Dẫn độ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Dẫn độ là một hình thức hợp tác tương trợ tư pháp giữa các nước. Theo đó nước được yêu cầu sẽ bắt giữ và chuyển giao người đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc người đã bị Tòa án của nước yêu cầu kết án bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật cho nước yêu cầu để nước này truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt. (Theo khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp 2007) [1]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Dẫn độ tội phạm có những đặc điểm sau:

  • Thứ nhất, dẫn độ là việc một quốc gia chuyển giao một người phạm tội cho một quốc gia khác. Việc chuyển giao phải được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của nước có yêu cầu. Người bị dẫn độ là người đã thực hiện hành vi phạm tội, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án bằng một bản án, sau đó bỏ trốn sang nước được yêu cầu.
  • Thứ hai, dẫn độ chỉ được thực hiện khi có yêu cầu dẫn độ từ một quốc gia. Nước mà người phạm tội mang quốc tịch, nước nơi hành vi phạm tội xảy ra, nơi tội phạm hoàn thành, hoặc nước có quyền lợi bị tội phạm xâm phạm đều có quyền yêu cầu dẫn độ. Việc chấp hay không chấp nhận dẫn độ sẽ do quốc gia được yêu cầu dẫn độ quyết định dựa trên các điều ước quốc tế liên quan pháp luật quốc gia và tình hình tội phạm trên thực tế.
  • Thứ ba, dẫn độ nhằm hai mục đích: truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người phạm tội; các hoạt động này sẽ do quốc gia yêu cầu tiến hành sau khi tiếp nhận người bị dẫn độ từ quốc gia được yêu cầu. Pháp luật Việt nam đã quy định rõ tại khoản 2 Điều 32 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007.
  • Thứ tư, dẫn độ thường được thực hiện trên cơ sở các điều ước quốc tế hoặc mức độ quan hệ giữa các quốc gia.[1]

Người bị yêu cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Về nguyên tắc, người bị yêu cầu dẫn độ có thể là công dân của nước yêu cầu, người nước ngoài hoặc người không quốc tịch. Công dân của nước được yêu cầu cũng có thể là đối tượng bị dẫn độ nếu pháp luật quốc gia và Điều ước quốc tế (ĐƯQT) về dẫn độ mà nước được yêu cầu là thành viên cho phép dẫn độ công dân cho nước ngoài.

Người phạm tội chỉ có thể bị dẫn độ nếu yêu cầu dẫn độ đáp ứng các điều kiện về tội phạm, hình phạt và các quy định khác theo quy định của ĐƯQT và pháp luật về dẫn độ của nước yêu cầu và nước được yêu cầu dẫn độ.[2]

Nguyên tắc của dẫn độ tội phạm[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ quyền quốc gia là tối cao và bất khả xâm phạm. Khi nhận được một yêu cầu dẫn độ tội phạm, quốc gia nhận được yêu cầu có quyền từ chối hay chấp nhận tùy vào pháp luật dẫn độ của nước mình hay các điều ước quốc tế mà mình đã ký kết hoặc tham gia.

Nguyên tắc có đi có lại[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung của nguyên tắc này quy định: nước được yêu cầu dẫn độ sẽ chấp nhận dẫn độ với sự đảm bảo rằng nước có yêu cầu giúp đỡ cũng sẽ chấp nhận và thực hiện một yêu cầu như vậy của nước được yêu cầu trong tương lai. Nguyên tắc này thể hiện sự tôn trọng quyền bình đẳng giữa các quốc gia.

Nguyên tắc định tội danh kép[sửa | sửa mã nguồn]

Đối tượng bị yêu cầu dẫn độ sẽ được dẫn độ khi hành vi của họ được định danh là hành vi tội phạm theo luật quốc gia của cá nước yêu cầu và nước nhận được yêu cầu dẫn độ.[3]

Nguyên tắc không dẫn độ người phạm tội về chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên tắc này được ghi nhận trong một số điều ước quốc tế đa phương, song phương về tương trợ tư pháp giữa các quốc gia và trong luật quốc gia của các nước.

Dẫn độ tội phạm ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Dẫn độ tội phạm ở Việt Nam được quy định trong Luật Quốc tịch năm 1998, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, đặc biệt vấn đề dẫn độ tội phạm đã được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành đó là Luật Tương trợ tư pháp năm 2007.

Việt Nam ký kết với một số quốc gia trên thế giới các hiệp định tương trợ tư pháp (TTTP) về dân sự, gia đình và vấn đề hình sự mà trong đó có quy định về dẫn độ tội phạm. Việt Nam đã ký kết với Hàn Quốc hiệp định về dẫn độ mà và đang đàm phán để ký kết với một số quốc gia khác.[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]