Phạm Bình Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phạm Bình Minh
Pham Binh Minh June 4, 2012.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 13 tháng 11 năm 2013 – nay
3 năm, 251 ngày
Tiền nhiệm Phạm Gia Khiêm
Kế nhiệm đương nhiệm
Vị trí Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Nhiệm kỳ 3 tháng 8 năm 2011 – nay
5 năm, 353 ngày
Tiền nhiệm Phạm Gia Khiêm
Kế nhiệm đương nhiệm
Vị trí Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn
Lê Hoài Trung
Hà Kim Ngọc
Vũ Hồng Nam
Đặng Đình Quý
Nguyễn Quốc Dũng
Nguyễn Bá Hùng.
Nhiệm kỳ 27 tháng 1 năm 2016 – nay
1 năm, 176 ngày
Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Việt Nam
Nhiệm kỳ 29 tháng 8 năm 2007 – 2 tháng 8 năm 2011
3 năm, 338 ngày
Tiền nhiệm Lê Công Phụng
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 26 tháng 3, 1959 (58 tuổi)
Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Học vấn Thạc sĩ Luật và Ngoại giao
Trường Học viện Quan hệ Quốc tế, Fletcher Tufts University
Dân tộc Kinh
Cha Nguyễn Cơ Thạch (Phạm Văn Cương)
Mẹ Phan Thị Phúc[1]
Vợ Nguyễn Nguyệt Nga
Con cái
  • Phạm Bình Anh (s. 1987)
  • Phạm Bình Nam
Trang web phambinhminh.chinhphu.vn

Phạm Bình Minh (sinh ngày 26 tháng 3năm 1959) là một nhà ngoại giaochính trị gia người Việt Nam. Ông hiện là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV nhiệm kì 2016-2021, thuộc đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Thái Nguyên.[2] Ông đã trúng cử đại biểu Quốc hội năm 2016 ở đơn vị bầu cử số 3, tỉnh Thái Nguyên gồm có thành phố Sông Công, thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình.[3][4] Ông từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII nhiệm kì 2011-2016, thuộc đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Quảng Ninh.[5] Trong Đảng Cộng sản Việt Nam, ông giữ chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa X, XI[6]. Ông là con trai của cố Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 26 tháng 3 năm 1959, nguyên quán tại xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Cha của ông là nhà ngoại giao Phạm Văn Cương, tức Nguyễn Cơ Thạch, bấy giờ đang giữ chức vụ Tổng lãnh sự nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Ấn Độ. Mẹ của ông là bà Phan Thị Phúc. Ông hiện cư trú ở Số 12, ngách 19/18, phố Liễu Giai, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.[4]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tốt nghiệp, năm 1981, ông được nhận vào làm Chuyên viên Vụ Đào tạo, Bộ Ngoại giao[8], bấy giờ cha ông đang giữ chức Bộ trưởng.

Một năm sau, năm 1982, ông được bổ nhiệm làm Tùy viên Đại sứ quán Việt Nam tại Anh. Sau khi hoàn tất nhiệm kỳ công tác, năm 1986, ông được triệu hồi về nước và được phân công làm Chuyên viên của Vụ Vấn đề chung, Bộ Ngoại giao. Năm 1991, ông được thăng làm Phó Vụ trưởng Vụ các Tổ chức Quốc tế, Bộ Ngoại giao. Cùng năm đó, cha ông nghỉ hưu.

Năm 1999, ông được bổ nhiệm làm Đại sứ, Phó trưởng phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc. Từ năm 2001 đến tháng 1 năm 2003, ông được bổ nhiệm làm Công sứ, Phó Đại sứ của Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Tháng 3 năm 2003, ông được triệu hồi về nước và được bổ nhiệm làm Quyền Vụ trưởng Vụ Các Tổ chức Quốc tế. Đến tháng 8 cùng năm, ông được bổ nhiệm chính thức làm Vụ trưởng.

Tháng 4 năm 2006, tại Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X. Tháng 9 cùng năm, ông được bổ nhiệm làm Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao cho Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm vừa được phê chuẩn kiêm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Tháng 8 năm 2007, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Ngoại giao[9]. Tháng 11 cùng năm ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Thường trực. Tại Hội nghị Lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương khóa X, ông được chuyển từ Ủy viên dự khuyết thành Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X từ ngày 13 tháng 1 năm 2009.

Ngày 29 tháng 03 năm 2010, ông được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bổ nhiệm kiêm chức Phó Chủ tịch Ủy ban Sông Mê Công Việt Nam.[10]

Tháng 1 năm 2011, tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam XI, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI.

Tháng 8 năm 2011, tại Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XIII, ông đã được phê chuẩn làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thay cho ông Phạm Gia Khiêm.

Ngày 13 tháng 11 năm 2013, ông được Quốc hội phê chuẩn làm Phó thủ tướng kiêm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Tháng 1 năm 2016, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Lao động hạng Nhất năm 2015 do đã có thành tích xuất sắc trong công tác từ năm 2011-2014, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.[7]
  • Huân chương Lao động hạng Ba năm 2009 do có thành tích xuất sắc trong công tác giai đoạn 2002 – 2008.[7]
  • Danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc năm 2010 vì có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.[7]
  • Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam năm 2011 do có thành tích xuất sắc trong quá trình Việt Nam đảm nhiệm cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.[7]
  • Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2006 vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác từ 2001 – 2006.[7]
  • Huy chương Vì sự nghiệp Ngoại giao năm 2003 vì đã có thành tích đóng góp quý báu vào sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành Ngoại giao.[7]

Ảnh hưởng của cha[sửa | sửa mã nguồn]

Nối nghiệp Cha
Tiến thân

Cùng với cha con ông Đoàn Trọng Truyến - Đoàn Mạnh Giao, cha con ông Phạm Văn Cương - Phạm Bình Minh là những trường hợp hiếm hoi cha con nối nghiệp cùng làm người đứng đầu một Bộ tại Việt Nam kể từ sau năm 1945.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ ông là bà Nguyễn Nguyệt Nga[12], Vụ trưởng Vụ Hợp tác Kinh tế đa phương, Bộ Ngoại giao, từng công tác tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ. Ông bà có với nhau 2 người con trai. Con trai cả Phạm Bình Anh sinh năm 1987 hiện đang công tác tại Vụ Tổ chức Quốc tế, Bộ Ngoại giao-Vụ mà trước đây ông Phạm Bình Minh đã công tác. Con trai ông vừa mới kết hôn tháng 4/2016 và con dâu ông cũng làm tại Vụ Tổ chức Quốc tế. Con trai thứ Phạm Bình Nam hiện đang học Đại học RMIT Việt Nam tại học sở Hà Nội.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Dược sĩ đại học công tác ban đầu ở bệnh viện Việt Đức sau đó cũng chuyển sang bộ Ngoại giao công tác [1]
  2. ^ “Thông tin đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14”. Website Quốc hội Việt Nam. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2017. 
  3. ^ “Danh sách những người trúng cử đại biểu quốc hội khóa XIV (Ban hành kèm theo nghị quyết số 617/NQ-HĐBCQG ngày 08/6/2016 của Hội đồng Bầu cử Quốc gia)”. Báo điện tử đại biểu nhân dân. 10 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2017. 
  4. ^ a ă â Hội đồng bầu cử Quốc gia năm 2016, Danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV năm 2016 ở 63 tỉnh thành
  5. ^ “Thông tin đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13”. Website Quốc hội Việt Nam. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2017. 
  6. ^ [2]
  7. ^ a ă â b c d đ e ê “Tiểu sử Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh”. Vụ Thông tin Báo chí - Bộ Ngoại giao. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017. 
  8. ^ Vụ Thông tin Báo chí - Bộ Ngoại giao. “Tiểu sử Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh”. Trang Website Bộ Ngoại giao Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 2013. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  9. ^ Quyết định bổ nhiệm ông Phạm Bình Minh lam Thứ trưởng Ngoại giao.
  10. ^ Quyết định 395/QĐ-TTg năm 2010 Về việc bổ nhiệm ông Phạm Bình Minh, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao, kiêm giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Sông Mê Công Việt Nam.
  11. ^ a ă HÀ CẨM (29 tháng 4 năm 2006). “Ông ủy viên dự khuyết”. Tuổi trẻ Online. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  12. ^ Phu nhân Bộ trưởng Ngoại giao mời tiệc trà phu nhân Đại sứ các nước ASEAN

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]