứ cùng với sự chuyển tiếp thời hậu Xô viết, những người vẫn trung thành với những biểu tượng của quá khứ.
Đảng Nước Nga thống nhất ủng hộ Putin đã giành được một thắng lợi vô tiền khoáng hậu trong cuộc Bầu cử Nghị viện Nga 2003. Các nhà quan sát chính thức từ nước ngoài đã gọi đó là một cuộc bầu cử tự do nhưng ghi chú rằng các cơ quan truyền thông lớn do nhà nước kiểm soát, đặc biệt là Truyền hình quốc gia Nga, đã tiến hành các chiến dịch truyền thông rộng lớn và không công bằng dành riêng cho đảng cầm quyền. Quả vậy, đa số các đài truyền hình Nga hiện dưới quyền quản lý trực tiếp hay gián tiếp của Kremlin. Trong khi có số độc giả hạn chế hơn, các tờ báo hiện đa dạng hơn; một số tờ chỉ trích chính phủ Kremlin, trong khi số khác ủng hộ đường lối chính phủ. Một trong hai tờ báo thương mại chính chính, Kommersant, do Boris Abramovich Berezovsky trực tiếp kiểm soát, trong khi tờ kia – tờ Vedomosti vốn được độc giả rất tin tưởng – thuộc sự đồng sở hữu của hai tờ Financial Times và Wall Street Journal.
Những lời chỉ trích trong nước và quốc tế buộc tội Putin đã đạo diễn các phiên tòa xử các nhân vật đầu sỏ chính trị như Boris Abramovich Berezovsky, Vladimir Aleksandrovich Gusinsky, và sau này là Mikhail Borisovich Khodorkovsky như một phần trong nỗ lực của Kremlin nhằm kiểm soát toàn bộ phương tiện truyền thông Nga và các lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế Nga. Về phần mình, chính quyền của Putin đã đưa ra lập luận rằng những hành động của họ chống lại các nhân vật đầu sỏ trên dựa trên tinh thần pháp luật và nhằm kìm chế cũng như hủy bỏ những vấn đề xung đột nghiêm trọng trong nền kinh tế Nga sau nhiều năm có được đặc quyền đặc lợi.
Ngày 24 tháng 2 năm 2004, chưa tới một tháng trước cuộc bầu cử, Putin đã cách chức Thủ tướng Kasyanov và toàn bộ chính phủ Nga và chỉ định Viktor Borisovich Khristenko làm quyền thủ tướng. Ngày 1 tháng 3, ông chỉ định Mikhail Yefimovich Fradkov vào vị trí này.
Nhiệm kỳ Tổng thống thứ hai
Ngày 14 tháng 3 năm 2004, Putin thắng cử nhiệm kỳ hai với 71 phần trăm số phiếu bầu. Một lần nữa các kênh truyền hình lại thực hiện một chiến dịch tuyên truyền một phía ủng hộ Putin, đa số chúng đều là các kênh do nhà nước sở hữu hay kiểm soát. Tuy nhiên, chiến dịch tranh cử và việc kiểm phiếu đều được các phái đoàn của Văn phòng vì các Thể chế Dân chủ và Nhân quyền thuộc Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu tuyên bố là "tự do và công bằng".
Ngày 13 tháng 9 năm 2004, sau vụ Khủng hoảng con tin trường học tại Beslan, và những vụ tấn công hầu như đồng thời của những kẻ khủng bố Chechnya vào Moskva, Putin đã đưa ra một sáng kiến nhằm thay thế cuộc bầu cử các thống đốc vùng bằng một hệ thống theo đó họ sẽ được Tổng thống đề cử và được chấp nhận hay không bởi các cơ quan hành pháp địa phương. Những người phản đối sáng kiến này, gồm cả Mikhail Gorbachev, Boris Yeltsin, và Colin Powell, những người chỉ trích coi đó là một bước xa rời dân chủ ở Nga và quay lại với bộ máy tập trung trung ương thời kỳ Xô viết. Cùng ngày hôm đó, Putin đã công khai ủng hộ kế hoạch của Ủy ban Bầu cử Trung ương về việc bầu các đại biểu Duma dựa hoàn toàn trên sự giới thiệu từ các vùng, chấm dứt một nửa các cuộc bầu cử đại biểu tại các đơn vị chỉ bầu một người.
Ngày 25 tháng 4 năm 2005, Putin đã gây ra một số cuộc tranh luận, khi trong một bài phát biểu trước Quốc hội, được phát trên truyền hình quốc gia đã coi sự sụp đổ của Liên bang Xô viết như là "thảm họa địa chính trị lớn nhất thế kỷ." Lời nói này được phương Tây và một số nước xung quanh nhìn nhận với thái độ chỉ trích; sau này Putin đã nói rõ rằng ông không hẳn ca ngợi Liên bang Xô viết cũ mà chỉ muốn nhấn mạnh tới ảnh hưởng mạnh mẽ của sự sụp đổ này trên thế giới, đặc biệt với kinh tế và đời sống người dân từ các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ [22] và sự dịch chuyển dân cư một phần gây ra từ tình cảm chống Nga tại nhiều nước cộng hòa đó. Trước năm 2005, ngày kỉ niệm Cách mạng tháng Mười 7/11 hàng năm là ngày nghỉ lễ trên toàn nước Nga. Kể từ năm 2005 ngày nghỉ lễ 7/11 tại Nga đã bị Putin bãi bỏ và chỉ còn là một ngày bình thường. Tuy nhiên vài năm sau ông lại khôi phục lễ kỷ niệm ngày này với tên khác là “Ngày vinh quang chiến đấu”.
Một trong những khía cạnh gây tranh luận nhiều nhất trong nhiệm kỳ thứ hai của Putin là việc truy tố người giàu nhất nước Nga, Mikhail Khodorkovsky, Chủ tịch công ty dầu mỏ Yukos. Trong khi đa phần phương tiện truyền thông quốc tế coi đó là hành động chống lại một người từng cung cấp tài chính cho các đối thủ chính trị của Kremlin, chính phủ Nga tuyên bố rằng Khodorkovsky trên thực tế đã thực hiện hành vi mua chuộc phần lớn đại biểu Hạ viện Nga, ngăn chặn việc đưa ra những sửa đổi về thuế nhằm kiếm lợi ích riêng. Chắc chắn rằng, những vụ tư nhân hóa trước đó, gồm cả việc tư nhân hoá Yukos, đều được coi là có sự gian dối (Yukos, được định giá 30 tỷ dollar năm 2004, từng được định giá bán cho Khodorkovsky chỉ có 110 triệu dollar), và giống như những nhóm chính trị đầu sỏ khác, cái tên Yukos-Menatep luôn gắn liền với những lời buộc tội có liên quan tới các tổ chức tội phạm. Những đầu sỏ tài phiệt khác, từng thiết lập được quan hệ tốt với Kremlin, như Roman Abramovich và Vladimir Potanin, không bị đặt vấn đề nghi vấn tài sản ở mức độ như vậy.
Khi nhiệm kỳ thứ 2 sắp kết thúc, nhiều người đã đề nghị sửa đổi Hiến pháp Nga để cho phép Putin ra tranh cử Tổng thống lần thứ 3. Tuy nhiên ông đã từ chối điều này và tuyên bố dù không ở cương vị tổng thống, ông vẫn muốn có ảnh hưởng đến tình hình chính trị của nước Nga. Trong cuộc bầu cử Duma năm 2007, Đảng Nước Nga Thống nhất (Единая Россия) do ông đứng đầu đã chiến thắng với 64,5% số phiếu ủng hộ, qua đó để ngỏ khả năng ông lên làm Thủ tướng hoặc Chủ tịch Duma. Ngày 10 tháng 12 năm 2007, Putin tuyên bố ủng hộ Phó thủ tướng Dmitry Medvedev trở thành người kế nhiệm mình.[23] Ngay lập tức, Dmitry Medvedev đề nghị Putin trở thành thủ tướng nếu ông trúng cử Tổng thống.[24] Ngày 17 tháng 12, Putin tuyên bố đồng ý nắm chức thủ tướng sau cuộc bầu cử năm tới.[25]
Dù có nhiều thành tựu nhưng dưới thời Putin các chỉ số khả năng cạnh tranh và điều kiện kinh doanh chưa có nhiều cải thiện, tham nhũng lại gia tăng. Sự phát triển kinh tế hiện nay của nước Nga phần lớn là do giá dầu tăng nhiều hơn là do hiệu quả của các chính sách của Putin[26]
Gần 10 năm thực hiện chính sách tái thiết nước Nga, Putin đã ổn định đáng kể tình hình đất nước, giúp cho xã hội quay lại hoài niệm về cường quốc Xô viết, đồng thời ông cũng công kích Mỹ và các nước phương Tây. Phương Tây thì cáo buộc ông kiểm soát chặt chẽ truyền thông và trấn áp những người đối lập.
Nhiệm kỳ Tổng thống thứ ba

Nước Nga đã phát triển bùng nổ trong hai nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên của Putin từ năm 2000 đến năm 2008 nhờ giá dầu và giá các mặt hàng xuất khẩu của nước này tăng cao trong giai đoạn này. Tăng trưởng trung bình hàng năm của Nga trong giai đoạn này lên tới mức 7% và Putin cam kết sẽ nhanh chóng đưa nền kinh tế Nga trở lại các mức tăng trưởng cao này sau khi Nga bị suy giảm tới 7,9% trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2009.
Bộ trưởng Kinh tế Nga Alexei Ulyukayev cảnh báo rằng nước Nga có nguy cơ đối mặt với tăng trưởng thấp do Điện Kremlin không thực hiện các cải cách trong khi giá dầu vẫn ở mức cao. Ulyukayev đã dự báo mức tăng trưởng GDP trung bình hàng năm của Nga chỉ khoảng từ 2,5% - 3,0% từ nay cho đến tận năm 2025. Khu vực dầu mỏ và khí đốt tự nhiên của Nga chiếm tới gần 25% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và khoảng 30% tổng thu nhập ngân sách quốc gia. Ngoài ra, bộ máy hành chính cồng kềnh, quan liêu ngày càng phình to và chi tiêu quốc gia thiếu hiệu quả cũng là những nhân tố cản trở tới mức tăng trưởng.
Vào ngày 4 tháng 3 năm 2012, Putin đắc cử Tổng thống Nga nhiệm kỳ thứ 3, với 63,6% số phiếu bầu. Phe đối lập với ông đã liên tục cáo buộc bầu cử bị gian lận. Nhiều cuộc biểu tình chống Putin đã diễn ra ngay trong và sau chiến dịch tranh cử tổng thống. Khoảng 20.000 người đã tụ tập tại Moscow vào ngày 6 tháng 5 để phản đối việc Putin nắm quyền tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa. Đã xảy ra đụng độ, khoảng 30 cảnh sát bị thương và hàng trăm người bị bắt.[27][28][29][30] Một cuộc tập hợp của 130.000 người ủng hộ Putin cũng diễn ra khi ông phát biểu tại sân vận động Luzhniki ở Moscow, tuy vậy có những thông tin cho rằng một số người trong số đó là lao động do chủ cử đến, hoặc nhận tiền để đến, một số khác thì cho biết rằng họ tham gia vì lầm tưởng rằng đây là một lễ hội dân gian nào đó chứ không hề có ý tới để ủng hộ cho ông Putin[31][32][33][34]
Vào năm 2014, quân đội Nga đã thực hiện một số cuộc xâm nhập trái phép vào lãnh thổ Ukraine. Sau cuộc biểu tình Euromaidan và sự sụp đổ của chính quyền Tổng thống Ukraine Viktor Yanukovych, lực lượng vũ trang đặc biệt của Nga đã nhanh chóng kiểm soát các vị trí chiến lược và cơ sở hạ tầng trong phạm vi lãnh thổ Ukraine của Crimea. Nga sau đó đã sáp nhập Crimea sau cuộc trưng cầu dân ý, khi mà người dân Crimea bỏ phiếu sáp nhập vùng lãnh thổ này vào Liên bang Nga. Sau đó, các cuộc biểu tình của các nhóm thân Nga ở vùng Donbass của Ukraine đã leo thang thành một cuộc xung đột vũ trang giữa chính phủ Ukraine và lực lượng ly khai do Nga hậu thuẫn tại Donetsk và Lugansk. Các quốc gia phương Tây và các tổ chức như Tổ chức Ân xá quốc tế đã lên án Nga vì những hành động của họ ở Ukraine sau cuộc cách mạng, cáo buộc Nga vi phạm luật pháp quốc tế và vi phạm chủ quyền của Ukraine. Nhiều quốc gia áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Nga. Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua nghị quyết tuyên bố rằng cuộc trưng cầu dân ý không hợp lệ, và sự sáp nhập Crimea vào Nga là bất hợp pháp.[35][36]
Các động thái của Putin đối với vấn đề Ukraine hoàn toàn mâu thuẫn với tuyên bố trước đó của ông (vào năm 2008, chính Putin đã từng khẳng định rằng Crimea là một phần lãnh thổ không thể tách rời của Ukraine và tuyên bố Nga không hề có ý định xâm phạm chủ quyền của Ukraine).[37] Giữa năm 2014, tỷ lệ ủng hộ ông Putin đã tăng vọt sau khi Nga sáp nhập Crimea. Với sự kiện sáp nhập Crimea, người dân Nga đã lại có cơ hội để nhớ về vị trí siêu cường như trước đây. Theo TASS, kết quả khảo sát của hãng điều tra VTSIOM công bố ngày 3/8/2017 cho thấy tỉ lệ ủng hộ ông Vladimir Putin ở cương vị Tổng thống Nga là 83,5% vào cuối tháng 7/2017.[38][39]
Cuối 2014, Nga lâm vào cuộc cuộc khủng hoảng tài chính dẫn tới sự suy giảm nhanh chóng giá trị của đồng rúp Nga đối với các đồng tiền khác trong năm 2014 và suy thoái trong nền kinh tế Nga.[40][41] Hai trong số những yếu tố chính góp phần vào sự suy giảm kinh tế Nga là do việc các nước phương Tây áp đặt trừng phạt kinh tế do sự can thiệp quân sự của Nga ở Ukraina[41] và việc giảm giá của dầu thô, là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Nga, giảm giá gần 50% so với mức cao của năm trong tháng 6 năm 2014 đến ngày 16 tháng 12 năm 2014.[40][42] Khủng hoảng này đã ảnh hưởng đến nền kinh tế Nga, bao gồm cả người tiêu dùng và các công ty, cũng như có một tác động tiêu cực đến thị trường tài chính toàn cầu. Thực tế đã cho thấy, chính người dân Nga đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do tác động của những biện pháp trừng phạt này mang lại. Lệnh cấm vận của Phương Tây cũng đã ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và tiêu dùng của Nga. Việc giá cả sẽ tăng do tình trạng thiếu hụt và lạm phát tăng, dẫn đến tiết kiệm giảm, tiền lương giảm và thất nghiệp gia tăng, hệ quả là chất lượng cuộc sống của người dân Nga giảm sút, đặc biệt là các gia đình trung lưu và những người Nga nghèo. Trong năm 2015, GDP của Nga giảm 3,7%.[43] Vào năm 2016, mức lương trung bình của người Nga bị sụt giảm xuống chỉ còn 450 USD một tháng (so với mức 967 USD một tháng vào năm 2013), thấp hơn cả Trung Quốc và Ba Lan.[44] Tỉ lệ người nghèo ở Nga đang có chiều hướng gia tăng, từ 16.1 triệu người sống dưới mức nghèo trong năm 2015 đã nhảy vọt lên con số 19.2 triệu người vào năm 2016.[45] Đồng rúp của Nga cũng liên tục mất giá. Tính đến tháng 3 năm 2016, giá trị của đồng rúp chỉ còn bằng 50% so với thời điểm tháng 7 năm 2014.[46]
Sau 2 năm suy giảm, đến cuối năm 2017, sau những cải cách của chính phủ, kinh tế Nga trên đà hồi phục và có mức tăng trưởng khá khả quan. Bối cảnh quốc tế cũng khả quan hơn khi giá dầu thế giới tăng và lần lượt vượt các mốc 60USD/thùng, 70USD/thùng - cao nhất trong 3 năm qua. Ngân hàng Goldman Sachs đầu năm 2018 dự báo tăng trưởng kinh tế Nga sẽ đạt 3,3% trong năm 2018, cao hơn cả những ước tính của chính phủ nước này. Chi tiêu tiêu dùng đang tăng. Lạm phát đã giảm xuống còn dưới 2%.[47] Tuy vậy theo một cuộc khảo sát với 1.400 nhà quản lý doanh nghiệp ở Nga vào năm 2018, hơn 3/4 số người tham gia khảo sát (tỉ lệ 76%) đã đánh giá tình trạng của nền kinh tế Nga hiện nay là "khủng hoảng và thảm khốc", trong khi chỉ 4% cho rằng nền kinh tế đất nước đang hoạt động tốt.[48]
Vào ngày 30 tháng 9 năm 2015, Tổng thống Putin đã cho phép quân đội Nga can thiệp quân sự vào cuộc Nội chiến Syria, sau khi có lời yêu cầu chính thức của chính phủ Syria nhằm giúp đỡ quân đội nước này chống lại phiến quân Nhà nước Hồi giáo tự xưng và các nhóm thánh chiến được Phương Tây bảo trợ. Đến tháng 3 năm 2017, phần lớn quân đội Nga đã rút khỏi Syria, tuy nhiên Nga vẫn duy trì một nhóm tác chiến không quân và cố vấn quân sự để hỗ trợ quân đội Syria.
Nhiệm kỳ Tổng thống thứ tư

Putin đã giành được chiến thắng áp đảo trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2018 với hơn 76% phiếu bầu. Đảng cộng sản Liên bang Nga cáo buộc cuộc bầu cử đã có sự sắp đặt từ trước để cho Putin giành thắng lợi.[49] Hàng trăm người ủng hộ Đảng Cộng sản Nga đã xuống đường biểu tình phản đối Putin vì họ cho rằng cuộc bầu cử tổng thống Nga có sự gian lận.[50] Nhiệm kỳ thứ tư của Putin bắt đầu vào tháng 5 năm 2018.
Theo một cuộc thăm dò ý kiến ở Nga vào năm 2018, số người dân Nga đặt niềm tin đối với Putin đã sụt xuống trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế trì trệ, thu nhập của người dân giảm sút và quyết định tăng tuổi nghỉ hưu của chính phủ vấp phải sự phản đối rộng rãi. Một cuộc khảo sát khác của Trung tâm Levada vào tháng 12 năm 2018 cho thấy 63% người dân ủng hộ chính sách của Putin, tụt giảm so với mức 89% vào tháng 6 năm 2015.[51]
Năm 2018, kinh tế của Nga đã đạt mức tăng trưởng 2,3%, vượt hơn dự báo 1,6% của Ngân hàng Thế giới (WB). Ngân hàng Thế giới cũng dự báo tăng trưởng cho năm 2019 là 1,4%, năm 2020 và 2021 ở mức 1,8%. Nền kinh tế Nga đang phải đối mặt với các nguy cơ cả từ trong và ngoài nước, gồm các lệnh trừng phạt mở rộng, sự xáo trộn tài chính và giá dầu giảm mạnh. Theo WB, việc triển khai thành công và hiệu quả các sáng kiến đầu tư cơ sở hạ tầng của chính phủ cũng góp phần giúp tăng trưởng đầu tư, nếu các dự án quốc gia của Nga được triển khai hiệu quả thì chúng sẽ giúp tăng tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia này, nhưng chỉ sau năm 2021.[52]
Đại dịch COVID-19

Ngày 15 tháng 3 năm 2020, Putin chỉ thị thành lập một Nhóm công tác thuộc Hội đồng Nhà nước nhằm ngăn chặn sự lây lan của COVID-19. Ông bổ nhiệm Thị trưởng Moskva Sergey Sobyanin làm trưởng nhóm.[53]
Ngày 22 tháng 3 năm 2020, sau cuộc điện đàm với Thủ tướng Ý Giuseppe Conte, Putin đã chỉ đạo Quân đội Nga điều động các y bác sĩ quân y, xe khử khuẩn chuyên dụng cùng nhiều thiết bị y tế khác sang hỗ trợ Ý, quốc gia châu Âu chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch COVID-19 lúc bấy giờ.[54] Bản thân ông cũng bắt đầu làm việc từ xa tại văn phòng ở Novo-Ogaryovo. Theo Dmitry Peskov, Putin được xét nghiệm COVID-19 hàng ngày và sức khỏe của ông hoàn toàn không gặp nguy hiểm.[55][56]
Ngày 25 tháng 3, Tổng thống Putin phát biểu trên truyền hình quốc gia, thông báo hoãn cuộc trưng cầu dân ý về hiến pháp ngày 22 tháng 4 do diễn biến phức tạp của dịch bệnh.[57] Ông cũng công bố cho người dân cả nước nghỉ làm hưởng nguyên lương vào tuần kế tiếp, đồng thời kêu gọi mọi người hãy ở nhà.[58][59] Ngoài ra, Putin đã ban hành một loạt biện pháp an sinh xã hội, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như điều chỉnh chính sách tài khóa.[60] Cụ thể, các siêu doanh nghiệp và doanh nghiệp vừa và nhỏ được hoãn nộp thuế (ngoại trừ thuế giá trị gia tăng của Nga) trong vòng 6 tháng, giảm một nửa mức đóng bảo hiểm xã hội và được hoãn đóng khoản này, hoãn trả nợ gốc trong 6 tháng, đồng thời được áp dụng lệnh tạm dừng phạt tiền, thu hồi nợ và dừng tiếp nhận đơn yêu cầu phá sản từ các chủ nợ trong vòng nửa năm.[61][62]
Ngày 2 tháng 4 năm 2020, Putin tiếp tục có bài phát biểu thông báo kéo dài thời gian nghỉ làm việc cho đến ngày 30 tháng 4.[63] Ông ví cuộc chiến chống dịch COVID-19 của Nga tương tự như các cuộc chiến chống lại sự xâm lăng của những bộ tộc du mục thảo nguyên Pecheneg và Cuman vào thế kỷ 10 và 11.[64] Trong một cuộc khảo sát do Trung tâm Levada thực hiện từ ngày 24 đến 27 tháng 4, có 48% số người Nga được hỏi cho biết họ không tán thành cách xử lý đại dịch của vị tổng thống.[65] Việc ông tự cách ly nghiêm ngặt và thiếu đi sự dẫn dắt trực tiếp trong cuộc khủng hoảng đã bị dư luận bàn tán rộng rãi, coi đó là dấu hiệu làm suy giảm hình ảnh một "nhà lãnh đạo mạnh mẽ" của ông.[66][67]

Vào tháng 6 năm 2021, Putin cho biết ông đã tiêm phòng đầy đủ bằng vắc-xin Sputnik V, đồng thời nhấn mạnh rằng dù việc tiêm chủng nên dựa trên tinh thần tự nguyện, nhưng việc tiêm chủng bắt buộc đối với một số ngành nghề nhất định sẽ giúp làm chậm tốc độ lây lan của dịch bệnh.[69] Đến tháng 9, Putin phải tự cách ly sau khi phát hiện nhiều người trong vòng thân cận của ông có kết quả xét nghiệm dương tính.[70]
Khủng hoảng Nga–Ukraine (2021–2022)

Vào tháng 7 năm 2021, Putin đã xuất bản một bài luận có tiêu đề Về thống nhất lịch sử của người Nga và người Ukraina. Trong đó, ông tuyên bố rằng người Belarus, người Ukraina và người Nga thuộc cùng một dân tộc toàn Nga, đồng thời khẳng định họ là "một dân tộc" bị chia rẽ bởi "các thế lực luôn tìm cách phá hoại sự đoàn kết của chúng ta" nhằm mục đích "chia để trị".[71] Bài luận này cũng bác bỏ sự tồn tại của Ukraine với tư cách là một quốc gia độc lập.[72][73]
Ngày 30 tháng 11 năm 2021, Putin tuyên bố rằng việc NATO mở rộng tầm ảnh hưởng sang Ukraine sẽ là "lằn ranh đỏ" đối với Nga.[74][75][76] Điện Kremlin liên tục phủ nhận mọi kế hoạch xâm lược Ukraina,[77][78][79] và cá nhân Putin cũng gạt bỏ những lo ngại này, coi đó là sự "gây hoang mang dư luận".[80] Ngày 21 tháng 2 năm 2022, Putin ký sắc lệnh công nhận hai nước cộng hòa tự xưng của phe ly khai tại vùng Donbas là các quốc gia độc lập và có một bài phát biểu về các sự kiện ở Ukraine.[81]
Quyết định phát động chiến dịch quân sự tại Ukraina của Putin được thúc đẩy bởi một nhóm nhỏ các cộng sự thân cận nhất, đặc biệt là Nikolai Patrushev, Yury Kovalchuk và Alexander Bortnikov.[82] Theo các nguồn tin thân cận với Điện Kremlin, phần lớn các cố vấn và cộng sự của vị tổng thống ban đầu đều phản đối hành động quân sự này, nhưng họ đã bị Putin bác bỏ ý kiến. Kế hoạch này trên thực tế đã được chuẩn bị từ trước đó gần một năm.[83]
Xung đột Ukraina (2022–nay)

Vào ngày 24 tháng 2, trong một bài phát biểu trên truyền hình, Putin đã tuyên bố triển khai một "chiến dịch quân sự đặc biệt"[84] tại Ukraine,[85][86] chính thức mở màn cuộc xâm lược.[87] Lấy lý do "phi phát xít hóa", ông tuyên bố cuộc tấn công này nhằm bảo vệ người dân tại vùng Donbas nói tiếng Nga, những người mà theo ông đang phải đối mặt với "sự sỉ nhục và nạn diệt chủng".[88] Mục tiêu của cuộc chiến tranh này là kiểm soát phần còn lại của Ukraine và lật đổ chính phủ dân cử với cái cớ rằng bộ máy này do phát xít điều hành.[89][90] Hành động xâm lược của Nga đã bị cộng đồng quốc tế lên án mạnh mẽ.[91][92][93] Hàng loạt biện pháp trừng phạt quốc tế đã được áp đặt lên Nga, nhắm vào cả cá nhân Putin.[94][95] Cuộc chiến cũng làm dấy lên những lời kêu gọi truy tố Putin vì tội ác chiến tranh.[96][97][98][99] Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) thông báo sẽ tiến hành điều tra các tội ác chiến tranh có khả năng đã xảy ra tại Ukraine kể từ năm 2013,[100] và Hoa Kỳ cam kết hỗ trợ ICC trong việc truy tố này. Để đáp trả, Putin đã lệnh cho các lực lượng răn đe hạt nhân thuộc Lực lượng Tên lửa Chiến lược chuyển sang trạng thái báo động cao.[101] Đến tháng 3, các cơ quan tình báo Mỹ nhận định rằng Putin đang tỏ ra thất vọng trước đà tiến quân chậm chạp của quân đội Nga do vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ ngoài dự kiến từ phía Ukraine.[102]

Vào ngày 4 tháng 3, Putin ký ban hành luật quy định mức án tù lên tới 15 năm đối với hành vi cố tình đăng tải "thông tin sai lệch" về quân đội Nga và các chiến dịch quân sự, khiến một số cơ quan truyền thông tại Nga phải ngừng đưa tin về tình hình Ukraine.[103] Ngày 7 tháng 3, Điện Kremlin đưa ra điều kiện để chấm dứt chiến sự là Ukraine phải giữ trạng thái trung lập, công nhận Krym thuộc lãnh thổ Nga và công nhận chủ quyền độc lập của hai nước cộng hòa tự xưng Donetsk và Luhansk.[104][105] Putin cũng cam kết sẽ không sử dụng lính nghĩa vụ trong chiến dịch này.[106] Ngày 16 tháng 3, vị tổng thống đưa ra lời cảnh báo đối với những kẻ "phản bội" mà ông cho là đang bị phương Tây lợi dụng làm lực lượng thứ năm nhằm hủy hoại nước Nga.[107][108] Sau khi chiến sự nổ ra,[109] tình trạng khủng hoảng nhân khẩu học kéo dài tại Nga càng thêm trầm trọng do làn sóng di cư, tỷ lệ sinh giảm và thương vong từ chiến trường.[110]
Vào tháng 9, Putin tuyên bố lệnh động viên một phần, diễn ra sau sự kiện Ukraine phản công thành công tại Kharkiv cũng như các cuộc trưng cầu dân ý sáp nhập ở các vùng lãnh thổ do Nga kiểm soát tại Ukraine.[111]

Ngày 30 tháng 9, Putin ký các sắc lệnh sáp nhập bốn tỉnh Donetsk, Luhansk, Zaporizhzhia và Kherson của Ukraine vào lãnh thổ Nga. Các tuyên bố sáp nhập này không được cộng đồng quốc tế công nhận và bị coi là bất hợp pháp theo luật pháp quốc tế.[112] Đến ngày 11 tháng 11 cùng năm, quân đội Ukraine đã giải phóng thành phố Kherson.[113]
Vào tháng 12 năm 2022, ông nhận định cuộc chiến chống Ukraine có thể là một "quá trình lâu dài".[114] Cho đến nay, hàng trăm nghìn người đã thiệt mạng trong cuộc Chiến tranh Nga-Ukraine.[115][116] Vào tháng 1 năm 2023, Putin đã đưa ra điều kiện tiên quyết cho các cuộc đàm phán hòa bình là phía Ukraine phải công nhận chủ quyền của Nga đối với các vùng lãnh thổ đã sáp nhập này.[117]
Vụ nổi loạn Wagner năm 2023

Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tổ chức bán quân sự Nga Tập đoàn Wagner đã phát động cuộc nổi loạn chống lại Chính phủ Nga. Cuộc binh biến bùng phát trong bối cảnh căng thẳng leo thang đỉnh điểm giữa Bộ Quốc phòng Nga và người đứng đầu lực lượng Wagner, Yevgeny Prigozhin.[118]
Prigozhin tuyên bố cuộc nổi dậy này nhằm đáp trả một vụ tấn công được cho là do Bộ Quốc phòng Nga nhắm vào các căn cứ của quân Wagner.[119][120] Ông cũng bác bỏ những lý do mà chính phủ đưa ra để xâm lược Ukraine,[121] đổ lỗi cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Sergey Shoygu về những thất bại quân sự của đất nước,[122] đồng thời cáo buộc ông Shoygu tiến hành cuộc chiến chỉ vì lợi ích của giới tài phiệt Nga.[123][124] Trong bài phát biểu trên truyền hình ngày 24 tháng 6, Tổng thống Nga Vladimir Putin lên án hành động của Wagner là sự phản quốc và cam kết sẽ trấn áp cuộc nổi dậy này.[120][125]
Các lực lượng của Prigozhin đã giành quyền kiểm soát thành phố Rostov trên sông Don cùng bộ chỉ huy Quân khu Phía Nam, rồi thiết lập một đoàn xe bọc thép tiến về hướng Moskva.[126] Sau các cuộc đàm phán với Tổng thống Belarus Alexander Lukashenko,[127] Prigozhin đã chấp nhận rút lui[128] và bắt đầu rút quân khỏi Rostov trên sông Don vào cuối ngày 24 tháng 6.[129]
Vào ngày 23 tháng 8 năm 2023, đúng hai tháng sau vụ nổi loạn, Prigozhin cùng 9 người khác đã tử nạn khi chiếc máy bay tư nhân chở họ bị rơi tại Tỉnh Tver, nằm ở phía bắc Moskva.[130] Tình báo phương Tây báo cáo rằng vụ tai nạn nhiều khả năng do một vụ nổ trên máy bay gây ra, và dư luận nghi ngờ có sự can thiệp từ phía chính quyền Nga.[131]
2024–nay: Nhiệm kỳ tổng thống thứ năm

Putin đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Nga năm 2024 với 88% số phiếu bầu.
Vào ngày 22 tháng 3 năm 2024, vụ tấn công khủng bố tại Crocus City Hall xảy ra, khiến ít nhất 145 người thiệt mạng và hơn 551 người khác bị thương.[132][133] Đây được coi là vụ tấn công khủng bố đẫm máu nhất trên lãnh thổ Nga kể từ sau vụ bắt giữ con tin tại trường học Beslan năm 2004.[134][135]
Ngày 7 tháng 5 năm 2024, Putin chính thức nhậm chức Tổng thống Nga lần thứ năm. Theo các nhà phân tích, việc thay thế Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Sergey Shoygu bằng ông Andrey Belousov là tín hiệu cho thấy Putin muốn chuyển dịch nền kinh tế Nga sang mô hình kinh tế thời chiến và đang "chuẩn bị cho cuộc chiến kéo dài thêm nhiều năm nữa".[136][137] Vào tháng 5 năm 2024, bốn nguồn tin từ Nga chia sẻ với Reuters rằng Putin sẵn sàng chấm dứt chiến tranh tại Ukraine bằng một lệnh ngừng bắn thông qua đàm phán, trong đó công nhận các vùng lãnh thổ mà Nga đã kiểm soát được và đóng băng cuộc chiến tại các chiến tuyến hiện tại, do vị tổng thống muốn tránh các bước đi không lòng dân như ban bố thêm lệnh động viên toàn quốc hay tăng chi phí chiến tranh.[138]
Chính sách đối nội
Các chính sách đối nội của Putin, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, đều nhằm mục đích xây dựng một trục quyền lực dọc. Ngày 13 tháng 5 năm 2000, ông ban hành sắc lệnh tổ chức lại 89 chủ thể liên bang của Nga thành 7 vùng liên bang hành chính, đồng thời bổ nhiệm một phái viên tổng thống (với chức danh chính thức là Đại diện toàn quyền) chịu trách nhiệm quản lý mỗi vùng này.[139]

Theo nhà nghiên cứu Stephen White, dưới thời tổng thống của Putin, nước Nga đã thể hiện rõ ràng lập trường không có ý định xây dựng một "bản sao" của hệ thống chính trị Mỹ hay Anh, mà hướng tới một hệ thống gần gũi hơn với truyền thống và điều kiện thực tế của chính nước Nga.[140] Một số nhà bình luận đã mô tả chính quyền của Putin là một nền "dân chủ chủ quyền".[141][142][143] Theo những người ủng hộ thuật ngữ này (tiêu biểu là Vladislav Surkov), các hành động và chính sách của chính phủ trước hết phải nhận được sự ủng hộ của đông đảo người dân trong nước, chứ không được phép chịu sự điều khiển hay chi phối từ bên ngoài.[144] Phương thức vận hành của hệ thống này được nhà kinh tế học người Thụy Điển Anders Åslund đặc tả là "quản trị bằng tay" (manual management). Ông nhận định: "Sau khi tái đắc cử tổng thống vào năm 2012, phương thức cầm quyền của ông được mô tả chính xác nhất là 'quản trị bằng tay' theo cách nói của người Nga. Putin làm bất cứ điều gì mình muốn mà ít khi bận tâm đến hệ quả, ngoại trừ một lưu ý quan trọng. Trải qua cuộc khủng hoảng tài chính Nga vào tháng 8 năm 1998, Putin hiểu rằng khủng hoảng tài chính sẽ gây bất ổn về mặt chính trị và bằng mọi giá phải tránh điều đó. Do đó, ông rất quan tâm đến sự ổn định tài chính".[145]
Giai đoạn sau năm 2012 đã chứng kiến hàng loạt cuộc biểu tình quy mô lớn chống lại tình trạng gian lận bầu cử, kiểm duyệt và việc siết chặt các luật về tự do hội họp. Vào tháng 7 năm 2000, theo một đạo luật do Putin đề xuất và được Nghị viện Liên bang Nga thông qua, Putin đã giành được quyền miễn nhiệm người đứng đầu của 89 chủ thể liên bang. Đến năm 2004, hình thức bầu cử phổ thông trực tiếp để chọn ra các lãnh đạo địa phương (thường gọi là "thống đốc") đã bị bãi bỏ; thay vào đó là hệ thống mới mà theo đó họ sẽ do tổng thống đề cử và được hội đồng lập pháp địa phương phê chuẩn hoặc bác bỏ.[146][147] Putin coi đây là bước đi cần thiết nhằm ngăn chặn các xu hướng ly khai và loại bỏ những thống đốc có mối liên hệ với tội phạm có tổ chức.[148] Động thái này cùng với các chính sách khác dưới thời tổng thống của ông đã vấp phải sự chỉ trích từ nhiều cơ quan truyền thông độc lập tại Nga cũng như các nhà bình luận phương Tây, họ coi đó là các bước đi phi dân chủ.[149][150]
Trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, Putin đã thanh lọc một số tài phiệt kinh tế từ thời Yeltsin cùng các đối thủ chính trị, dẫn đến việc các nhân vật như Boris Berezovsky, Vladimir Gusinsky và Mikhail Borisovich Khodorkovsky bị bỏ tù hoặc phải sống lưu vong ; trái lại, các tài phiệt khác như Roman Abramovich và Arkady Rotenberg lại là bạn bè và đồng minh thân thiết của ông.[151] Putin cũng thành công trong việc luật hóa luật đất đai, luật thuế và ban hành các bộ luật mới về lao động, hành chính, hình sự, thương mại và tố tụng dân sự.[152] Dưới thời Tổng thống Medvedev, chính phủ của Putin đã thực hiện một số cải cách then chốt trong lĩnh vực an ninh quốc gia, nổi bật là cải cách cảnh sát Nga và cải cách quân đội Nga.[153] Dưới sự lãnh đạo của Putin, Đảng Cộng sản Liên bang Nga cũng dịch chuyển từ một lực lượng cực đoan từng đe dọa châm ngòi nội chiến trở thành một bộ phận của nhóm "đối lập trong hệ thống" với các hoạt động chỉ trích phần lớn chỉ dừng lại ở mức hình thức.[154]
Chống phong trào cổ vũ đồng tính luyến ái
Năm 2013, nước Nga dưới thời Tổng thống Vladimir Putin đã ra bộ luật cấm mọi hình thức tuyên truyền về đồng tính luyến ái và hôn nhân đồng tính.[155] Bộ luật cấm những sự kiện cổ vũ cho người đồng tính, quy định việc cung cấp những thông tin "tuyên truyền việc về đồng tính nữ, lưỡng tính và chuyển giới" cho trẻ vị thành niên là phạm pháp, đồng thời các sự kiện cổ vũ cho quan hệ đồng tính cũng bị cấm. Đây là một nỗ lực nhằm tuyên dương những giá trị truyền thống của nước Nga và chống lại trào lưu cổ vũ đồng tính luyến ái, đòi hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính đến từ các nước phương Tây, mà Chính phủ Nga tin rằng đang làm băng hoại giới trẻ và phá hủy nền tảng luân lý gia đình của nước Nga, khiến nước Nga suy yếu[156] Bộ luật cấm tuyên truyền đồng tính đã được Duma Quốc gia Nga (Hạ viện Nga) thông qua với số phiếu tuyệt đối 436 thuận - 0 phiếu chống, và 88% người dân Nga được phỏng vấn đã bày tỏ ủng hộ đối với lệnh cấm[157] Bên cạnh đó, từ năm 2015, Chính quyền thành phố Moskva và quốc hội Nga đã đề ra Ngày tình yêu gia đình để tập hợp các chiến dịch tuyên truyền bảo vệ giá trị gia đình truyền thống, ngăn chặn sự truyền bá của các nhóm hoạt động đồng tính, các tổ chức phi chính phủ đòi hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính.[158]
Tổng thống Nga Vladimir Putin lý giải:
- "Vấn đề đồng tính ở Nga đã được cố tình phóng đại từ bên ngoài vì những lý do chính trị, và tôi tin rằng, đó không phải là những mục đích tốt... Tôi không thấy bất cứ điều gì phản dân chủ trong hành vi pháp lý này. Tôi tin rằng chúng ta nên để trẻ em sống trong yên bình. Chúng ta cần phải cung cấp cho trẻ em một cơ hội để phát triển, giúp trẻ em nhận ra mình là ai và có quyền đưa ra quyết định cho mình. Trẻ em muốn sống trong một cuộc hôn nhân tự nhiên bình thường hay là một cuộc hôn nhân phi truyền thống? Đó là điều duy nhất tôi muốn nói"[159] Putin cho biết chính sách cấm đồng tính luyến ái là vấn đề quan trọng cho việc duy trì dân số đất nước: "Người châu Âu đang chết dần (do già hóa dân số)... và hôn nhân đồng tính không thể tạo ra trẻ em", "chúng tôi có sự lựa chọn cho riêng chúng tôi (nước Nga), và chúng tôi đã làm thế vì đất nước của chúng tôi".[160]
Năm 2020, ông Putin tiếp tục khẳng định nước Nga sẽ không cho phép hôn nhân đồng tính. Trong Hiến pháp Nga sửa đổi năm 2020 do Putin chủ trì xây dựng, định nghĩa về hôn nhân đã ghi rõ: hôn nhân là sự kết hợp "giữa một người nam và một người nữ", quy định này sẽ ngăn chặn mọi ý đồ hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính ở Nga (vì sẽ vi phạm Hiến pháp). Hơn 78% cử tri Nga đã bỏ phiếu đồng ý Hiến pháp Nga sửa đổi này[161] Putin nói:
- "Liên quan đến vấn đề 'phụ huynh số 1' và 'phụ huynh số 2', thì tôi đã nói công khai về điều này và tôi sẽ nhắc lại một lần nữa: chừng nào tôi còn làm tổng thống thì điều này sẽ không xảy ra. (Một đứa trẻ) sẽ phải có cha và mẹ."
Ngày 24 tháng 7 năm 2023, Tổng thống Vladimir Putin đã ký ban hành Luật cấm chuyển giới tại Nga. Theo đó, nước Nga sẽ cấm thực hiện chuyển đổi giới tính và thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân, trừ ngoại lệ là những người bị dị tật bẩm sinh ở bộ phận sinh dục. Các nhà lập pháp Nga nêu lý do ban hành luật này là nhằm bảo vệ các giá trị truyền thống của nước này trước "tư tưởng chống gia đình của phương Tây"[162] Một nguồn tin cho biết luật mới sẽ không chỉ để bảo vệ giá trị gia đình mà còn đảm bảo nguồn nhân lực cho quân đội Nga. Kể từ khi chiến tranh Nga-Ucraina năm 2022 nổ ra, đã có sự gia tăng đáng kể việc nam giới Nga trả tiền cho các phòng khám tư nhân để được cấp giấy xác nhận là người chuyển giới, sau đó họ có thể thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân để trốn nghĩa vụ quân sự[163] Chủ tịch Duma Quốc gia Nga Vyacheslav Volodin ủng hộ luật này, và cho rằng nền công nghiệp chuyển giới đã gây ảnh hưởng xấu tới xã hội, khi số ca phẫu thuật chuyển giới ở Mỹ đã tăng 50 lần trong 10 năm qua, khoảng 1,4% thiếu niên Mỹ từ 13 - 17 tuổi đã tự coi mình là người chuyển giới vào năm 2022. Ông cho rằng "Đây là con đường dẫn đến sự suy thoái của một quốc gia", và luật cấm chuyển giới được Nga ban hành để tránh viễn cảnh tương tự[164]
Tại Hội nghị quốc tế Valdai ngày 21/10/2021, ông Putin tuyên bố phong trào cổ vũ hôn nhân đồng tính, chuyển giới sẽ gây ra sự phá hủy nền tảng đạo đức gia đình, gây ra những hậu quả to lớn không thể lường trước cho xã hội[165]
- Điều thực sự quái dị là trẻ em được dạy dỗ ngay từ nhỏ rằng một cậu bé có thể dễ dàng trở thành một cô gái và ngược lại... Họ làm như vậy trong khi ngăn cản cha mẹ khỏi quá trình này và buộc đứa trẻ phải đưa ra những quyết định có thể đảo lộn cả cuộc đời của chúng. Họ thậm chí không thèm tham khảo ý kiến của các nhà tâm lý học trẻ em - một đứa trẻ ở độ tuổi này thậm chí có khả năng đưa ra quyết định kiểu này không? Nói thẳng ra, điều này cấu thành tội ác chống lại loài người, và nó đang được thực hiện dưới danh nghĩa và dưới ngọn cờ "tiến bộ".
- Một lần nữa, đối với người Nga chúng tôi, đây không phải là một sự suy đoán, mà là những bài học từ lịch sử gian lao và đôi khi bi thảm của chúng tôi. Chi phí cho các thử nghiệm xã hội không hợp lý (hôn nhân đồng tính, chuyển giới) đôi khi vượt quá cả tưởng tượng. Những hành động như vậy không chỉ có thể phá hủy vật chất, mà cả nền tảng tinh thần cho sự tồn tại của con người, để lại những đống đổ nát về mặt đạo đức mà về lâu dài không gì có thể thay thế được.
Chính sách kinh tế, công nghiệp và năng lượng

Khi luận bàn về chính sách kinh tế của Putin, nhà kinh tế học Sergey Guriyev đã chia tiến trình này thành bốn giai đoạn riêng biệt: những năm "cải cách" trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông (1999–2003); những năm "chủ nghĩa nhà nước" (tăng cường kiểm soát của chính phủ) trong nhiệm kỳ thứ hai (2004 đến nửa đầu năm 2008); giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu (nửa cuối năm 2008–2013); và giai đoạn chiến tranh Nga-Ukraine khiến nước Nga ngày càng bị cô lập khỏi nền kinh tế toàn cầu dẫn đến tình trạng trì trệ (2014–nay).[166]
Vào năm 2000, Putin đã phát động "Chương trình Phát triển Kinh tế – Xã hội của Liên bang Nga giai đoạn 2000–2010", nhưng dự án này đã bị đình chỉ vào năm 2008 khi mới chỉ hoàn thành được 30% khối lượng công việc.[167] Được thúc đẩy bởi giai đoạn bùng nổ hàng hóa thập niên 2000 bao gồm cả mức giá dầu cao kỷ lục,[168][169] dưới sự quản lý của chính quyền Putin từ năm 2000 đến năm 2016, mức thu nhập tính theo tỷ giá USD của người dân Nga đã tăng gấp 4,5 lần.[170] Trong suốt 8 năm đầu trị vì của Putin, nền công nghiệp quốc gia đã tăng trưởng mạnh mẽ, kéo theo sự bứt phá của sản xuất, xây dựng, thu nhập thực tế, tín dụng và sự mở rộng của tầng lớp trung lưu.[171][172] Việc thành lập Quỹ ổn định nguồn thu từ dầu mỏ đã cho phép Nga hoàn trả dứt điểm các khoản nợ từ thời Liên Xô vào năm 2005. Sau đó, Nga đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào tháng 8 năm 2012.[173]
Vào năm 2006, Putin triển khai chương trình hợp nhất công nghiệp nhằm đưa các công ty sản xuất máy bay chủ lực về dưới một mái nhà quản lý chung là Tập đoàn Máy bay Thống nhất (UAC).[174][175] Đến tháng 9 năm 2020, Tổng giám đốc UAC thông báo tập đoàn này sẽ nhận được gói bảo trợ tài chính lớn nhất từ chính phủ trong kỷ nguyên hậu Xô Viết dành cho ngành hàng không để thanh toán và tái cơ cấu lại các khoản nợ.[176][177]

Vào năm 2014, Putin đã ký kết một thỏa thuận cung cấp cho Trung Quốc 38 tỷ mét khối khí đốt tự nhiên mỗi năm. Dự án Sức mạnh Siberia – công trình được Putin ca ngợi là "dự án xây dựng lớn nhất thế giới" – đã chính thức đi vào vận hành từ năm 2019, dự kiến kéo dài trong 30 năm với tổng trị giá hợp đồng phía Trung Quốc phải chi trả lên tới 400 tỷ USD.[179] Cuộc khủng hoảng tài chính kéo dài bắt đầu từ nửa cuối năm 2014 khi đồng rúp Nga sụt giá nghiêm trọng do đà lao dốc của giá dầu toàn cầu và các biện pháp trừng phạt quốc tế nhắm vào Nga. Hệ quả là lòng tin của các nhà đầu tư bị suy giảm dẫn đến hiện tượng tháo chạy của dòng vốn, dù một số ý kiến khác lại cho rằng các lệnh trừng phạt này có tác động rất nhỏ hoặc gần như không ảnh hưởng đến nền kinh tế Nga.[180][181][182]
Theo tờ Meduza, kể từ năm 2007, Putin đã nhiều lần đưa ra dự đoán rằng Nga sẽ vươn lên trở thành một trong năm nền kinh tế lớn nhất thế giới. Vào năm 2013, ông khẳng định Nga đã nằm trong top 5 nền kinh tế lớn nhất xét theo tổng sản phẩm quốc nội nhưng thừa nhận quốc gia này vẫn còn tụt hậu so với các nước khác ở các chỉ số phát triển như năng suất lao động.[183] Tính đến cuối năm 2023, Putin đã phê duyệt kế hoạch phân bổ gần 40% nguồn chi tiêu công dành riêng cho lĩnh vực quốc phòng và an ninh.[184]
Chính sách môi trường
Vào năm 2004, Putin đã ký phê chuẩn hiệp định Nghị định thư Kyoto nhằm mục đích cắt giảm lượng khí thải gây ra hiệu ứng nhà kính.[185] Tuy nhiên, Nga không phải đối mặt với các mục tiêu cắt giảm bắt buộc, bởi Nghị định thư Kyoto giới hạn lượng khí thải dựa trên tỷ lệ phần trăm tăng hoặc giảm so với mức đỉnh của năm 1990. Do sự sụt giảm của các hoạt động kinh tế sau khi Liên Xô tan rã, lượng phát thải khí nhà kính của Nga đã thấp hơn rất nhiều so với mốc năm 1990,[186]
Đến năm 2019, Nga chính thức tham gia Thỏa thuận Paris.[187] Mục tiêu của Nga là đạt mức phát thải ròng bằng không vào năm 2060, thế nhưng chiến lược năng lượng tầm nhìn đến năm 2035 của quốc gia này phần lớn vẫn tập trung vào việc gia tăng đốt nhiên liệu hóa thạch.[188][189] Việc báo cáo lượng phát thải từ hoạt động quân sự chỉ mang tính tự nguyện và tính đến năm 2024, không có dữ liệu nào được công bố kể từ thời điểm trước cuộc xâm lược Ukraine năm 2022.[190]
Putin từng mô tả biến đổi khí hậu là một thực tế đáng lo ngại và để lại những hệ lụy lớn cho nước Nga. Dù tỏ ra hoài nghi về việc biến đổi khí hậu là do con người gây ra, ông khẳng định Nga sẽ nỗ lực giảm lượng khí thải nhân tạo bằng cách phát triển rừng và sử dụng "năng lượng phát thải thấp" như khí đốt tự nhiên, năng lượng hạt nhân và thủy điện. Ông cũng lập luận rằng các nước giàu nên hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ cho các quốc gia nghèo hơn để giúp họ cắt giảm lượng khí thải.[191] Chuyên gia năng lượng Tatiana Lanshina đã ví chính sách của Putin như một "sự ngụy tạo chính sách khí hậu", đồng thời cáo buộc ông đang biến chủ nghĩa bảo vệ môi trường thành một công cụ để gây ảnh hưởng chính trị.[192]
Chính sách tôn giáo

Putin thường xuyên tham dự các buổi lễ quan trọng nhất của Giáo hội Chính thống giáo Nga vào các ngày đại lễ, ông cũng xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với các Thượng phụ của Giáo hội Nga, bao gồm cố Thượng phụ Alexy II và Thượng phụ đương nhiệm Kirill. Với tư cách là tổng thống, cá nhân Putin đã tích cực thúc đẩy việc ký kết Đạo luật Hiệp thông Tòa thánh với Thượng phụ Moskva vào ngày 17 tháng 5 năm 2007. Đạo luật này đã giúp hàn gắn mối quan hệ giữa Giáo hội Chính thống giáo Nga đặt tại Moskva và Giáo hội Chính thống giáo Nga ở hải ngoại sau làn sóng ly giáo kéo dài suốt 80 năm.[193]
Dưới thời Putin, Liên đoàn các Cộng đồng Do Thái Nga theo giáo phái Hasidic ngày càng gia tăng tầm ảnh hưởng trong cộng đồng người Do Thái. Điều này một phần xuất phát từ tiếng nói của các doanh nhân tài trợ cho Liên đoàn thông qua mối liên minh của họ với Putin, tiêu biểu là Lev Leviev và Roman Abramovich.[194][195] Theo hãng tin Do Thái (JTA), Putin nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ cộng đồng Do Thái Nga, những người luôn coi ông là biểu tượng giữ vững sự ổn định. Berel Lazar, Thượng phụ rabbi của Nga, chia sẻ rằng Putin "đã dành sự quan tâm lớn đến các nhu cầu của cộng đồng chúng tôi và đối xử với chúng tôi bằng một sự tôn trọng sâu sắc".[196] Vào năm 2016, ông Ronald Lauder, Chủ tịch Đại hội Do Thái Thế giới, cũng dành lời khen ngợi Putin khi đã biến Nga thành "một quốc gia luôn chào đón người Do Thái".[197]
Trái lại, các tổ chức nhân quyền và những nhà bảo vệ tự do tôn giáo đã lên tiếng chỉ trích thực trạng tự do tôn giáo tại Nga.[198] Vào năm 2016, Putin đã thông qua đạo luật nghiêm cấm các hoạt động truyền giáo trên toàn lãnh thổ Nga.[198] Nhiều nhóm tôn giáo thiểu số đã bị đàn áp dưới danh nghĩa các đạo luật chống chủ nghĩa cực đoan, trong đó chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là giáo phái Nhân chứng Giê-hô-va.[199]
Chính sách đối ngoại

Trong khi tổng thống Putin bị một số nhân vật đồng nhiệm phương Tây chỉ trích là chuyên quyền, các mối quan hệ của ông với Cựu Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush, cựu Thủ tướng Đức Gerhard Schröder, Cựu Tổng thống Pháp Jacques Chirac, và cựu Thủ tướng Italy Silvio Berlusconi rõ ràng là thân thiện. Mối quan hệ của Putin với cựu Thủ tướng của Đức, bà Angela Merkel, được cho là "lạnh" và theo "kiểu thương mại" hơn so với quan hệ với Gerhard Schröder.[200]
Trong thời gian nhiệm kỳ của mình, Putin đã tìm cách tăng cường quan hệ với các nước thành viên khác thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập. Vùng "đệm" với ảnh hưởng truyền thống của Nga một lần nữa lại trở thành chính sách đối ngoại ưu tiên thời Putin, khi EU và NATO đã mở rộng ảnh hưởng ra đa phần các quốc gia vùng Trung Âu và gần đây là cả các nước Baltic. Trong khi khôn khéo chấp nhận sự mở rộng của NATO tới các nước Baltic, Putin tìm cách tăng cường ảnh hưởng của Nga tại Belarus và Ukraina.
Putin đã làm nhiều người theo chủ nghĩa quốc gia Nga và cả bộ trưởng quốc phòng của ông bất ngờ, khi ngay sau Các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa Kỳ, đồng ý thành lập các căn cứ quân sự liên minh tại Trung Á trước và trong khi diễn ra cuộc tấn công quân sự do Mỹ tiến hành vào Afghanistan. Những người theo chủ nghĩa quốc gia Nga phản đối bất kỳ sự hiện diện quân sự Hoa Kỳ nào tại lãnh thổ thuộc Liên Xô cũ, và đã hy vọng rằng Putin sẽ giữ người Mỹ bên ngoài các nước cộng hòa Trung Á, hay ít nhất buộc Washington phải đảm bảo rút quân ngay lập tức khi hoàn thành sứ mệnh. Mặt khác, Putin ủng hộ cuộc chiến tranh chống khủng bố của chính phủ Hoa Kỳ,[201] và đã bày tỏ sự chia buồn sâu sắc tới các nạn nhân của vụ khủng bố kinh hoàng tại Mỹ.
Trong cuộc Khủng hoảng Iraq năm 2003, Putin phản đối hành động xâm lược Iraq của Washington khi chưa có một nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc cho phép rõ ràng một sự sử dụng quân sự như vậy. Sau cuộc chiến này được chính thức tuyên bố kết thúc, Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush đã yêu cầu Liên hiệp quốc dỡ bỏ lệnh cấm vận Iraq. Putin ủng hộ thực hiện việc này theo đúng trình tự, cho rằng phái bộ Liên hiệp quốc đầu tiên phải có cơ hội hoàn thành công việc tìm kiếm vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Iraq.
Trong cuộc Bầu cử tổng thống Ukraine, 2004, Putin đã tới thăm Ukraine hai lần trước đó để bày tỏ sự ủng hộ Thủ tướng Ukraine Viktor Yanukovych và đã chúc mừng ông trong cái gọi là chiến thắng trước khi các kết quả bầu cử chính thức được ông bố. Sự ủng hộ trực tiếp của Putin với ứng cử viên thân Nga Yanukovych đã bị chỉ trích rộng rãi và bị coi là sự can thiệp trái phép vào các công việc nước Ukraine hậu Xô viết.
Năm 2008, Putin đem quân can thiệp vào cuộc nội chiến tại Gruzia, ủng hộ hai tỉnh Nam Ossetia và Abkhazia ly khai khỏi quốc gia này. Hành động can thiệp quân sự này của Nga bị các nước Phương Tây phản đối quyết liệt. Vào ngày 26 tháng 8 năm 2008, trong khoảng thời gian đình chiến, Nga đã chính thức công nhận nền độc lập của Nam Ossetia và Abkhazia.[202][203] Gruzia bác bỏ hoàn toàn động thái này để bảo toàn sự toàn vẹn lãnh thổ của họ;[204] một số quốc gia phương Tây như Hoa Kỳ và Đức cũng phản đối quyết định này và cho rằng nó vi phạm luật pháp quốc tế.[205][206] Toàn bộ 7 nước thuộc khối G7 cũng lên án Nga đang xâm phạm quyền toàn vẹn lãnh thổ của Gruzia khi công nhận nền độc lập tại hai tỉnh ly khai Nam Ossetia và Abkhazia của Gruzia.[207] 189 trên tổng số 193 quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc (ngoại trừ Nga, Venezuela, Nicaragua, và Nauru) cũng không công nhận nền độc lập của Nam Ossetia mà vẫn tiếp tục xem lãnh thổ này là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Gruzia.[208][209][210][211][212]
Đến năm 2014, nước Nga can thiệp vào cuộc khủng hoảng tại Ukraine thông qua việc hỗ trợ quân ly khai ở các tỉnh miền Đông, sáp nhập vùng Crimea của Ukraine vào lãnh thổ Liên bang Nga sau cuộc trưng cầu dân ý của người dân địa phương bất chấp sự phản đối của các nước phương Tây.
Năm 2015, quân đội Nga được cử sang Syria hỗ trợ quân đội chính phủ nước này trong cuộc Nội chiến Syria. Đây là hành động đánh dấu việc Nga đã quay trở lại trong cuộc đua giành quyền ảnh hưởng tại khu vực Trung Đông.
Vấn đề Chechnya
- Xem thêm: Chiến tranh Chechnya lần thứ hai.
Việc Putin lên nắm quyền chỉ đạo chính phủ vào tháng 8 năm 1999 trùng khớp với sự tái hiện tình trạng gây hấn của cuộc xung đột hầu như đã yên tĩnh tại Bắc Caucasus, khi những người Chechnya tập hợp với nhau và xâm nhập nước Daghestan láng giềng. Cả trong nước Nga và bên ngoài, uy tín của Putin trước công chúng ngày càng tăng qua cách xử lý cứng rắn nhiệm vụ khó khăn này.
Trong chiến dịch vận động bầu cử Duma mùa thu năm 1999, các phương tiện truyền thông đại chúng do Kremlin kiểm soát hoặc có liên minh với họ đã cáo buộc các đối thủ chính của Putin không cương quyết với chủ nghĩa khủng bố. Khi đã lên nắm quyền tổng thống ngày 31 tháng 12 năm 1999, Putin đã thực hiện một cuộc viếng thăm chưa từng có tới doanh trại quân đội Nga ở Chechnya; một trong những hình ảnh sớm nhất mà dân chúng Nga thấy được là vị tổng thống tạm quyền của họ đang giới thiệu những con dao săn cho các binh sĩ. Suốt mùa đông năm 1999, chính phủ Putin thường xuyên tuyên bố thắng lợi đã ở gần tầm tay. Quân đội Nga đã chiếm được thủ đô Grozny, sau một cuộc vây hãm từ cuối năm 1999 đến tháng 2 năm 2000.
Các nhóm nhỏ phiến quân Chechnya tiếp tục đánh du kích ở khu vực Bắc Kavkaz trong 9 năm tiếp theo. Cho đến năm 2009, về cơ bản quân Nga đã dập tắt được phiến quân Chechnya.
Chống lại ảnh hưởng của phương Tây
Theo báo Pravda của Nga, Quỹ Dân chủ Mỹ (NED - National Endowment for Democracy) có mặt trên khắp đất nước Nga, thâm nhập vào diễn biến chính trị ở Nga hiện nay, giúp đỡ "trung tâm tin tức quốc tế" đặt tại Moskva để hơn 80 tổ chức phi chính phủ xuyên quốc gia có thể tận dụng "trung tâm tin tức" này để tổ chức họp báo về các vấn đề. Tổ chức này cũng tài trợ cho nhiều tổ chức thanh niên và các buổi thảo luận dưới nhiều hình thức khác nhau với mục đích "bồi dưỡng thế hệ lãnh đạo mới cho đất nước Nga". Chỉ trong năm 2010, NED tiêu tốn 278.300 USD để tài trợ cho hàng chục chương trình như thế này trên khắp đất nước Nga. Theo học giả người Mỹ Frederick William Engdahl thì "Washington không muốn Moscow xuất hiện kẻ mạnh. Sự trở lại của Putin sẽ trở thành chướng ngại lớn nhất của Mỹ và châu Âu... Đối với Washington, nước Nga có dân chủ thật sự hay không không quan trọng. Quan trọng nhất là phải lật đổ chướng ngại vật lớn nhất ngăn cản kế hoạch của Mỹ - Putin".[213]
Năm 2006, Chính phủ Nga đã quyết định cấm hoạt động tổ chức Giám sát nhân quyền, Ân xá quốc tế, Viện Cộng hòa quốc tế... cùng hơn 90 tổ chức phi chính phủ (NGO). Một trong những nguyên nhân chính là sự can thiệp vào nội bộ Nga của các tổ chức NGO này. Tuy gọi là "phi chính phủ" nhưng các tổ chức thuộc dạng này ngày càng liên hệ chặt chẽ với chính phủ nhiều nước, thậm chí hiện diện trong các chiến dịch tranh cử tại Nga chứ không đơn thuần hoạt động nhân đạo. Tờ The Economist đã đưa ra câu hỏi rằng liệu có phải vài NGO là bù nhìn của (một số) chính phủ đối thủ của Nga. Một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng bùng nổ NGO trong vài năm gần đây là do sự tài trợ từ các chính phủ phương Tây nhằm can thiệp vào nội bộ nước Nga[214]
Trả lời phỏng vấn CNN, Putin nói rằng ông chống lại các giá trị văn hóa ngoại lai du nhập từ phương Tây, bởi nó sẽ gây băng hoại văn hóa truyền thống Nga, làm nước Nga suy đồi. Ông nói:
- Tôi muốn nhắc lại đôi điều mà tôi đã phát biểu trong Diễn văn đọc tại Quốc hội Liên bang: Vâng, đây là một cách tiếp cận bảo thủ, nhưng tôi muốn nhắc bạn về những phát ngôn của nhà triết học Nga Berdyaev rằng: chủ nghĩa bảo thủ không cản trở sự chuyển động về phía trước và tiến lên trên mà nó giúp ngăn chặn sự chuyển động thụt lùi và đi xuống. Theo tôi, đó là một công thức rất tốt, và nó là công thức mà tôi đề xuất. Chẳng có gì bất thường với chúng tôi ở đây. Nga là đất nước có một nền văn hóa cổ đại rất sâu sắc, và nếu chúng tôi muốn trở nên mạnh mẽ và phát triển một cách tự tin, chúng tôi phải dựa vào nền văn hóa và những truyền thống này, chứ không chỉ tập trung vào tương lai."
Hiến pháp năm 2020 do Putin chủ trì sửa đổi cũng bổ sung điều khoản "bảo vệ sự thật lịch sử", cấm "xem thường những người anh hùng đã bảo vệ Tổ quốc", quy định này nhằm chống việc xét lại lịch sử, phủ nhận vai trò của Liên Xô trong thắng chủ nghĩa phát xít ở Thế chiến II.[215]
Châu Á – Thái Bình Dương

Vào năm 2012, Putin đã viết một bài báo trên tờ The Hindu của Ấn Độ với nội dung: "Tuyên bố về Đối tác Chiến lược giữa Ấn Độ và Nga được ký kết vào tháng 10 năm 2000 đã trở thành một bước đi mang tính lịch sử thực sự".[216][217] Ấn Độ hiện vẫn là khách hàng lớn nhất tiêu thụ các thiết bị quân sự của Nga, và hai nước luôn duy trì mối quan hệ ngoại giao bền chặt trong lịch sử.[218] Vào tháng 10 năm 2022, Putin đã mô tả Ấn Độ và Trung Quốc là "những đối tác và đồng minh thân cận".[219] Dưới nhiệm kỳ của Putin, Nga đã duy trì mối quan hệ tích cực với các quốc gia châu Á thuộc khối SCO và BRICS, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và các nước hậu Xô Viết tại vùng Trung Á.[220] [221]
Putin và Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzō đã gặp gỡ thường xuyên để thảo luận về vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước. Putin cũng từng bày tỏ nguyện vọng xây dựng một cây cầu đường sắt nối liền Nga và Nhật Bản.[222] Dù đã trải qua nhiều cuộc hội đàm, hai bên vẫn không thể ký kết bất kỳ thỏa thuận nào trước khi ông Abe từ chức vào năm 2020.[223][224] Bên cạnh đó, Putin cũng trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên của Nga và Liên Xô tới thăm Triều Tiên khi ông có cuộc gặp gỡ với Kim Jong-il vào tháng 7 năm 2000, ngay sau chuyến công tác tới Hàn Quốc.[225]

Putin từng có ba chuyến thăm tới Mông Cổ và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với quốc gia láng giềng này. Vào tháng 9 năm 2019, Putin và người đồng cấp Mông Cổ đã ký kết một hiệp ước hữu nghị vĩnh viễn giữa hai nước, góp phần tăng cường giao lưu văn hóa và thúc đẩy thương mại song phương.[226][227] Vào năm 2007, ông cũng là nhà lãnh đạo Nga đầu tiên sau nửa thế kỷ tới thăm Indonesia, mở đường cho một thỏa thuận mua bán vũ khí được ký kết.[228] Trong một chuyến thăm khác, Putin đã khẳng định mối quan hệ hữu nghị lâu đời và gắn kết giữa hai nước Nga – Indonesia.[229] Bên cạnh đó, Nga cũng đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam sau năm 2011,[230] và hỗ trợ kinh tế, quân sự cho Afghanistan trong những năm 2010.[231][232] Quan hệ giữa Nga và Philippines cũng chứng kiến bước tiến lớn vào năm 2016 khi Putin thiết lập mối quan hệ song phương chặt chẽ hơn với người đồng cấp Rodrigo Duterte.[233][234] Putin cũng có mối quan hệ tốt đẹp với Malaysia và Thủ tướng nước này lúc bấy giờ là ông Mahathir Mohamad.[235] Vào năm 2017, Putin từng lên tiếng chỉ trích làn sóng bạo lực nhắm vào người thiểu số Rohingya tại Myanmar.[236] Tuy nhiên, sau cuộc đảo chính năm 2021, Nga đã cam kết sẽ thắt chặt mối quan hệ với chính quyền quân sự Myanmar.[237]
Vào tháng 9 năm 2007, Putin tới thăm Indonesia và trở thành nhà lãnh đạo Nga đầu tiên thực hiện chuyến thăm này sau hơn 50 năm.[238] Cũng trong tháng đó, Putin đã tham dự hội nghị APEC diễn ra tại Sydney, Úc. Tại đây, ông đã hội đàm với Thủ tướng John Howard và ký thỏa thuận thương mại cho phép Úc bán uranium cho Nga. Đây là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng thống Nga tới quốc gia này.[239] Putin đã quay trở lại Úc để tham dự Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Brisbane năm 2014. Khi đó, chính quyền của Thủ tướng Abbott đã lên án việc Nga sử dụng vũ lực quân sự tại Ukraine là hành vi "bắt nạt" và "hoàn toàn không thể chấp nhận được".[240] Trước những áp lực đòi cấm Putin tham dự hội nghị thượng đỉnh G20 năm 2014, Thủ tướng Tony Abbott tuyên bố ông sẽ đối đầu trực diện với nhà lãnh đạo Nga về vụ việc phiến quân do Nga hậu thuẫn bắn rơi máy bay MH17, khiến 38 công dân Úc thiệt mạng.[241] Dù vậy, phía Putin đã phủ nhận mọi trách nhiệm liên quan đến thảm kịch này.[242]
Quan hệ với Trung Quốc

Trong thế kỷ 21, quan hệ Trung – Nga đã được thắt chặt đáng kể trên cả phương diện song phương lẫn kinh tế. Việc ký kết Hiệp ước Hữu nghị năm 2001, cùng với việc xây dựng đường ống dẫn dầu ESPO và đường ống dẫn khí đốt "Sức mạnh Siberia" đã đặt nền móng cho mối "quan hệ đặc biệt" giữa hai đại cường quốc này.[243] Putin và nhà lãnh đạo Trung Quốc Hồ Cẩm Đào có cuộc gặp đầu tiên vào tháng 12 năm 2002. Kể từ đó, nguyên thủ hai nước duy trì gặp gỡ định kỳ từ 5 đến 6 lần mỗi năm. Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev và Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo cũng thiết lập các cuộc hội đàm thường niên; ông Ôn Gia Bảo từng hóm hỉnh chia sẻ vào năm 2007 rằng: "Chúng tôi thậm chí còn không cần dùng đến bài phát biểu đã chuẩn bị sẵn".[244](tr497) Trung Quốc đã lên tiếng ủng hộ Nga trong cuộc Chiến tranh Chechnya lần thứ hai và đồng cảm với những lo ngại của Nga về việc NATO mở rộng tầm ảnh hưởng. Ngược lại, Nga cũng đứng về phía Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương. Bên cạnh đó, hai quốc gia này ngày càng phối hợp chặt chẽ với nhau tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.[244](tr499)
Ngay trước thềm chuyến thăm cấp nhà nước tới Moskva vào năm 2013 của nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình, Putin nhận định rằng hai quốc gia đang cùng nhau xây dựng một mối quan hệ hết sức đặc biệt.[245] Trong chuyến đi này, ông Tập Cận Bình đã tới thăm Trung tâm Chỉ huy Tác chiến của Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga, trở thành nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên bước chân vào tòa nhà này.[244](tr506–507) Mối quan hệ song phương tiếp tục phát triển sau khi Nga phát động cuộc xâm lược Ukraine vào năm 2022. Trong bối cảnh phải hứng chịu các biện pháp trừng phạt quốc tế quy mô lớn, nước Nga ngày càng trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc.[246]
Mỹ La-tinh

Putin và người kế nhiệm ông, Medvedev, đã duy trì mối quan hệ nồng ấm với Tổng thống Hugo Chávez của Venezuela. Phần lớn sự gắn kết này được thực hiện thông qua các thỏa thuận mua bán thiết bị quân sự; kể từ năm 2005, Venezuela đã mua lượng vũ khí trị giá lên tới hơn 4 tỷ USD từ Nga.[247] Vào tháng 9 năm 2008, Nga đã điều động các máy bay ném bom Tupolev Tu-160 đến Venezuela để thực hiện các chuyến bay huấn luyện.[248] Đến tháng 11 năm 2008, hai nước đã tổ chức một cuộc tập trận hải quân chung ở vùng biển Caribe. Trước đó, vào năm 2000, Putin cũng đã tái thiết lập và thắt chặt mối quan hệ bền vững hơn với Cuba dưới thời Fidel Castro.[249]
"Ngài đã thể hiện những phẩm chất nam tính tuyệt vời nhất", Putin phát biểu về Jair Bolsonaro vào năm 2020. "Ngài luôn tìm kiếm giải pháp cho mọi vấn đề, luôn đặt lợi ích của nhân dân, của đất nước lên trên hết và gạt bỏ những toan tính cá nhân". Nhà khoa học chính trị Oliver Stuenkel nhận định: "Trong mắt những người theo chủ nghĩa dân túy cánh hữu tại Brazil, Putin được xem là một biểu tượng chống lại tư tưởng 'thức tỉnh' (woke), và điều này chắc chắn có sức hút lớn đối với Bolsonaro. Ông ấy là một nhà lãnh đạo mạnh mẽ, mang lại nguồn cảm hứng lớn cho Bolsonaro – người cũng muốn trở thành một lãnh đạo tập trung nhiều quyền lực như vậy".[250]
Trung Đông và Châu Phi
Ngày 16 tháng 10 năm 2007, Putin đã tới thăm Iran để tham dự Hội nghị thượng đỉnh Caspi lần thứ hai tại Tehran,[251][252] nơi ông có cuộc gặp với Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad.[253][254] Đây là chuyến thăm đầu tiên của một nhà lãnh đạo tối cao Liên Xô hoặc Nga[255] tới Iran kể từ khi Joseph Stalin tham dự Hội nghị Tehran vào năm 1943, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong mối quan hệ giữa hai nước.[256] Tại cuộc họp báo sau hội nghị thượng đỉnh, Putin tuyên bố rằng "tất cả các quốc gia vùng Caspi của chúng tôi đều có quyền phát triển các chương trình hạt nhân vì mục đích hòa bình mà không phải chịu bất kỳ hạn chế nào".[257] Ông cũng mô tả Iran là một "đối tác quan trọng",[258] dù vẫn bày tỏ những lo ngại nhất định xung quanh chương trình hạt nhân của quốc gia này.[258]
Vào tháng 4 năm 2008, Putin trở thành vị Tổng thống Nga đầu tiên tới thăm Libya.[259]Ông đã lên án cuộc can thiệp quân sự của nước ngoài năm 2011 vào Libya, gọi nghị quyết 1973 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc là "thiếu sót và sai lầm", đồng thời nhấn mạnh: "Nghị quyết này cho phép làm mọi thứ. Nó chẳng khác nào những lời kêu gọi thập tự chinh thời trung cổ".[260] Trước cái chết của lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi, Putin gọi đây là một "vụ ám sát có lên kế hoạch" của Mỹ và chỉ trích: "Họ phơi bày cho cả thế giới thấy cách ông ấy (Gaddafi) bị sát hại dã man với máu me bê bết khắp nơi. Đó mà là thứ họ gọi là dân chủ hay sao?"[261][262]
Từ năm 2000 đến 2010, Nga đã bán số vũ khí trị giá khoảng 1,5 tỷ USD cho Syria, biến nước này thành khách hàng vũ khí lớn thứ bảy của Moscow.[263] Trong suốt cuộc nội chiến Syria, Nga liên tục đe dọa sẽ phủ quyết bất kỳ lệnh trừng phạt nào nhắm vào chính phủ Syria,[264] đồng thời tiếp tục duy trì nguồn cung vũ khí cho chính quyền này. Putin phản đối mọi hình thức can thiệp của nước ngoài vào cuộc nội chiến Syria. Vào tháng 6 năm 2012 tại Paris, ông đã thẳng thừng bác bỏ tuyên bố của Tổng thống Pháp François Hollande kêu gọi Bashar al-Assad từ chức. Putin đồng tình với lập luận của Assad rằng các phiến quân chống chính phủ mới là những kẻ phải chịu trách nhiệm chính cho phần lớn các vụ đổ máu. Ông cũng nhắc lại các cuộc can thiệp trước đây của NATO cùng hệ quả của chúng để đặt câu hỏi: "Điều gì đang xảy ra ở Libya, ở Iraq? Liệu những nơi đó có trở nên an toàn hơn không? Chúng đang đi về đâu? Chẳng một ai có câu trả lời cả".[265]
Ngày 11 tháng 9 năm 2013, tờ The New York Times đã đăng một bài luận phân tích của Putin, trong đó ông kêu gọi các bên nên thận trọng trước ý định can thiệp của Mỹ vào Syria.[266] Sau đó, vị tổng thống này đã hỗ trợ dàn xếp thỏa thuận tiêu hủy kho vũ khí hóa học của Syria.[267] Đến năm 2015, ông thể hiện lập trường ủng hộ chính quyền Assad một cách mạnh mẽ hơn[268] và triển khai quân đội để hỗ trợ quân sự cho chính quyền này. Một số nhà phân tích nhận định rằng Putin đã thiết lập liên minh với phe Hồi giáo Shia và Alawite tại Trung Đông.[269][270] Việc ông ra lệnh can thiệp quân sự nhằm bảo vệ đồng minh Assad là bước đi nhằm làm suy yếu trật tự quốc tế do Mỹ dẫn dắt. Nhờ vậy, Nga đã gia tăng đáng kể tầm ảnh hưởng ở vùng Đông Địa Trung Hải thông qua việc củng cố quyền kiểm soát đối với Căn cứ hải quân Tartus và giành quyền vận hành Căn cứ không quân Khmeimim.[271][272][273]
Vào năm 2017, Putin đã phái các công ty quân sự tư nhân (PMC) của Nga tới hỗ trợ chính quyền của Tổng thống Touadéra trong cuộc nội chiến Cộng hòa Trung Phi, qua đó giúp Nga có được sự hiện diện quân sự lâu dài tại quốc gia này.[274][275][276][277] Hội nghị thượng đỉnh Nga – Châu Phi đầu tiên đã được tổ chức vào tháng 10 năm 2019 tại thành phố Sochi, dưới sự đồng chủ trì của Putin và Tổng thống Ai Cập Abdel Fattah el-Sisi.[278] Sự kiện này đã thu hút sự tham dự của 43 nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ các nước châu Phi.[279]
Vào tháng 10 năm 2019, Putin đã tới thăm Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, ký kết 6 thỏa thuận hợp tác với Thái tử Abu Dhabi là Mohammed bin Zayed. Một trong số đó là thỏa thuận đầu tư chung giữa quỹ tài sản quốc gia Nga và quỹ đầu tư Mubadala của UAE. Hai quốc gia đã ký kết các thương vụ có tổng giá trị lên tới hơn 1,3 tỷ USD trong các lĩnh vực năng lượng, y tế và công nghệ tiên tiến.[280] Ngày 22 tháng 10 năm 2021, trong cuộc gặp với Thủ tướng Israel Naftali Bennett, Putin đã nhấn mạnh "mối liên kết độc nhất vô nhị" giữa hai dân tộc Nga và Israel.[281]
- Putin cùng Tổng thống Iran Hassan Rouhani và Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdoğan, tháng 9 năm 2018
- Putin hội đàm với Chủ tịch Liên minh Châu Phi, Macky Sall, để thảo luận về vấn đề cung ứng ngũ cốc, tháng 6 năm 2022. Cuộc chiến tại Ukraine đã góp phần đẩy sâu cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu.[282]
- Putin cùng Tổng thống Syria Ahmed al-Sharaa, ngày 28 tháng 1 năm 2026
Hình ảnh công chúng
Đời tư

Putin nói tiếng Đức hầu như tương đương tiếng mẹ đẻ, và tiếng Anh ở mức trung bình.
Vợ Putin là Lyudmila Putina, một cựu tiếp viên hàng không và giáo viên dạy tiếng Đức, sinh tại Kaliningrad, (trước kia là Königsberg). Họ có hai con gái, Marya (sinh 1985) và Yekaterina (Katya) (sinh 1986 tại Dresden). Hai người theo học Trường Đức tại Moskva (Deutsche Schule Moskau) cho tới khi ông được chỉ định làm thủ tướng. Tin ngày 7.6.2013 trên BBC cho biết, Putin và vợ đã tuyên bố ly dị sau gần 30 năm chung sống.[283] Ngày 02.04.2014, phát ngôn viên của Putin, ông Dmitri Peskow, loan báo ở Moskva 2 người đã chính thức ly dị.[284]
Putin là một thành viên của Giáo hội Chính thống giáo Nga. Cha của ông là một "người vô thần hăng hái" nhưng mẹ ông là một "tín hữu Chính thống giáo nhiệt thành". Dù bà không giữ các bức linh ảnh tại nhà nhưng bà dự lễ nhà thờ thường xuyên, bất chấp việc chính quyền Xô viết đàn áp Giáo hội khi đó. Bà đảm bảo cho việc Putin được báp têm hồi nhỏ và thường đưa ông đi dự lễ. Cha ông biết điều này nhưng phớt lờ đi. Theo tự sự của Putin, sự chấn hưng cảm thức tôn giáo của ông diễn ra sau tai nạn xe hơi nghiêm trọng của vợ năm 1993 và càng sâu sắc hơn sau một đám cháy lớn nguy hiểm tới tính mạng tại ngôi nhà vùng nông thôn dacha của ông vào tháng 8 năm 1996.
Katerina Tikhonova, con gái út Putin, lấy Kirill Shamalov vào tháng 2 năm 2013, con trai một người bạn của ông. Nhờ quan hệ này, theo thông tấn xã Reuter, Kirill vay được khoản tiền hơn 1 tỉ USD từ một ngân hàng để mua cổ phần của công ty hóa dầu Sibur, một doanh nghiệp lớn của Nga. Chỉ trong vòng 18 tháng, con rể Putin đã nắm giữ được một lượng lớn cổ phần trị giá 2,85 tỉ USD của Sibur.[285]
Tập võ Nhu đạo
Một trong những môn thể thao ưa thích của Putin là môn võ nhu đạo (judo). Putin đã bắt đầu tập judo khi mới 13 tuổi và tiếp tục tập luyện tới tận ngày nay. Putin đã thắng trong những cuộc tỉ thí tại quê nhà Leningrad (hiện nay là Sankt-Peterburg), gồm cả giải vô địch dành cho trẻ em tại Leningrad. Ông là chủ tịch của Yawara Dojo, võ đường tại Sankt-Peterburg nơi ông từng luyện tập thời trẻ. Một cuốn sách do Putin đồng tác giả về môn thể thao ưa thích của mình, đã được xuất bản bằng tiếng Anh với tựa đề Judo: Lịch sử, Lý thuyết, Thực hành.[286]
Dù ông không phải là lãnh đạo thế giới đầu tiên luyện tập judo, Putin là nhà lãnh đạo thứ nhất đạt tới những cấp bậc cao trong môn này. Hiện nay ông mang đai đen (dan thứ 6) và giỏi nhất đòn Harai Goshi, một cách quật ném bằng hông.[287]
Sau một chuyến thăm nhà nước tới Nhật Bản, Putin đã được mời tới Học viện Judo Kodokan để trình diễn trước các học viên và quan chức Nhật Bản nhiều kỹ thuật judo.
Ngoài Judo ra ông còn học karate hệ phái kyokushin-kan và được bát đẳng huyền đai là đẳng thứ 8 trong 10 đẳng
Sở thích
Putin đeo một chiếc đồng hồ Patek Philippe Calatrava trị giá 60.000 dollar Mỹ, gần tương đương mức lương tổng thống của ông.[288] Dù là người thuận tay phải, ông đeo đồng hồ trên tay phải bởi vì "...nếu tôi đeo nó trên cổ tay trái, cái núm nhỏ để lên dây cót sẽ chạm vào tay và cọ xát vào nó."[289]
Trong quãng thời gian từ 1985 đến 1990, Putin được Ủy ban an ninh quốc gia Nga cử đi công tác tại Dresden (Đông Đức cũ). Tại đó, Putin đã có rất nhiều kỷ niệm như việc cô con gái thứ 2 Yekaterina của ông cũng được sinh ra tại chính mảnh đất Đông Đức (cũ). Là một người đam mê thể thao, Putin đã dành tình cảm của mình cho CLB FC Schalke 04 của Đức, dù đó là giai đoạn mà đội bóng vùng Ruhr không giành được những thành tích nổi trội.
Putin ngày 14 tháng 10 năm 2009, đưa ra đề nghị là Trung Quốc, các nước Trung Á và Nga nên tổ chức một cuộc thi hát hàng năm để có thể gia tăng các mối liên lạc văn hóa. Putin cũng đề nghị là cuộc thi hát này có thể được gọi là "Intervision" để đối đầu với cuộc thi hát nổi tiếng thường niên của lục địa châu Âu mang tên Eurovision. Một cuộc thi như vậy sẽ cho thấy các nam, nữ ca sĩ Trung Quốc tranh tài với các ca sĩ Uzbek, Tajik, Kazakh, Nga và Kyrgyz.[290] Thông tấn xã Interfax tường thuật lời của Putin, nói thêm là: "Việc tổ chức một cuộc thi hát quốc tế hiện đại, Intervision, sẽ củng cố các mối liên lạc văn hóa giữa các nước chúng ta." Cuộc thi hát hàng năm của lục địa châu Âu, Eurovision, được khởi đầu từ năm 1956, đã thu hút mỗi lần cả trăm triệu khán giả truyền hình, không những của lục địa châu Âu, mà cả của thế giới nữa. Moskva cũng sau đó tổ chức cuộc thi hát Eurovision 2009 này, vào tháng 5 năm 2008.
Sở thích cởi trần

Putin có sở thích là cởi trần khi đi dã ngoại. Vào đầu tháng 8 năm 2009, Putin đã gây sự chú ý thường chỉ dành cho các anh hùng các loại phim hành động ở Hollywood khi điện Kremlin công bố hình ảnh ông câu cá, bơi lội, chèo thuyền và cưỡi ngựa trong lúc cởi trần khoe ngực trong vùng núi Siberia và được các cơ quan truyền thông thế giới sử dụng tối đa. Trong chuyến viếng thăm ngắn ngủi đến vùng đồng cỏ và sông suối ở Cộng hòa Tuva thuộc Nga, vị thủ tướng đã cởi áo để bổ củi, cưỡi ngựa và bơi bướm dưới suối, tất cả để cho các máy hình của chính phủ tha hồ chụp.
Hai đài truyền hình nhà nước Nga đã loan tải hình ảnh những giờ phút hưởng nhàn của Putin vào tối ngày 4 tháng 8, và chỉ trong vài giờ, tất cả mọi cơ quan truyền thông thế giới, từ đài BBC cho đến các tờ báo lá cải đều vội vã khai thác, một phần cũng vì có sự hấp dẫn trong một tháng bị chậm tin - tháng 8 thường là tháng ít tin nhất trong năm. Giới truyền thông Tây Phương có vẻ bị lôi cuốn bởi hình ảnh là một cựu trung tá tình báo KGB nói năng cứng rắn, được coi là sức mạnh cầm quyền thực sự đằng sau cái ngai của Tổng thống Dmitry Medvedev, lại cởi áo khoe hầu như hết cả, cho quần chúng ngưỡng mộ.
Và việc cởi áo khoe thân hình của Putin có vẻ cũng cho thấy ông nay đã đứng cùng hàng ngũ với các chính trị gia thế giới được truyền thông săn đuổi, như Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy. Ngay cả trang web chuyên bàn tán đời tư giới tài tử Hollywoood cũng nhập cuộc, bằng cách diễu cợt ngực của vị thủ tướng. "Người đàn ông 56 tuổi này đã khoe vũ khí hủy diệt của mình, còn được gọi là cặp vú, bằng cách cưỡi ngựa khi cởi trần lúc đang đi nghỉ ở Siberi." Tờ National Post ở Canada tường thuật rằng Putin "rõ ràng là khoái được chụp hình... Những hình ảnh này có nhiều và người cựu nhân viên KGB này rất dễ dàng để cho ra một cuốn lịch của mình."
Thường xuyên trễ giờ
Putin mang tiếng là thường xuyên trễ giờ, thậm chí là cả cuộc hẹn với các nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo tôn giáo. Nhiều nhà lãnh đạo châu Âu thường phải đợi ông trên dưới một tiếng. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry phải đi dạo ở Quảng trường Đỏ ba giờ để được gặp Putin, còn cựu Tổng thống Ukraina Viktor Yanukovych thậm chí từng phải đợi bốn giờ. Hai lần hội kiến Giáo hoàng Phanxicô ông cũng đều đi trễ. Danh sách những người từng phải đợi Putin khi hội họp còn có cả các nữ chính khách như Nữ hoàng Anh Elizabeth II, Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye hay Thủ tướng Đức Angela Merkel. Thậm chí, ngay đến cả vợ cũ của ông, bà Lyudmila Putina cũng từng kêu than rằng ông Putin thường xuyên cho bà "leo cây" ngay từ những lần hẹn hò đầu tiên.[291]
BBC năm 2013 có dẫn một nguồn tin thân cận với Putin nói rằng, Putin trễ hẹn là hệ quả của việc ông quá tỉ mỉ. Theo nguồn tin này, trước các cuộc gặp quan trọng, Putin thường kiểm tra kỹ các nguồn thông tin và chi tiết, vì vậy ông luôn đi trễ.
Tài sản
Các trang tin phương Tây như The Guardian và The Sunday Times của Anh nói rằng Tổng thống Vladimir Putin bị cho là cầm đầu một băng đảng, mà tài sản tổng cộng khoảng 130 tỷ USD.[292][293] Theo một phim tài liệu Đài Truyền hình ARD (Đức), người ta phỏng đoán là của cải của ông mà được đứng tên bởi các tay chân thân cận khoảng 40 tỷ USD, trong đó có một lâu đài bên sườn núi, cạnh một hồ, có đường xe thông qua núi chạy lên đó, tổng cộng cả khu vực tốn khoảng 1 tỷ USD.[294]
Đánh giá
Phần này cần được mở rộng. Bạn có thể giúp bằng cách mở rộng nội dung của nó. |
Các chỉ trích về sự chuyên quyền
Trong bản tường trình thường niên của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Hoa Kỳ) công bố ngày 31/01/2008, họ cho rằng nước Nga là quốc gia thứ sáu đang có khuynh hướng đi về thể chế độc tài cùng với các nước Pakistan, Kenya, Nigeria, Thái Lan và Bahrain. Giám đốc Human Rights Watch là ông Kenneth Roth nói: "Nước Nga, giống hệt như Kenya, Pakistan hay Nigeria - đang khoác lên mình chiếc áo choàng dân chủ cho những cuộc bầu cử".[217]
Xếp hạng
- Nhân vật của năm do tạp chí Time bình chọn năm 2007
- Nhân vật có ảnh hưởng thứ nhì năm 2008 do tạp chí Time bình chọn
- Liên tiếp 3 năm (2009, 2010 và 2011) nằm trong danh sách 10 người quyền lực nhất thế giới do tạp chí Forbes bình chọn. Năm 2013, Putin được bầu vào vị trí số một trong Danh sách những người quyền lực nhất thế giới của Forbes.[295]
Xem thêm
Tham khảo
- ↑ "Putin rides high". telegraph.co.uk. ngày 15 tháng 7 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2021.
- ↑ "How Putin is inspired by history". BBC. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008.
- ↑ "How President Putin restored national pride". BBC. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2008.
- ↑ "Russia will deport foreigners for homosexual propaganda; Duma passes bill 436". Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2018.
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báopaper
- ↑ Rose, Scott (ngày 1 tháng 7 năm 2013). "Putin signs law banning gay 'propaganda' among children". Bloomberg.
- ↑ "Russians weigh Putin's protégé". Moskva. Associated Press. ngày 3 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2008.
- ↑ "GDP of Russia from 1992 to 2007". International Monetary Fund. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2008.
- ↑ Sergey Morozov, "Putin's Diplomacy: Russian Judo on World Tatami". - Saint Petersburg, publishing house "Krylov", 2008. - 288 pp. ISBN 978-5-9717-0630-4. Chapter "Dracula, Rotten Meat and Dr. Evil", p. 130: "... in the Kremlin they thought that Russia has become a subject of a series of political propaganda attacks orchestrated by the West and exiled oligarchs.", p. 139, Dmitry Peskov: "Things we observe in the British media relate more to a usual human hysteria rather than to journalism... President regards this calmly, understanding at the same time that this has nothing to do with journalism and analytics."
- ↑ "Medvedev Takes Presidency from Putin" (bằng tiếng Anh). The St. Petersburg Times (Russia). ngày 7 tháng 5 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2008.
[I]n his inaugural address, Medvedev referred to civil rights issues several times — a possible indication that his presidency would take a different course from his mentor's. Under Putin [...] the role of civil society came under question, as opposition groups were marginalized and non-governmental organizations came under heavy pressure.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|authors=(trợ giúp) - ↑ "Here are 10 critics of Vladimir Putin who died violently or in suspicious ways". Washington Post. ngày 23 tháng 3 năm 2017.
- ↑ Tổng thống Nga Putin: Không nên đùa với lửa!
- ↑ "Putin says claims of Russian meddling in U.S. election are 'just some kind of hysteria'". Los Angeles Times. ngày 2 tháng 6 năm 2017.
- ↑ "Person of the Year 2007". Time. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009.
- ↑ "Putin Answers Questions From Time Magazine". YouTube.com. ngày 20 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2016.
- ↑ Druzhinin, Alexei (ngày 14 tháng 4 năm 2015). "Vladimir Putin Steals The Show In TIME 100 Magazine Reader's Poll". Russia Today (RT). Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2016.
- ↑ Albright, Madeleine (ngày 23 tháng 4 năm 2014). "Vladimir Putin – The Russian Leader Who Truly Tests The West". Time Magazine, USA. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2016.
- ↑ Sharkov, Damien (ngày 20 tháng 4 năm 2016). "Putin Is a 'Smart But Truly Evil Man,' says Madeleine Albright". Newsweek, USA. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2016.
- ↑ "The World's Most Powerful People 2016". Forbes. ngày 14 tháng 12 năm 2016.
For the fourth consecutive year, Forbes ranked Russian President Vladimir Putin as the world's most powerful person. From the motherland to Syria to the U.S. presidential elections, Russia's leader continues to get what he wants.
- ↑ Стратегическое планирование воспроизводства минерально-сырьевой базы региона в условиях формирования рыночных отношений, Putin, 1997
- ↑ "Russia's Putin wins by big margin". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2018.
- ↑ "The 'free market's' social catastrophees". World Socialist Web Site. ngày 5 tháng 8 năm 1999.
- ↑ Putin chọn phó thủ tướng làm người kế nhiệm, VnExpress, 11/12/2007
- ↑ "Medvedev: 'Putin nên làm thủ tướng'". VnExpress. ngày 12 tháng 12 năm 2007.
- ↑ "Putin đồng ý làm thủ tướng". VnExpress. ngày 18 tháng 12 năm 2007.
- ↑ If its economy is growing today, it has more to do with rising oil prices than any efficiency of Putinism. Russia's ratings for economic competitiveness, corruption and business-friendliness have all fallen under Mr. Putin Those stumbling strongmen[liên kết hỏng]
- ↑ Провокация вместо марша vz.ru
- ↑ "Russian police battle anti-Putin protesters". Reuters. ngày 6 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012.
- ↑ "СК пересчитал пострадавших полицейских во время "Марша миллионов"". lenta.ru. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015.
- ↑ Parfitt, Tom (ngày 7 tháng 5 năm 2012). "Vladimir Putin inauguration shows how popularity has crumbled". The Daily Telegraph. London. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012.
- ↑ "Putin tells stadium rally 'battle' is on for Russia". BBC. ngày 23 tháng 2 năm 2012.
- ↑ Ross, Cameron (2016). Systemic and Non-Systemic Opposition in the Russian Federation: Civil Society Awakens?. Routledge. tr. 46. ISBN 1317047230.
- ↑ "Resolute Putin Faces a Russia That's Changed". The New York Times. ngày 23 tháng 2 năm 2012.
- ↑ "Putin, Addressing Rally, Casts Himself as Unifier". The Wall Street Journal. ngày 24 tháng 2 năm 2012.
- ↑ Charbboneau, Louis (ngày 27 tháng 3 năm 2014). "U.N. General Assembly declares Crimea secession vote invalid". Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014.
- ↑ "ITAR-TASS: Russia – Lavrov: West 'twisted arms' of 50 countries to get support for Ukraine resolution in UN". En.itar-tass.com. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 3014.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=(trợ giúp) - ↑ Putin in 2008: 'Crimea is not disputed territory' and is part of Ukraine)
- ↑ Lý do người Nga luôn yêu quý ông Putin với tỷ lệ ủng hộ cao ấn tượng Lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2018 tại Wayback Machine, Báo điện tử Người đưa tin, 05/08/2017
- ↑ Nửa thập niên sáp nhập Crimea, nước Nga ra sao?
- 1 2 Justin Lahart (ngày 16 tháng 12 năm 2014). "Yield Seekers Prone to Russia's Disease". Wall Street Journal. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2014.
- 1 2 Mike Dorning and Ian Katz (ngày 16 tháng 12 năm 2014). 16 tháng 12 năm 2014/u-s-won-t-ease-sanctions-to-prevent-economic-meltdown-in-russia.html "U.S. Won't Ease Sanctions to Stem Russia's Economic Crisis". Bloomberg. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2014.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị|url=(trợ giúp) - ↑ Nicole Friedman (ngày 16 tháng 12 năm 2014). "U.S. Oil Prices Snap Losing Streak". Wall Street Journal. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2014.
- ↑ Russian GDP contracted 3.7% in 2015 Financial Times
- ↑ "The average salary in Russia is now lower than in China and Poland". rbth.
- ↑ "Number of Russians Living in Poverty Rises". The Wall Street Journal. ngày 21 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "Today's Stock Market News and Analysis from Nasdaq.com". NASDAQ.com.
- ↑ "Kinh tế Nga khởi sắc". https://petrotimes.vn/. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2023.
{{Chú thích web}}: Liên kết ngoài trong(trợ giúp)|nơi xuất bản= - ↑ "Бизнес заявил о катастрофе в российской экономике | 22.05.18 | finanz.ru". finanz.ru (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2018.
- ↑ "Russian Communists say election stolen by pro-Putin candidate". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2018.
- ↑ Russia communists protest against 'rigged' elections
- ↑ Poll shows Russia's trust in Vladimir Putin falls to all-time low
- ↑ "WB dự báo kinh tế Nga tăng trưởng ở mức "khiêm tốn"". Báo điện tử Nhân Dân. ngày 10 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Кремль объяснил разницу в полномочиях Собянина и Мишустина по вирусу". РБК (bằng tiếng Nga). ngày 16 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2020.
- ↑ "Russian army to send coronavirus help to Italy after Putin phone call". Reuters. ngày 22 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2020.
- ↑ "Песков сообщил о регулярных тестах Путина на коронавирус" (bằng tiếng Nga). Interfax. ngày 3 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2020.
- ↑ "Путин перешел на удаленку". Росбалт (bằng tiếng Nga). ngày 3 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "Путин: дата голосования по поправкам к Конституции должна быть перенесена". TASS. ngày 25 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Putin calls on Russians 'to stay home' due to coronavirus". TASS. ngày 25 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Coronavirus in Russia: The Latest News". Moscow Times. ngày 25 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Address to the Nation". en.kremlin.ru. ngày 25 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2020.
- ↑ "'They need to quarantine Moscow' How small businesses in Russia's capital are scrambling to stay afloat as coronavirus clobbers the economy". Meduza. ngày 27 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2020.
- ↑ "Bankrolling Russia's relief program Putin has proposed sweeping tax cuts to shore up vulnerable businesses as coronavirus cripples the economy, but a lot more might be needed and it's unclear who would foot the bill". Meduza. ngày 26 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2020.
- ↑ "Putin signs decree on non-working days for Russian citizens until April 30". TASS. ngày 2 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "Putin Sets Off Meme Storm By Comparing Medieval Invaders to Coronavirus Quarantine". Moscow Times. ngày 8 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2020.
- ↑ "Putin's Virus Response Earns Lower Marks Than Local Leaders': Poll". Moscow Times. ngày 30 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2020.
- ↑ Gershkovich, Evan (ngày 14 tháng 5 năm 2020). "As the Coronavirus Contagion Grows in Russia, Putin's Strongman Image Weakens". Moscow Times. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2020.
- ↑ Galeotti, Mark (ngày 12 tháng 5 năm 2020). "Putin Withdraws From the Coronavirus Crisis in a Political Abdication". Moscow Times. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2020.
- ↑ "Russia's technocrat-in-chief". Meduza. ngày 11 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2020.
- ↑ Litvinova, Daria (ngày 13 tháng 8 năm 2021). "Putin reveals he was vaccinated with Russia's Sputnik V". Associated Press News. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2021.
- ↑ Litvinova, Daria (ngày 14 tháng 9 năm 2021). "Putin in self-isolation due to COVID cases in inner circle". Associated Party News. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2021.
- ↑ Putin, Vladimir (ngày 12 tháng 7 năm 2021). "Article by Vladimir Putin 'On the Historical Unity of Russians and Ukrainians'". The Kremlin. Chính phủ Nga. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2022.
- ↑ Perrigno, Billy (ngày 22 tháng 2 năm 2022). "How Putin's Denial of Ukraine's Statehood Rewrites History". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "Why is Putin attacking Ukraine? He told us". Vox. ngày 23 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2022.
- ↑ Roth, Andrew (ngày 30 tháng 11 năm 2021). "Russia will act if Nato countries cross Ukraine 'red lines', Putin says". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "NATO Pushes Back Against Russian President Putin's 'Red Lines' Over Ukraine". The Drive. ngày 1 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "Putin warns Russia will act if NATO crosses its red lines in Ukraine". Reuters. ngày 30 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "Russia spy chief says Ukraine invasion plan 'malicious' U.S. propaganda". Reuters. ngày 27 tháng 11 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2022.
- ↑ "West voices its concern over Russia's military build-up on Ukrainian border ahead of Biden call with Putin". Sky News. ngày 7 tháng 12 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Russia denies looking for pretext to invade Ukraine". Associated Press News. ngày 17 tháng 1 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "The world is worried Putin is about to invade Ukraine". CNBC. ngày 17 tháng 11 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2022.
- ↑ "Extracts from Putin's speech on Ukraine". Reuters. ngày 21 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "A look at the trio who convinced Putin to invade". Yahoo News. ngày 9 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "How Putin blundered into Ukraine – then doubled down". Financial Times. ngày 23 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2023.
- ↑ Osborn, Andrew; Nikolskaya, Polina; Nikolskaya, Polina (ngày 24 tháng 2 năm 2022). "Russia's Putin authorises 'special military operation' against Ukraine". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2022.
- ↑ "Full text: Putin's declaration of war on Ukraine". The Spectator (1828) Ltd. ngày 24 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Russian President Vladimir Putin announces military assault against Ukraine in surprise speech". MSN. ngày 24 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Russia launches massive invasion of Ukraine – live updates". Deutsche Welle. ngày 24 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "Putin's claims that Ukraine is committing genocide are baseless, but not unprecedented". The Conversation. ngày 25 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Beauchamp, Zack (ngày 24 tháng 2 năm 2022). "Putin's "Nazi" rhetoric reveals his terrifying war aims in Ukraine". Vox. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "Fact check: Do Vladimir Putin's justifications for going to war against Ukraine add up?". Deutsche Welle. ngày 25 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2022.
- ↑ Shepp, Jonah (ngày 28 tháng 2 năm 2022). "Russia's War of Self-Destruction". New York. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "Putin's miscalculation in Ukraine could lead to his downfall". New Statesman. ngày 2 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Russians Fleeing As Nation Faces Economic Collapse". Forbes. ngày 5 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Ukraine conflict: UK to impose sanctions on Russia's President Putin". BBC News. ngày 25 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "Ukraine invasion: West imposes sanctions on Russia's Putin and Lavrov". BBC News. ngày 26 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "Everything you need to know about war crimes and how Putin could be prosecuted". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Orentlicher, Diane (ngày 10 tháng 5 năm 2022). "The case for a Putin war crimes trial". NBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Johnson: Putin may face war crimes charges". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "Biden calls Putin a 'war criminal' after meeting with troops in Poland". ABC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Everything you need to know about war crimes and how Putin could be prosecuted". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Ukraine invasion: Putin puts Russia's nuclear forces on 'special alert'". BBC News. ngày 28 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Slow Progress and Fierce Resistance in Ukraine Could Prompt Brutal Russian Offensive". Moscow Times. ngày 1 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Putin Signs Law Introducing Jail Terms for 'Fake News' on Army". Moscow Times. ngày 4 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Russia will stop 'in a moment' if Ukraine meets terms – Kremlin". Reuters. ngày 7 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Ukraine's Zelenskiy Says Open to 'Compromise' with Russia on Crimea, Separatist Territories". Moscow Times. ngày 8 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Putin says will not use conscript soldiers in Ukraine". Reuters.
- ↑ "Putin warns Russia against pro-Western 'traitors' and scum". Reuters. ngày 16 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Putin says Russia must undergo a 'self-cleansing of society' to purge 'bastards and traitors' as thousands flee the country". Business Insider. ngày 16 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Kolesnikov, Andrei (ngày 8 tháng 2 năm 2023). "Russia's Second, Silent War Against Its Human Capital". Carnegie Endowment for International Peace. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Putin's War Escalation Is Hastening Demographic Crash for Russia". Bloomberg. ngày 18 tháng 10 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Putin escalates Ukraine war, issues nuclear threat to West". Reuters. ngày 21 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2022.
- ↑ Lawler, Dave (ngày 30 tháng 9 năm 2022). "Putin claims 15% of Ukraine is now part of Russia". Axios (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2022.
- ↑ "Ukraine liberated Kherson city. Now, Russia is destroying it". The Washington Post. ngày 14 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Russia could be fighting in Ukraine for a long time: Putin". Al Jazeera. ngày 7 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "'Terrible toll': Russia's invasion of Ukraine in numbers". Euractiv. ngày 14 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2023.
- ↑ Hussain, Murtaza (ngày 9 tháng 3 năm 2023). "The War in Ukraine Is Just Getting Started". The Intercept. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "Putin Signals Readiness for Peace Talks if Kyiv Cedes Occupied Regions". The Moscow Times. ngày 5 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2023.
- ↑ Bryant, Miranda (ngày 24 tháng 6 năm 2023). "Wagner mutiny: how the world reacted". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2023.
- ↑ Osborn, Andrew; Liffey, Kevin (ngày 24 tháng 6 năm 2023). "Russia accuses mercenary boss of mutiny after he says Moscow killed 2,000 of his men". Reuters (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2023.
- 1 2 Tubridy, Mack; Kozlov, Pyotr; Berkhead, Samantha (ngày 24 tháng 6 năm 2023). "Prigozhin Charged With 'Inciting Armed Revolt' After Vowing to Stop 'Evil' Military Leadership". The Moscow Times. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2023.
- ↑ Rosenberg, Steve (ngày 23 tháng 6 năm 2023). "Yevgeny Prigozhin: Wagner chief blames war on defence minister". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2023.
- ↑ Sauer, Pjotr (ngày 23 tháng 6 năm 2023). "Russia investigates Wagner chief for 'armed mutiny' after call for attack on military". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2023.
- ↑ Dress, Brad (ngày 23 tháng 6 năm 2023). "Wagner chief says Russia's war in Ukraine intended to benefit elites, accuses Moscow of lying". The Hill (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Wagner chief rejects Putin's accusations of treason". Al Jazeera (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Путин назвал мятеж Пригожина "предательством" и "изменой"" [Putin calls Prigozhin's rebellion "betrayal" and "treason"]. Meduza (bằng tiếng Nga). ngày 24 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Rebel Russian mercenaries turn back short of Moscow 'to avoid bloodshed'". Reuters (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 6 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2023.
- ↑ Seddon, Max (ngày 24 tháng 6 năm 2023). "Belarus claims deal with Prigozhin to end advance on Moscow". Financial Times. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2023.
- ↑ Seddon, Max; Ivanova, Polina (ngày 24 tháng 6 năm 2023). "Prigozhin says Wagner has agreed to stand down". Financial Times. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Wagner fighters leaving Rostov and Voronezh after aborted mutiny". Politico. ngày 25 tháng 6 năm 2023.
- ↑ Gardner, Frank; Greenall, Robert; Lukiv, Jaroslav (ngày 23 tháng 8 năm 2023). "Wagner chief Yevgeny Prigozhin presumed dead after Russia plane crash". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2023.
- ↑ Troianovski, Anton; Barnes, Julian E; Schmitt, Eric (ngày 24 tháng 8 năm 2023). "'It's Likely Prigozhin Was Killed,' Pentagon Says". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Death toll from concert hall attack in Russia's Moscow region rises to 144". AA. ngày 29 tháng 3 năm 2024.
- ↑ "Number of Wounded in Crocus City Hall Attack Rises to 360". The Moscow Times. ngày 27 tháng 3 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2024.
- ↑ Belam, Martin (ngày 23 tháng 3 năm 2024). "Moscow concert hall attack: Putin tells Russians Ukraine linked to attack which killed 115, claims denied by Kyiv officials – live updates". The Guardian. ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2024.
- ↑ Hartog, Eva (ngày 30 tháng 3 năm 2024). "Putin the autocrat comes of age". Politico.
- ↑ "Ukraine war: Putin's choice of new defense chief reveals strategy ahead of summer offensive". Politico. ngày 13 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Andrei Belousov: Putin picks trusted technocrat to run defence ministry". The Guardian. ngày 14 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Vladimir Putin ready to 'freeze' war in Ukraine with ceasefire recognising recent Russian gains, sources say". Sky News. ngày 24 tháng 5 năm 2024.
- ↑ Hyde, Matthew (2001). "Putin's Federal Reforms and Their Implications for Presidential Power in Russia". Europe-Asia Studies. 53 (5): 719–743. doi:10.1080/09668130120060242. ISSN 0966-8136. JSTOR 826367.
- ↑ White, Stephen (2010). "Classifying Russia's Politics". Trong White, Stephen (biên tập). Developments in Russian Politics 7. New York: Palgrave Macmillan. ISBN 978-0-230-22449-0.
- ↑ (Sakwa 2008, tr. 42–43)
- ↑ Okara, Andrei (July–September 2007). "Sovereign Democracy: A New Russian Idea Or a PR Project?" (PDF). Russia in Global Affairs. 5 (3). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2016.
- ↑ Petrov, Nikolai (tháng 12 năm 2005). "From Managed Democracy to Sovereign Democracy" (PDF). Center for Political-Geographic Research. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016.
- ↑ Surkov, Vladislav (ngày 7 tháng 2 năm 2006). "Sovereignty is a Political Synonym of Competitiveness". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016.
- ↑ Åslund, Anders (ngày 6 tháng 5 năm 2019). "The Illusions of Putin's Russia". Atlantic Council. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019.
- ↑ Lynch, Dov (2005). "The enemy is at the gate": Russia after Beslan. International Affairs 81 (1), 141–161.
- ↑ Putin tightens grip on security, BBC News, 13 September 2004.
- ↑ "Президентское фильтрование губернаторов оценили политики". Radiovesti.ru. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012.
- ↑ Kramer, Andrew E. (ngày 22 tháng 4 năm 2007). "50% Good News Is the Bad News in Russian Radio". The New York Times. Russia. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2011.
- ↑ Masha Lipman; Anders Aslund (ngày 2 tháng 12 năm 2004). "Russian Media Criticism of Vladimir Putin: Evidence and Significance". Quỹ Viện trợ Hòa bình Quốc tế Carnegie. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2010.
- ↑ "Arkady Rotenberg". Forbes. 2013. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2013.
- ↑ Sharlet, Robert (2005). "In Search of the Rule of Law". Trong White; Gitelman, Zvi; Sakwa, Richard (biên tập). Developments in Russian Politics. Quyển 6. Duke University Press. ISBN 978-0-8223-3522-1.
- ↑ Main, John. (2009). Russia country study guide : army and national. [Place of publication not identified]: Intl Business Pubns Usa. ISBN 978-1-4387-4042-3. OCLC 946230798.
- ↑ Dubow, Ben (ngày 8 tháng 2 năm 2022). "With Enemies Like Russia's Communists, Putin Doesn't Need Friends". With Enemies Like Russia’s Communists, Putin Doesn’t Need Friends. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2025.
- ↑ "Cho phép hôn nhân đồng giới: Âm mưu chính trị khủng khiếp nhắm vào Nga - VTC News". Báo điện tử VTC News. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "Nga xem xét luật chống người đồng tính". Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "Russia will deport foreigners for homosexual propaganda; Duma passes bill 436". Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "United Russia activists create 'flag for straights' to oppose 'gay fever'". RT International. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "Putin talks gay rights on 60 Minutes".
- ↑ "Putin: Europeans Are Dying Out Because They Allow Same-Sex Couples To Marry". Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2018.
- ↑ https://tuoitre.vn/chap-nhan-sua-hien-phap-nguoi-nga-van-chuong-ong-putin-20200703080418092.htm
- ↑ "Russian president signs legislation marking the final step outlawing gender-affirming procedures". AP News (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2023.
- ↑ Ayndrila Banerjee (ngày 5 tháng 5 năm 2023). "Duma to ban gender reassignment without surgery as Russian men go for sex change to avoid fighting Ukraine". FirstPost.
- ↑ "President Putin Signs New Law Against Transgender, Banning Sex Change In Russia". Sahara Reporters (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2023.
- ↑ Valdai Discussion Club meeting
- ↑ Guriyev, Sergey (ngày 16 tháng 8 năm 2019). "20 Years of Vladimir Putin: The Transformation of the Economy". Moscow Times. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
- ↑ Aris, Ben; Tkachev, Ivan (ngày 19 tháng 8 năm 2019). "Long Read: 20 Years of Russia's Economy Under Putin, in Numbers". Moscow Times. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
- ↑ Putin: Russia's Choice, (Routledge 2007), by Richard Sakwa, Chapter 9.
- ↑ Judah, Ben, Fragile Empire: How Russia Fell In and Out of Love with Vladimir Putin, Yale University Press, 2013, p. 17
- ↑ Becker, Torbjörn (ngày 15 tháng 3 năm 2018). "The Russian Economy Under Putin (So Far)" (PDF). freepolicybriefs.org. Free Network. tr. 3. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
- ↑ Malofeeva, Katya; Brenton, Tim (ngày 15 tháng 8 năm 2007). "Putin's Economy – Eight Years On". Russia Profile. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008.
- ↑ Iikka. Korhonen et al. The challenges of the Medvedev era Lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2012 tại Wayback Machine. Bank of Finland's Institute for Economies in Transition, 24 June 2008.
- ↑ "WTO | Accessions: Russian Federation". wto.org. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
- ↑ "Владимир Путин учредил открытое акционерное общество "Объединенная авиастроительная корпорация"" [Vladimir Putin established the United Aircraft Corporation, an open joint stock company]. Президент России (bằng tiếng Nga). ngày 21 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
- ↑ Zvereva, Polina (ngày 11 tháng 10 năm 2009). "State-sponsored consolidation". Russia & CIS Observer. 3 (26).
- ↑ "UAC to receive largest post Soviet govt support package | CAPA". centreforaviation.com. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
- ↑ "Объединенная авиастроительная корпорация задолжала банкам полтриллиона рублей" [United Aircraft Corporation owes banks half a trillion rubles]. vesti.ru (bằng tiếng Nga). ngày 1 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
- ↑ "Western sanctions push Russia's energy revenues to lowest since 2020". Reuters. ngày 3 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Russia, China launch gas pipeline 'Power of Siberia'". Deutsche Welle. ngày 2 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
- ↑ "Sanctions boost Russian economic resilience". Deutsche Welle. ngày 24 tháng 3 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2017.
- ↑ Movchan, Andrey (ngày 28 tháng 3 năm 2017). "How the Sanctions Are Helping Putin". Politico. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2023.
- ↑ Kitroeff, Natalie Natalie; Weisenthal, Joe (ngày 16 tháng 12 năm 2014). "Here's Why the Russian Ruble Is Collapsing". Bloomberg L.P.
- ↑ "When will Russia become the world's fifth biggest economy? Don't ask Vladimir Putin". Meduza. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2018.
- ↑ "Putin approves big military spending hikes for Russia's budget". Reuters. ngày 27 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Putin Ratifies Kyoto Protocol on Emissions". The New York Times. ngày 6 tháng 11 năm 2004. tr. A1. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2022.
- ↑ Tony Johnson. "G8's Gradual Move toward Post-Kyoto Climate Change Policy". Council on Foreign Relations. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2010.
- ↑ "Russia gives definitive approval to Paris climate accord". Reuters (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "Nationally determined contribution of the Russian Federation" (PDF).
- ↑ "Does Russia have a climate plan to reduce carbon emissions?". euronews (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "The Military Emissions Gap – Tracking the long war that militaries are waging on the climate" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2024.
- ↑ "Valdai Discussion Club meeting". Presidential Executive Office 2024. ngày 7 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2024.
- ↑ Lanshina, Tatiana. "Climate control: How Russia turned environmentalism into a tool of political influence". The Insider. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "The President of Russia attended the ceremonial signing of the Act on Canonical Communion that was held in the Cathedral of Christ the Saviour" (Thông cáo báo chí). Đại sứ quán Nga tại Ottawa. ngày 17 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2008.
- ↑ No love lost, Yossi Mehlman, Haaretz, 11 December 2005.
- ↑ Phyllis Berman Lea Goldman, (15 September 2003). "Cracked De Beers". Forbes.
- ↑ Krichevsky, Lev (ngày 10 tháng 10 năm 2011). ""In Putin's return, Russian Jews see stability". Jewish Telegraphic Agency". The Jerusalem Post. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013.
- ↑ "Ronald S. Lauder: Russia's fight against anti-Semitism isn't just good for Jews – it's good for Russia as well". World Jewish Congress. ngày 1 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016.
- 1 2 "Missionaries are struggling to work under new Russia law banning proselytizing". The Washington Post. 2016.
- ↑ "Russia's mysterious campaign against Jehovah's Witnesses". ABC News. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Merkel cools Berlin Moscow ties Emma Simpson, BBC, 16/1/2006
- ↑ America's Failed (Bi-Partisan) Russia Policy by Stephen F. Cohen, HuffPost
- ↑ "Statement by President of Russia Dmitry Medvedev" (bằng tiếng Anh). Russia's President web site. ngày 26 tháng 8 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2008.
- ↑ Russia Recognizes Independence of Georgian Areas , by Clifford J. Levy, The New York Times, 26 tháng 8 2008.
- ↑ Medvedev recognises Georgian states, Al Jazeera, ngày 26 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2008.
- ↑ Russia recognizes Georgia's breakaway republics, Russian News and Information Agency, ngày 26 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2008.
- ↑ 26 tháng 8 năm 2008-bk-estland.html; Chancellor Merkel calls recognition absolutely inacceptable and against international law 26 tháng 8 năm 2008
- ↑ EU đang cân nhắc trừng phạt Nga
- ↑ "Chavez Recognizes South Ossetia, Abkhazia As Independent - Radio Free Europe/Radio Liberty © 2009". Rferl.org. ngày 10 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
- ↑ "Nicaragua recognizes South Ossetia and Abkhazia | Top Russian news and analysis online | 'RIA Novosti' newswire". En.rian.ru. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
- ↑ President of Russia[liên kết hỏng]
- ↑ "Venezuela recognizes S. Ossetia, Abkhazia as independent - Chavez". Russian news and analysis online | 'RIA Novosti' newswire. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
- ↑ "Сообщение МИД РЮО | Информационное агентство Рес". Cominf.org. ngày 23 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2012.
- ↑ 'Với Mỹ, quan trọng nhất là lật đổ Putin' Lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2012 tại Wayback Machine, Đất Việt, 04/02/2012
- ↑ "Thực chất hoạt động của một vài tổ chức phi chính phủ". Báo Công an Nhân dân Điện tử. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Putin muốn đưa định nghĩa hôn nhân vào hiến pháp". VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. ngày 4 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2023.
- ↑ Putin, Vladimir (ngày 24 tháng 12 năm 2012). "For Russia, deepening friendship with India is a top foreign policy priority". The Hindu (bằng tiếng Anh). ISSN 0971-751X. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2022.
- 1 2 "India, Russia sign new defence deals". BBC News. ngày 24 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; tên "bbc.co.uk" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau - ↑ Tamkin, Emily (ngày 8 tháng 7 năm 2020). "Why India and Russia Are Going to Stay Friends". Foreign Policy. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2021.
- ↑ "India, China allies stressed for dialogue on Ukraine conflict, says Putin". Hindustan Times. ngày 15 tháng 10 năm 2022.
- ↑ "Russia's 'Pivot to Asia' and the SCO". The Diplomat. ngày 21 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Kulik, Sergey (ngày 7 tháng 7 năm 2015). "Russia and the BRICS: Priorities of the Presidency". Council of Councils. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Sharkov, Damien (ngày 18 tháng 7 năm 2018). "Russia wants to build a rail bridge to Japan, linking Tokyo to Europe". Newsweek. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Abiru, Taisuke. "Japan-Russia Relations in the Post-Abe Era". Carnegie Moscow Center. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Resetting Japan-Russia Relations". The Diplomat (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Kirk, Don (ngày 20 tháng 7 năm 2000). "Putin Is Acclaimed On Pyongyang Visit : After Decades of Sullen Isolation, North Korea Emerges as a Key Player". The New York Times.
- ↑ "Russia, Mongolia Sign New Treaty To Bring Partnership To 'Whole New Level'". Radio Free Europe/Radio Liberty. ngày 3 tháng 9 năm 2019.
- ↑ "Putin promises infrastructure investment in Mongolia". France 24. ngày 4 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Peter Walker (ngày 6 tháng 9 năm 2007). "Putin signs Indonesia arms deal". The Guardian.
- ↑ "Putin: Russia and Indonesia are Linked by Long-standing and Close Ties". Sekretariat Cabinet Republik Indonesia. ngày 19 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Thayer, Carlyle (ngày 9 tháng 10 năm 2012). "The Russia–Vietnam comprehensive partnership". East Asia Forum. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Hasrat-Nazimi, Waslat (ngày 2 tháng 3 năm 2016). "Russia's new role in Afghanistan". Deutsche Welle (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Hamid Karzai and the Russia Connection". The Diplomat. ngày 3 tháng 11 năm 2017.
- ↑ "President Putin bestows Order of Friendship on Filipino". Arab News. ngày 22 tháng 11 năm 2019.
- ↑ England, Charlotte (ngày 28 tháng 11 năm 2016). "Rodrigo Duterte tells Vladimir Putin: 'I just want to be friends'". The Independent.
- ↑ Bowie, Nile (ngày 10 tháng 9 năm 2019). "The ties that bind Mahathir to Moscow". Asia Times.
- ↑ "Putin Condemns Myanmar Violence After Mass Rally in Chechnya". The Moscow Times. ngày 5 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Russia working closely with post-coup Myanmar on military supplies – exporter". Reuters. ngày 1 tháng 7 năm 2021.
- ↑ "Russia Courts Indonesia". Brtsis.com. ngày 12 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2011.
- ↑ Coorey, Phillip (ngày 7 tháng 9 năm 2007). "Putin and Howard Sign Uranium Deal". The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014.
- ↑ Tony Abbott condemns Russian 'invasion of Ukraine' as bullying; 'The Guardian'; 29 August 2014
- ↑ Tony Abbott discusses MH17 with Vladimir Putin at APEC; Kremlin says Russian president was not 'shirtfronted'; Australian Broadcasting Corporation; 12 November 2014
- ↑ The Latest: Putin denies Russia responsible for MH17 downing; apnews.com; 26 May 2014
- ↑ Standish, Reid (ngày 1 tháng 9 năm 2020). "China, Russia Deepen Their Ties Amid Pandemic, Conflicts With The West". Radio Free Europe/Radio Liberty. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2021.
- 1 2 3 Snow, Philip (2023). China and Russia: Four Centuries of Conflict and Concord. New Haven: Yale University Press. ISBN 978-0-300-16665-1.
- ↑ "AFP: Chinese leader Xi, Putin agree key energy deals".[liên kết hỏng]
- ↑ Buckley, Chris; Myers, Steven Lee (ngày 7 tháng 3 năm 2022). "'No Wavering': After Turning to Putin, Xi Faces Hard Wartime Choices for China". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Russia Forges Nuclear Links With Venezuela Lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2013 tại Wayback Machine France 24
- ↑ "World – Americas – Russian bombers land in Venezuela". BBC. ngày 11 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015.
- ↑ Tyler, Patrick (ngày 16 tháng 12 năm 2000). "Putin, in Cuba, Signals Priority of Ties to U.S." The New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2016.
- ↑ McCoy, Terrence; Harlan, Chico (ngày 24 tháng 2 năm 2022). "The global right has lionized Putin. The Ukraine attack leaves many leaders on an awkward footing". The Washington Post. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Putin: Iran Has Right to Develop Peaceful Nuclear Programme Lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2008 tại Wayback Machine, 16 October 2007, Rbc.ru
- ↑ "Putin's warning to the U.S." Reuters. ngày 16 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2007.
- ↑ Владимир Путин положительно оценил итоги Второго Каспийского саммита на встрече с Президентом Ирана Махмудом Ахмадинежадом [Vladimir Putin assessed the results of the Second Caspian Summit positively on meeting with Iranian President Mahmoud Ahmadinejad] (bằng tiếng Nga). Kremlin.ru. ngày 16 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2008.
- ↑ Визит в Исламскую Республику Иран. Второй Каспийский саммит [Visit to Iran. Second Caspian Summit] (bằng tiếng Nga). Kremlin.ru. ngày 16 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2008.
- ↑ "Putin confirms Iran visit, brushes off 'plot' reports". Lebanon Wire. ngày 15 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2015.
- ↑ Vladimir Putin defies assassination threats to make historic visit to Tehran, 16 October 2007, The Times.
- ↑ "Answer to a Question at the Joint Press Conference Following the Second Caspian Summit". Kremlin.ru. ngày 16 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2008.
- 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênSturmer - ↑ "Putin's visit 'historic and strategic'". Gulf News. ngày 18 tháng 4 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013.
- ↑ Parks, Cara (ngày 21 tháng 3 năm 2011). "Putin: Military Intervention In Libya Resembles 'Crusades'". HuffPost.
- ↑ Crugnale, James (ngày 15 tháng 12 năm 2011). "Vladimir Putin Blames US Drones For Gaddafi Death, Slams John McCain". Mediaite.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013.
- ↑ Citizen, Ottawa (ngày 16 tháng 12 năm 2011). "Putin claims U.S. planned murder of Gadhafi". Canada.com. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013.
- ↑ Trenin, Dmitri (ngày 9 tháng 2 năm 2012). "Why Russia Supports Assad". The New York Times.
- ↑ Fred Weir (ngày 19 tháng 1 năm 2012). "Why Russia is willing to sell arms to Syria". The Christian Science Monitor. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013.
- ↑ Viscusi, Gregory (ngày 1 tháng 6 năm 2012). "Hollande Clashes With Putin Over Ouster of Syria's Assad". Bloomberg BusinessWeek. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013.
- ↑ Putin, Vladimir V. (ngày 11 tháng 9 năm 2013). "A Plea for Caution From Russia". The New York Times. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2013.
- ↑ "Putin says US, Russia agree on how to destroy Syria's chemical weapons". The Jerusalem Post. ngày 8 tháng 10 năm 2013.
- ↑ Melik Kaylan. "Putin's Syria Gambit Could Be His Waterloo". Forbes.
- ↑ Kaylan, Melik. "Is Putin About To Invade Ukraine?". Forbes.
- ↑ Pedler, John (2015). A Word Before Leaving: A Former Diplomat's Weltanschauung. tr. 129.
- ↑ Borshchevskaya, Anna (2022). Putin's War in Syria. I. B. Tauris. tr. 70, 71, 80, 81, 157, 169, 171, 174. ISBN 978-0-7556-3463-7.
Even pro-Kremlin Russian analysts over the years, in private, acknowledged that at least one chief Russian goal in Syria has been anti-American. Anti-Americanism was also behind the Kremlin's chief motivation for supporting Assad
- ↑ "Russia carries out first air strikes in Syria". Al Jazeera. ngày 30 tháng 9 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2015.
- ↑ Geukjian, Ohannes (2022). "5: Russian Diplomacy, War, and Peace Making, 2017–19". The Russian Military Intervention in Syria. McGill-Queen's University Press. tr. 196. ISBN 978-0-228-00829-3.
Russia's overreach aimed at undermining and hollowing out the US-led international order
- ↑ Cohen, Roger (ngày 24 tháng 12 năm 2022). "Putin Wants Fealty, and He's Found It in Africa". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2023.
- ↑ Bax, Pauline (ngày 3 tháng 12 năm 2021). "Russia's Influence in the Central African Republic". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Posthumus, Bram (ngày 20 tháng 5 năm 2022). "Analysis: The curious case of Russia in Central African Republic". Al Jazeera. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2022.
- ↑ Burke, Sauer; Jason, Pjotr (ngày 16 tháng 12 năm 2022). "Ally of Wagner Group boss hurt in 'assassination attempt' in central Africa". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2022.
- ↑ Gershkovich, Evan (ngày 26 tháng 10 năm 2019). "At Russia's Inaugural Africa Summit, Moscow Sells Sovereignty". The Moscow Times.
- ↑ "Putin: relations with Africa are a 'priority' for Moscow". Africa News. ngày 20 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "Vladimir Putin signs deals worth $1.3bn during UAE visit". Young Herald. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2019.
- ↑ "Putin highlights unique bond formed between Russia, Israel". TASS. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Wong, Edward; Swanson, Ana (ngày 2 tháng 1 năm 2023). "How Russia's War on Ukraine Is Worsening Global Starvation". The New York Times.
- ↑ Vợ chồng ông Putin ly dị BBC, 7.6.2013
- ↑ Ende mit Schrecken: Putin löscht seine Ex-Frau aus Focus, 3.4.2014
- ↑ Hé lộ thông tin con rể tỉ phú của tổng thống Putin, tuoitre, 18.12.2015
- ↑ Judo: History, Theory, Practice. North Atlantic Books. 2004. ISBN 1-55643-445-6.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|authors=(trợ giúp) - ↑ Tom Ross. "Presidential Judo". FightingArts.com. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2013.
- ↑ "Putin wears a 60.000-dollar watch in comparison with George W. Bush's Timex for $50". pravda.ru. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2006.
- ↑ "Questions posed to Vladamir Putin". Kremlin website. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2006.
- ↑ Nga tổ chức thi hát
- ↑ Ngọc Mai (ngày 12 tháng 6 năm 2015). "Vì sao ông Putin luôn đi trễ khi hội đàm?". Báo điện tử Thanh Niên. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2020.
- ↑ WikiLeaks cables condemn Russia as 'mafia state', theguardian, 1.12.2010
- ↑ "The Sunday Times – Putin's judo cronies put lock on billions in riches". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2015.
- ↑ Putins geheimes Privatvermögen, ARD, 5.10.2014 (tiếng Đức)
- ↑ The World's Most Powerful People 2013 The World's Most Powerful People 2013
- Vladimir Putin, First Person, Public Affairs, 2000, 208 pp. (collection of interviews). Russian title: Ot Pervogo Litsa. Razgovory s Vladimirom Putinym (From the First Person. Conversations with Vladimir Putin), Moscow, Vagrius, 2000.
Liên kết ngoài
- Tiếng Việt
- Putin V. V. tại Từ điển bách khoa Việt Nam
- Ông Putin bị mất ánh hào quang « bất khả xâm phạm » như thế nào ?
- Putin người lãnh đạo tuyệt vời Nga
- Tiếng Nga và tiếng Anh
- Vladimir Putin tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
- Vladimir Putin trên IMDb
- Những bài phát biểu của Tổng thống Lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2007 tại Wayback Machine trên website chính thức.
- The official site of the President of the Russian Federation
- The Accidental Autocrat, in The Atlantic Monthly, March 2005 (may require subscription)
- Russia's Foreign Policy in a resurgent mode: An Analysis Lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2006 tại Wayback Machine
- Transcript of the Interactive Webcast with the President, held on ngày 7 tháng 7 năm 2006 (BBC version).
- BBC – Vladimir Putin: Spy turned politician
- Putin and his judo activities Lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2021 tại Wayback Machine
- Vladimir.Vladimirovich.ru political satire site Lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2005 tại Wayback Machine
- noputin.com
- Vladimir Putin Fan Club
- Anatol Lieven (ngày 11 tháng 5 năm 2006). "Putin versus Cheney". International Herald Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2006.
- Sinh năm 1952
- Nhân vật còn sống
- Vladimir Putin
- Vận động viên judo
- Tín hữu Chính Thống giáo tại Nga
- Bắc Đẩu Bội tinh hạng nhất
- Chính trị gia Nga thế kỷ 20
- Sĩ quan KGB
- Người Sankt-Peterburg
- Huân chương Hồ Chí Minh
- Tâm lý bài Ukraina
- Chủ nghĩa bài Mỹ
- Tâm lý bài châu Âu
- Time 100 năm 2022
- Chủ nghĩa chuyên chế
- Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô
- Tổng thống Nga
- Tỷ phú Nga