Phạm Bình Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phạm Bình Minh
Pham Binh Minh June 4, 2012.jpg
Chức vụ
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
Nhiệm kỳ 3 tháng 8, 2011 – nay
&0000000000000004.0000004 năm, &0000000000000032.00000032 ngày
Tiền nhiệm Phạm Gia Khiêm
Kế nhiệm đương nhiệm
Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao
Nhiệm kỳ 29 tháng 8, 2007 – 2 tháng 8, 2011
Tiền nhiệm Lê Công Phụng
Vụ trưởng Vụ Các tổ chức quốc tế,
Bộ Ngoại giao
Nhiệm kỳ Tháng 3, 2003 – Tháng 9, 2006
Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam
Nhiệm kỳ 13 tháng 11,2013 – nay
&0000000000000001.0000001 năm, &0000000000000295.000000295 ngày
Tiền nhiệm Phạm Gia Khiêm
Phó Vụ trưởng Vụ Các tổ chức quốc tế,
Bộ Ngoại giao
Nhiệm kỳ 1991 – 1999
Phó Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ
Nhiệm kỳ 2001 – Tháng 1, 2003
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 26 tháng 3, 1959 (56 tuổi)
Học vấn Thạc sỹ Luật và Ngoại giao
Alma mater Học viện Quan hệ Quốc tế, Fletcher Tufts University
Dân tộc Kinh
Cha hoặc mẹ Nguyễn Cơ Thạch
Vợ Nguyễn Nguyệt Nga
Trang web phambinhminh.chinhphu.vn

Phạm Bình Minh (sinh năm 1959) là một chính khách và nhà ngoại giao Việt Nam. Ông hiện đang là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Ông cũng là con trai bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch (tên thật Phạm Văn Cương).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 26 tháng 3 năm 1959, nguyên quán tại xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Cha của ông là nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, bấy giờ đang giữ chức vụ Tổng lãnh sự nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Ấn Độ. Mẹ của ông là bà Phan Thị Phúc.

Thuở nhỏ, ông theo học tại trường phổ thông cấp 2, 3 Nguyễn Trãi tại Hà Nội. Năm 1977, ông đăng ký dự thi vào trường Đại học Bách khoa Hà Nội, tuy nhiên do ảnh hưởng của cha, ông chuyển sang dự thi và được tuyển vào Học viện Quan hệ Quốc tế. Sau khi tốt nghiệp, năm 1981, ông được nhận vào làm Chuyên viên Vụ Đào tạo, Bộ Ngoại giao[1], bấy giờ cha ông đang giữ chức Bộ trưởng.

Một năm sau, năm 1982, ông được bổ nhiệm làm Tùy viên Đại sứ quán Việt Nam tại Anh. Sau khi hoàn tất nhiệm kỳ công tác, năm 1986, ông được triệu hồi về nước và được phân công làm Chuyên viên của Vụ Vấn đề chung, Bộ Ngoại giao. Năm 1991, ông được thăng làm Phó Vụ trưởng Vụ các Tổ chức Quốc tế, Bộ Ngoại giao. Cùng năm đó, cha ông nghỉ hưu.

Năm 1999, ông được bổ nhiệm làm Đại sứ, Phó trưởng phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc. Từ năm 2001 đến tháng 1 năm 2003, ông được bổ nhiệm làm Công sứ, Phó Đại sứ của Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Tháng 3 năm 2003, ông được triệu hồi về nước và được bổ nhiệm làm Quyền Vụ trưởng Vụ Các Tổ chức Quốc tế. Đến tháng 8 cùng năm, ông được bổ nhiệm chính thức làm Vụ trưởng.

Tháng 4 năm 2006, tại Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X. Tháng 9 cùng năm, ông được bổ nhiệm làm Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao cho Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm vừa được phê chuẩn kiêm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Tháng 8 năm 2007, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Ngoại giao[2]. Tháng 11 cùng năm ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Thường trực. Tại Hội nghị Lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương khóa X, ông được chuyển từ Ủy viên dự khuyết thành Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X từ ngày 13 tháng 1 năm 2009.

Ngày 29 tháng 03 năm 2010, ông được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bổ nhiệm kiêm chức Phó Chủ tịch Ủy ban Sông Mê Công Việt Nam.[3]

Tháng 1 năm 2011, tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam XI, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI.

Tháng 8 năm 2011, tại Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XIII, ông đã được bầu làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thay cho ông Phạm Gia Khiêm.

Ngày 13 tháng 11 năm 2013, ông được Quốc hội bầu làm Phó thủ tướng kiêm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Ảnh hưởng của cha[sửa | sửa mã nguồn]

Nối nghiệp Cha
Tiến thân

Cùng với cha con ông Đoàn Trọng Truyến - Đoàn Mạnh Giao, cha con ông Phạm Văn Cương - Phạm Bình Minh là những trường hợp hiếm hoi cha con nối nghiệp cùng làm người đứng đầu một Bộ tại Việt Nam kể từ sau năm 1945.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ ông là bà Nguyễn Nguyệt Nga[5], Vụ trưởng Vụ Hợp tác Kinh tế đa phương, Bộ Ngoại giao, từng công tác tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ. Ông bà có với nhau 2 người con trai, và cả 2 người đang du học tại Anh Quốc.

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian hoạt động trong Ngành ngoại giao, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã được nhận nhiều phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước như:

  • Huy chương Vì sự nghiệp Ngoại giao năm 2003 vì đã có thành tích đóng góp quý báu vào sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành Ngoại giao.
  • Huân chương Lao động Hạng 3 năm 2009 do có thành tích xuất sắc trong công tác giai đoạn 2002 – 2008.
  • Danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc năm 2010 vì có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
  • Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2011 do có thành tích xuất sắc trong quá trình Việt Nam đảm nhiệm cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
  • Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2006 vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác từ 2001 – 2006.[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]