Bộ Thông tin và Truyền thông (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bộ Thông tin và Truyền thông
Chính phủ Việt Nam
Logo Bộ Thông tin và Truyền thông.png

Nguyenmanhhung2022 (1).jpg
Bộ trưởng đương nhiệm
Nguyễn Mạnh Hùng
từ 24 tháng 10 năm 2018
(quyền từ 23 tháng 7 năm 2018)

Bổ nhiệm bởiChủ tịch nước Việt Nam
Nhiệm kỳ5 năm
Thành lập28 tháng 8 năm 1945; 77 năm trước (1945-08-28)
Bộ trưởng đầu tiênTrần Huy Liệu (Bộ Thông tin, Tuyên truyền)
Ngân sách 2018893.790 triệu đồng[1]
Thứ trưởngNguyễn Huy Dũng
Phan Tâm
Phạm Đức Long
Nguyễn Thanh Lâm
Tình trạng   Đang hoạt động   
Địa chỉsố 18 phố Nguyễn Du, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Websitemic.gov.vn
Emblem of Vietnam.svg
Bài này nằm trong loạt bài về:
Chính trị và chính phủ
Việt Nam

Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam là cơ quan của Chính phủ Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí; xuất bản, in, phát hành; phát thanhtruyền hình; thông tin điện tử; thông tấn; thông tin đối ngoại; thông tin cơ sở; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; công nghiệp công nghệ thông tin; ứng dụng công nghệ thông tin; an toàn thông tin mạng; giao dịch điện tử; chuyển đổi số quốc gia và quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân của Bộ Thông tin và Truyền thông là Bộ Thông tin, Tuyên truyền của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1945 với Trần Huy Liệu là Bộ trưởng đầu tiên [2]. Ngày 1/1/1946 đổi tên thành Bộ Tuyên truyền và Cổ động nhưng đến ngày 2/3/1946 thì bị bãi bỏ. Vai trò của Bộ được chuyển sang Bộ Nội vụ với tên gọi lần lượt là Nha Tổng Giám đốc Thông tin và Tuyên truyền (3/1946-11/1946) và Nha Thông tin (11/1946-7/1951). Ngày 10/7/1951, Nha Thông tin được chuyển sang trực thuộc Phủ Thủ tướng. Ngày 24/2/1952 Nha Thông tin đổi tên thành Nha Tuyên truyền và Văn nghệ trực thuộc Bộ Giáo dục.

Tháng 8 năm 1954 sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Bộ Tuyên truyền được tái lập một thời gian ngắn, Bộ trưởng lúc này là Hoàng Minh Giám. Ngày 20/9/1955 chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đổi tên Bộ Tuyên truyền thành Bộ Văn hóa. Ngày 13/7/1977 Tổng cục Thông tin và Bộ Văn hóa hợp nhất thành Bộ Văn hóa và Thông tin. Ngày 24/6/1981 lại tách ra riêng 2 Bộ Văn hóa và Bộ Thông tin, Bộ trưởng Bộ Thông tin lúc này là Trần Hoàn. Từ ngày 31/3/1990 đến ngày 31/7/2007, Bộ Văn hóa và Bộ Thông tin sát nhập thành một với tên gọi lần lượt là Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch (1990), Bộ Văn hóa - Thông tin và Thể thao (1991), Bộ Văn hóa - Thông tin (1992-2007).

Ngoài ra từ 2002 đến 2007 còn có Bộ Bưu chính, Viễn thông riêng biệt, Bộ trưởng là Đỗ Trung Tá.

Ngày 27 tháng 7 năm 2007, Bộ Thông tin và Truyền thông hiện tại chính thức được Quốc hội khóa XII phê chuẩn thành lập theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Bộ này được thành lập trên cơ sở Bộ Bưu chính, Viễn thông và Cục Báo chí, Cục Xuất bản thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin cũ. Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Thông tin và Truyền thông là ông Lê Doãn Hợp.

Nhiệm vụ và quyền hạn[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ, Nghị định số 101/2020/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2016/NĐ-CP và những nhiệm vụ, quyền hạn theo Nghị định số 48/2022/NĐ-CP ngày 26 tháng 7 năm 2022[3] sau đây:

  • Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội; dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Chính phủ, của bộ và các nghị quyết, dự án, đề án, chương trình tổng kết theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
  • Quản lý nhà nước về các lĩnh vực chính:
  1. Báo chí (bao gồm báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình, bản tin thông tấn).
  2. Xuất bản (bao gồm xuất bản, in, phát hành).
  3. Thông tin đối ngoại.
  4. Quảng cáo.
  5. Thông tin điện tử.
  6. Thông tin cơ sở và hoạt động truyền thanh - truyền hình cấp huyện.
  7. Bưu chính.
  8. Viễn thông.
  9. Tần số vô tuyến điện.
  10. Công nghiệp công nghệ thông tin.
  11. Chuyển đổi số quốc gia.
  12. An toàn thông tin mạng.
  13. Giao dịch điện tử.
  14. Dịch vụ sự nghiệp công và Doanh nghiệp (thuộc lĩnh vực quản lý).
  • Xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác mạng bưu chính, viễn thông dùng riêng, mạng Truyền số liệu chuyên dùng phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Đảng, Nhà nước.
  • Phối hợp tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm báo chí, chương trình phát thanh, truyền hình đã mã hóa, xuất bản phẩm, tem bưu chính, sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông, đối tượng quyền sở hữu công nghiệp thuộc các ngành, lĩnh vực quản lý của bộ theo quy định của pháp luật; phối hợp chỉ đạo các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian thực hiện quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
  • Quản lý xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa thuộc các lĩnh vực quản lý của bộ theo quy định của pháp luật.
  • Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức[4][sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh đạo Bộ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyễn Huy Dũng, nguyên Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia
  2. Phan Tâm, nguyên Cục trưởng Cục Viễn thông
  3. Phạm Đức Long, nguyên Chủ tịch HĐTV VNPT
  4. Nguyễn Thanh Lâm, nguyên Cục trưởng Cục Báo chí

Khối các đơn vị tham mưu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vụ Hợp tác quốc tế
  • Vụ Khoa học và Công nghệ
  • Vụ Kinh tế số và Xã hội số
  • Vụ Bưu chính
  • Vụ Kế hoạch - Tài chính
  • Vụ Pháp chế
  • Vụ Tổ chức cán bộ
  • Thanh tra Bộ
  • Văn phòng Bộ

Khối các đơn vị chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

Khối các đơn vị sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Công đoàn Ngành Thông tin và Truyền thông Việt Nam
  • Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bộ Thông tin và Truyền thông
  • Ban quản lý Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích

Doanh nghiệp trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Quốc tế tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ tên Nhiệm kỳ Chức vụ
1 Đỗ Trung Tá 2002 - 2007
2 Lê Doãn Hợp 2007 - 3/8/2011
3 Nguyễn Bắc Son 3/8/2011 - 8/4/2016
4 Trương Minh Tuấn 9/4/2016 - 23/10/2018
5 Nguyễn Mạnh Hùng 23/10/2018 - nay

Thứ trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đặng Văn Thân - Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện (1986 - 1997); Tiến sĩ; Anh hùng Lao động Thời kỳ Đổi mới; Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Đại biểu Quốc hội, nguyên Bí thư Ban Cán sự Đảng Tổng cục Bưu điện.
  • Mai Liêm Trực - Tổng cục trưởng; Phó Bí thư Ban Cán sự Đảng Tổng cục Bưu điện (1997 - 2002); Thứ trưởng Thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông (2002 - 2005).
  • Vũ Đức Đam: Nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
  • Đỗ Quý Doãn: Nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (nghỉ hưu ngày 1/10/2013).
  • Đặng Đình Lâm: Nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông.
  • Lê Nam Thắng: Nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
  • Trần Đức Lai: Nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
  • Nguyễn Minh Hồng: Nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
  • Phạm Hồng Hải: Nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
  • Nguyễn Thành Hưng: Nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
  • Hoàng Vĩnh Bảo: Nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
  • Phạm Anh Tuấn: Nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.

Bê bối[sửa | sửa mã nguồn]

Vụ án MobiFone mua 95% cổ phần AVG[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 2 năm 2019, 2 cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc SonTrương Minh Tuấn bị bắt với tội danh Vi phạm quy định về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng. Hai ông bị điều tra về những sai phạm trong dự án Tổng công ty Viễn thông MobiFone mua 95% cổ phần của Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn Cầu AVG.[7][8] Ngoài ra, công an cũng đã khởi tố và tạm giam ông Lê Nam Trà, cựu Chủ tịch HĐTV Tổng công ty MobiFone; ông Phạm Đình Trọng, cựu Vụ trưởng Vụ Quản lý doanh nghiệp thuộc Bộ TT&TT; bà Phạm Thị Phương Anh, Phó Tổng GĐ MobiFone và ông Cao Duy Hải, Tổng GĐ Tổng công ty MobiFone.[9]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Số liệu ngân sách nhà nước”. Cổng thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 10 Tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 10 Tháng 3 năm 2018.
  2. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 Tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 Tháng 12 năm 2020.
  3. ^ “Nghị định 48/2022/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông”.
  4. ^ VinasDoc. “Nghị định 48/2022/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông”. VinasDoc (bằng tiếng vietnamese). Truy cập ngày 28 Tháng 7 năm 2022.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  5. ^ doc.vinaseco.vn. “Quyết định 1816/QĐ-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Công nghiệp công nghệ thông tin và Truyền thông”. VinasDoc (bằng tiếng vietnamese). Truy cập ngày 7 Tháng 10 năm 2022.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  6. ^ [1] Lưu trữ 2009-08-07 tại Wayback Machine Liên minh Bưu chính châu Á Thái Bình Dương (APPU).
  7. ^ Cựu bộ trưởng Nguyễn Bắc Son bị bắt
  8. ^ “Bắt hai cựu Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn”. Báo điện tử Dân Trí. Truy cập 23 tháng 2 năm 2019.
  9. ^ Điểm mặt 6 bị can bị khởi tố, bắt tạm giam trong vụ MobiFone mua AVG

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]