Julian Assange

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Julian Assange
Julian Assange (Norway, March 2010).jpg
Assange năm 2010
Sinh 3 tháng 7, 1971 (44 tuổi)[1][2][3]
Townsville, Queensland, Australia
Quốc gia Australia
Công việc Tổng biên tập và phát ngôn viên của WikiLeaks
Con cái Daniel Assange[4]
Giải thưởng Economist Index of Censorship Award (2008)
Amnesty International UK Media Award (2009)
Sam Adams Award (2010)

Julian Paul Assange (phát /əˈsɑːnʒ/; sinh 3 tháng 7 năm 1971) là một nhà báo người Úc[5][6][7]. Ông được biết đến nhiều với tư cách là người sáng lập, một người tổng biên tập và phát ngôn viên của WikiLeaks. Ông từng là hacker nổi tiếng, công việc hiện nay của Assange là thu thập tài liệu và hình ảnh mà các chính phủ và tổ chức coi là tuyệt mật rồi công bố trên trang Website WikiLeaks.[8]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Assange sinh ra ở thành phố Townsville, bang Queensland, miền bắc Australia, sau đó chuyển đến Đảo Magnetic[9]. Cha mẹ của Assange điều hành một nhà hát lưu động nên tuổi thơ của ông nay đây mai đó, không có cuộc sống ổn định. Năm 1979, mẹ của ông, Christine tái hôn[10]; cha dượng của ông là một nhạc sĩ, đồng thời là thành viên một giáo phái có tên gọi " Gia Đình " . Mẹ của Julian phải vất vả lắm mới chạy thoát khỏi người đàn ông này bởi ông ta muốn đưa em trai của Julian về sống cùng giáo phái.

Do thường xuyên phải di chuyển, nên Julian không được học hành đến nơi đến chốn. Cho đến năm Julian 14 tuổi thì cậu đã phải chuyển chỗ ở đến 37 lần. Cậu cũng thường xuyên phải chuyển trường. Mẹ cậu nhận trách nhiệm dạy dỗ cậu con trai, nhưng cũng chẳng được bao nhiêu. Chính sự thiếu hụt này đã tạo cho Julian thói quen tự học. Cậu dành nhiều thời gian tại các thư viện, rất thích sách về khoa học và chẳng bao lâu sau cậu có cơ hội được ứng dụng những kiến thức tự học vào thực tế.  

“Chiến công” đầu tiên của Julian là bẻ khoá chương trình của chiếc máy tính Commodore 64.  Cậu say mê  khám phá những thông điệp mà những nhà lập trình tạo ra trong các đoạn code. “Tôi bị cuốn hút bởi sự đơn giản trong mối quan hệ tương tác với máy tính. Điều này cũng giống như chơi cờ: quy tắc chơi rất đơn giản, nhưng để giải được các nước cờ thì bao giờ cũng phức tạp” – báo New Yorker dẫn lời Assange.

Năm 16 tuổi, Assange quyết định thử làm hacker thực thụ. Chàng trai nhanh chóng được giới giang hồ ngả mũ kính chào vì khả năng bẻ khoá được đa số các hệ thống bảo vệ. Cùng một số người bạn Assange thành lập một nhóm hacker có nguyên tắc hành động rất hào hiệp: “Không gây hại đối với hệ thống máy tính mà bạn đột nhập vào. Không thay đổi thông tin lưu trữ trong hệ thống đó. Không chia sẻ thông tin với tất cả”. 

Chàng trai Julian khi đó phải lòng một cô bé 16 tuổi. Họ dọn đến ở chung với nhau. Vài năm sau hai người kết hôn và có con. Cặp vợ chồng trẻ trải qua một số thời khắc phức tạp  liên quan đến hoạt động không mấy hợp pháp của Julian. Có lần cảnh sát đã tích thu toàn bộ các thiệt bị máy tính của anh, sau khi kết tội anh biển thủ tiền của Citibank. Tội này sau đó Assange được minh oan. “Kể từ đó tôi hiểu rằng cần phải thận trọng hơn” – Assange kể.

Cảnh điền viên gia đình của Assange kéo dài không lâu. Năm 1991, anh đột nhập thành công vào mạng viễn thông của Công ty Nortel và sa lưới.

Assange thất bại trong việc thuyết phục ban lãnh đạo Nortel không báo cho cảnh sát, nên có thể bị bắt bất cứ lúc nào và có nguy cơ bị án phạt từ 10 năm. Vào thời điểm khó khăn đó, vợ của Assange đã quyết định chia tay với người chồng hacker. 3 năm sau, phiên toà xét xử Assange diễn ra và đưa ra phán quyết rằng hành động của anh không gây thiệt hại cho Nortel. Phiên toà kết thúc với việc Assange phải nộp tiền phạt, nhưng anh không gọi được vợ đem con trở lại. 

Website WikiLeaks.org được Assange dựng lên khi đã giã từ nghiệp hacker. Mục đích của website này là đăng tải những tài liệu mật theo tinh thần mà Assange tuyên bố là “đấu tranh với bộ máy kiểm duyệt toàn thế giới”. Assange tụ tập một nhóm những người đồng quan điểm, làm việc ngày đêm để dự án ra đời. Dốc  toàn tâm toàn lực vào cuộc chơi mới, Assange làm việc quên ăn quên ngủ. Anh ngồi lỳ trước máy tính, hàng tháng liền không ra khỏi phòng.

Cần ghi nhận rằng những tài liệu đầu tiên mà Wikileaks đăng tải không hề hấp dẫn quảng đại quần chúng. Trong số đó có thông tin về Alpha Sigma Tau  - hội sinh viên bí mật được thành lập tại một trường đại học của Mỹ, “hiến chương” của hội Tam hoàng, điều lệ của một giáo phái đa thê. Nhưng đến năm 2007 thì Wikileaks bắt đầu xuất hiện những văn bản đầu tiên gây chấn động, mà tiêu biểu là thông tin về những vụ biển thủ tài chính của ông Daniel Arap Moi – cựu Tổng thống Kenya. Và mãi đến năm 2010, “vinh quang thực sự” mới đến với Assange sau khi Wikileaks đăng tải những tài liệu phơi bày sự thật cuộc chiến của Mỹ tại Afghanistan và Iraq.

Theo đuổi sự nghiệp phơi bày những bí mật chính trị, ngoại giao..., bỏ sang một bên phong cách sống truyền thống, tự đặt mình và các đồng nghiệp vào vòng nguy hiểm, Assange tiếp tục đi theo những “lý tưởng” đặt ra từ thời trai trẻ tin tặc của mình. Rất khó để xác định xem ông nghiêm túc đến cỡ nào trong việc theo đuổi vinh quang, hay vinh quang tự tìm đến ông. Nhưng có điều rõ ràng là công việc của Assange đã thu hút sự chú ý của toàn thế giới

Tính đến cuối tháng 11 năm 2010, Julian Assange được tạp chí Forbes xếp hạng 68 trong Danh sách những người quyền lực nhất thế giới.[11]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Julian Assange's mother recalls Magnetic”. Australia: Magnetic Times. Ngày 7 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ Khatchadourian, Raffi (ngày 7 tháng 6 năm 2010). “No Secrets”. The New Yorker. 
  3. ^ “ASSANGE, JULIAN PAUL”. Ngày 30 tháng 11 năm 2010. 
  4. ^ Johns-Wickberg, Nick (ngày 17 tháng 9 năm 2010). “Daniel Assange: I never thought WikiLeaks would succeed”. Crikey. 
  5. ^ “Julian Assange | cij”. Centre for investigative journalism. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010. 
  6. ^ “Amnesty announces Media Awards 2009 winners”. Amnesty International. Ngày 2 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010. 
  7. ^ Alex Massie (2 tháng 11 năm 2010). “Yes, Julian Assange Is A Journalist”. The Spectator. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010. 
  8. ^ Thái An (12 tháng 4 năm 2010). “WikiLeaks - Thành trì không thể công phá?”. Báo Tiền Phong (bằng tiếng Việt) (Tiền Phong Online). Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2010. 
  9. ^ Courier Mail newspaper: Wikileaks founder Julian Assange a born and bred Queenslander
  10. ^ “Wikileaks' Julian Assange | Mother says don't hunt down my son”. Smh.com.au. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2010. 
  11. ^ “The World's Most Powerful People” (Thông cáo báo chí). Forbes. 11/2010. Truy cập 27/9/2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]