Học viện Cảnh sát nhân dân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Học viện Cảnh sát nhân dân
Thông tin chung
Loại hìnhĐại học, sau đại học
Thành lập11 tháng 5, 1968
Tổ chức và quản lý
Giám đốcThiếu tướng GS-TS. Trần Minh Hưởng
Sinh viên~10,000
Thông tin khác
Địa chỉphường Cổ Nhuế 2
quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Việt Nam
Vị tríHà Nội, Việt Nam
Websitewww.hvcsnd.edu.vn

Học viện Cảnh sát nhân dân cùng với Học viện Chính trị CAND và Học viện An ninh nhân dân là ba trường đào tạo hàng đầu của Công an nhân dân Việt Nam, đào tạo những sĩ quan cảnh sát có trình độ đại học và sau đại học cho lực lượng cảnh sát.

Học viện Cảnh sát là trường trọng điểm, đầu ngành của Lực lượng Công an nhân dân (cùng với Học viện Chính trị CAND và Học viện An ninh nhân dân), mục tiêu đến năm 2018 Học viện trở thành trường trọng điểm Quốc gia.

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

1. Các giai đoạn trong tiến trình phát triển

Ngày 15 tháng 05 năm 1968, trường Cảnh sát nhân dân được thành lập với tiền thân là trường Công an Trung ương.

Giai đoạn từ 1968 - 1975: Trường Cảnh sát nhân dân ra đời - đào tạo hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân

Giai đoạn từ 1976 đến 1986: Thực hiện nhiệm vụ đào tạo sĩ quan Cảnh sát nhân dân bậc đại học

Giai đoạn từ 1986 đến 1990: Trường Đại học Cảnh sát nhân dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước

Giai đoạn từ 1991 đến 2000: Trường Đại học Cảnh sát nhân dân tiếp tục đổi mới và phát triển toàn diện

Giai đoạn từ 2001 đến nay: Học viện Cảnh sát nhân dân trong xu thế hội nhập và phát triển toàn diện; phấn đấu xây dựng nhà trường đến năm 2015 trở thành trường trọng điểm của lực lượng CAND, đến năm 2018 trở thành trường trọng điểm quốc gia.

2. Những mốc son vàng

Ngày 15/5/1968: Trường CSND được thành lập

Bộ Công an ra Quyết định 514/CA/QĐ “Tách phân hiệu Cảnh sát nhân dân ra khỏi trường Công an Trung ương, thành lập trường riêng, có nhiệm vụ đào tạo bậc trung học cho lực lượng Cảnh sát nhân dân”.

Quyết định được công bố tại thôn Phong Vân, Ba Vì, Hà Tây. Với 153 cán bộ giáo viên, công nhân viên và 1.789 học viên của 20 lớp học (trong đó có 6 lớp sơ học) đã long trọng làm lễ thành lập trường Cảnh sát nhân dân, lấy mật hiệu là T18.

Ngày 15/5/1968 là ngày ra đời của trường Cảnh sát nhân dân, đó cũng là ngày truyền thống của Học viện Cảnh sát nhân dân ngày nay.

Ngày 27/11/1976: Công nhận thuộc hệ đại học

Hội đồng Chính phủ ra Quyết định 231/CP “Công nhận Trường sĩ quan Cảnh sát nhân dân của Bộ Nội vụ thuộc hệ thống giáo dục Đại học quốc gia”. Khóa D1 là khóa học đầu tiên được chiêu sinh theo quy chế tuyển sinh đại học của nhà nước với tổng số 264 học viên. Việc chiêu sinh và đào tạo sĩ quan Cảnh sát nhân dân khóa D1 đã đưa trường Cảnh sát nhân dân phát triển sang một giai đoạn đào tạo mới, vừa đào tạo bậc trung học, vừa đào tạo bậc đại học. Đây là giai đoạn có tính chất bản lề, chuyển nối để trường Cảnh sát nhân dân phát triển thành trường sĩ quan Cảnh sát nhân dân thuộc hệ thống đào tạo đại học quốc gia.

15/05/1992: Đào tạo bậc sau đại học.

Ngày 15/05/1992 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết định số 998/QĐ/SĐH, giao nhiệm vụ cho trường Đại học Cảnh sát nhân dân đào tạo hệ Cao học (chuyên ngành Điều tra tội phạm).

Ngày 24/05/1995: Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 315/TTg giao nhiệm vụ đào tạo trên đại học cho trường Đại học CSND.

Có thể khẳng định, đây là mốc son quan trọng đánh dấu sự trưởng thành về chất và tầm vóc của Học viện. Học viện Cảnh sát nhân dân là cơ sở đầu tiên của Bộ Công an được Nhà nước giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học.

Đào tạo sau đại học ở Học viện Cảnh sát nhân dân nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ những người làm khoa học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ của đất nước.

Ngày 15/11/2001: Nâng cấp từ trường Đại học Cảnh sát nhân dân lên Học viện Cảnh sát nhân dân.

Ngày 15/11/2001 trường Đại học Cảnh sát nhân dân long trọng tổ chức lễ Quyết định số 969/2001/BCA(X13) ngày 2 tháng 10 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Công an chuyển Trường Đại học Cảnh sát nhân dân thành Học viện Cảnh sát nhân dân. Sự kiện này thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Bộ Công an đến công tác giáo dục đào tạ của lực lượng Công an nói chung và trường Đại học Cảnh sát nhân dân nói riêng. Đây là niềm tự hào, là một vinh dự lớn đối với nhà trường song cũng đặt ra cho Học viện những nhiệm vụ nặng nề hơn, yêu cầu cao hơn về công tác đào tạo, xứng đáng là một Trung tâm đào tạo chất lượng cao của lực lượng CSND.

Ngày 12/08/2015: Đón nhận Quyết định công nhận Học viện CSND là cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của ngành Công an.

Ngày 12/08/2015, Đại tướng, GS.TS Trần Đại Quang - Bộ trưởng Bộ Công an trao Quyết định số 3999/QĐ-BCA-X11 ngày 26/6/2015 về việc công nhận Học viện Cảnh sát nhân dân là cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của lực lượng Công an nhân dân. Đây là sự kiện đánh dấu bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng của Học viện CSND về mọi mặt, qua đó, Học viện CSND lên kế hoạch và lộ trình phù hợp, phấn đấu để trở thành cơ sở giáo dục trọng điểm của quốc gia vào năm 2018, cùng với các trường Công an nhân dân nâng cao chất lượng công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, có trình độ ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới.

Ngày 15/05/2018: Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Học viện CSND và đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ 2

Ngày 14/05/2018, nhân dịp Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Học viện, Học viện đã vinh dự được đồng chí Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhằm ghi nhận những thành tích tiêu biểu, đặc biệt xuất sắc, những cống hiến to lớn cho sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng lực lượng CAND không ngừng lớn mạnh, trưởng thành; góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của dân tộc, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân..

3. Những phần thưởng cao quý mà Học viện đã có được.

Với bề dày thành tích đóng góp cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo và xây dựng lực lượng Công an nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý:

- Năm 1985, Huân chương Quân công hạng nhì;

- Năm 1996, Huân chương Quân công hạng nhì;

- Năm 1998, Huân chương Độc lập hạng nhất;

- Năm 2003, Huân chương Hồ Chí Minh;

- Năm 2008, Huân chương Quân công hạng nhất.

- Năm 2012, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Lao động hạng Nhất (nước CHDCND Lào tặng).

- Năm 2018, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ 02

- Có 10 tập thể được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất, nhì, ba; 06 tập thể được tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng ba.

Hàng nghìn cán bộ, học viên được tặng thưởng Huân chương, huy chương: kháng chiến, chiến công, bảo vệ ANTQ, Chiến sĩ vẻ vang các hạng, Huân chương Hữu nghị... các kỷ niệm chương: Vì sự nghiệp giáo dục, Vì thế hệ trẻ, Vì sự phát triển của Phụ nữ Việt Nam, Vì sự nghiệp xây dựng tổ chức Công đoàn, Vì sự nghiệp xây dựng Đảng, Vì chủ quyền an ninh biên giới, Vì chủ quyền biển đảo Tổ quốc... Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng, Huy hiệu Chiến sĩ Trường Sa.

Và đã có 16 đồng chí nguyên là sinh viên của Học viện được nhà nước phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.







Chức năng, nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Sứ mạng và tầm nhìn

1.1. Sứ mạng

Học viện Cảnh sát nhân dân là cơ sở giáo dục đại học công lập đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực trong hệ thống giáo dục quốc dân trực thuộc Bộ Công an, có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có trình độ sau đại học, đại học; bồi dưỡng chức danh, nghiệp vụ cho lãnh đạo, chỉ huy của lực lượng Cảnh sát nhân dân và Bộ Công an; bồi dưỡng giáo viên cho các trường Cảnh sát nhân dân; tham gia giáo dục quốc phòng an ninh; thực hiện công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo theo kế hoạch của Bộ trưởng; là trung tâm nghiên cứu khoa học trong toàn lực lượng; giữ vai trò nòng cốt cho sự phát triển của các trường Công an nhân dân.

1.2. Tầm nhìn

Học viện Cảnh sát nhân dân phấn đấu trở thành cơ sở giáo dục trọng điểm, trường chuẩn quốc gia; là trung tâm đào tạo Cảnh sát hàng đầu trong khu vực ASEAN.

1.3. Giá trị cốt lõi

Phát huy truyền thống 50 năm xây dựng và trưởng thành, bản sắc văn hóa và triết lý phát triển của Học viện Cảnh sát nhân dân đã được định hình với một giá trị cốt lõi:

Chất lượng cao - Tiên phong - Hội nhập - Phát triển bền vững

1.4. Khẩu hiệu hành động

“PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG - ĐOÀN KẾT, KỶ CƯƠNG - ĐỔI MỚI,

NĂNG ĐỘNG - PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN”


+ Hoàn thiện mô hình tổ chức của Học viện theo mô hình mới của Bộ Công an;

+ Tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên có trình độ chuyên môn giỏi;

+ Hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy;

+ Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế;

+ Xây dựng cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại phục vụ công tác đào tạo của Học viện;

+ Nâng cao chất lượng công tác quản lý học viên đảm bảo chính quy, kỷ cương, kỷ luật;

+ Nâng cao chất lượng công tác giáo dục, đào tạo, gắn đào tạo lý luận với thực tiễn công tác.


“4 Thi đua, 3 Đột phá”

+“4 Thi đua”: Thi đua quản lý tốt; thi đua dạy tốt, học tốt; thi đua nghiên cứu khoa học tốt; thi đua phục vụ tốt.

+“3 Đột phá”: Đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ; đột phá về công tác giảng dạy; đột phá về công tác quản lý học viên.

Chức năng, nhiệm vụ

Học viện Cảnh sát nhân dân là cơ sở đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực; có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; bồi dưỡng chức danh, nghiệp vụ cho cán bộ, lãnh đạo, chỉ huy của lực lượng Cảnh sát nhân dân và của Bộ Công an; bồi dưỡng giáo viên cho các trường Cảnh sát nhân dân; tham gia giáo dục quốc phòng và an ninh; thực hiện công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo theo kế hoạch của Bộ trưởng; là trung tâm nghiên cứu khoa học của lực lượng Công an nhân dân, giữ vai trò nòng cốt cho sự phát triển của các trường Cảnh sát nhân dân.

1. Đào tạo cán bộ có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ cho Công an các đơn vị, địa phương và nhu cầu xã hội theo quy định của Nhà nước và của Bộ trưởng.

2. Tổ chức bồi dưỡng chức danh, nghiệp vụ cho cán bộ, lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ của lực lượng Cảnh sát nhân dân và Bộ Công an; tổ chức bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục cho các trường Cảnh sát nhân dân theo quy định của Bộ trưởng.

3. Tham gia thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh cho cán bộ, lãnh đạo, chỉ huy; cán bộ quy hoạch lãnh đạo, chỉ huy trong Công an nhân dân theo quy định và theo phân công của cấp có thẩm quyền.

4. Tham gia nghiên cứu, xây dựng chương trình khung đào tạo đại học, thạc sĩ, tiến sĩ theo quy định. Chủ trì nghiên cứu, xây dựng chương trình đào tạo và biên soạn giáo trình, tài liệu dạy học của các ngành, chuyên ngành đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ cho lực lượng Cảnh sát nhân dân; đề xuất chủ trương, định hướng nghiên cứu, xây dựng chương trình đào tạo và biên soạn giáo trình, tài liệu dạy học của các ngành, chuyên ngành đào tạo trình độ cao đẳng Cảnh sát nhân dân trở xuống đảm bảo liên thông trong quá trình đào tạo.

5. Chủ trì nghiên cứu xây dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch, biện pháp tổ chức công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo yêu cầu nhiệm vụ, công tác chiến đấu và xây dựng lực lượng Công an nhân dân báo cáo Bộ trưởng quyết định và tổ chức thực hiện.

6. Nghiên cứu xây dựng, ban hành chuẩn đầu ra của từng ngành, chuyên ngành đào tạo của Học viện. Tự đánh giá chất lượng đào tạo và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền.

7. Tổng kết thực tiễn công tác giảng dạy, học tập, quản lý đào tạo, nghiên cứu khoa học nhằm hoàn thiện, đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, gắn quá trình đào tạo của Học viện với thực tiễn công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng Công an nhân dân.

8. Chủ trì hoặc phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện các nhiệm vụ khoa học về lý luận nghiệp vụ Cảnh sát và lĩnh vực khác có liên quan đến công tác bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng, chống tội phạm theo quy định.

9. Quyết định bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư đã được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư và chức danh giảng dạy, huấn luyện, các chức danh khác theo quy định của Nhà nước và của Bộ trưởng.

10. Tổ chức in ấn, xuất bản giáo trình, sách, tài liệu dạy học khác, Tạp chí Cảnh sát nhân dân; quản lý tư liệu giáo khoa và tổ chức công tác thông tin khoa học phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của giảng viên, cán bộ quản lý và học viên theo quy định của Nhà nước và của Bộ trưởng.

11. Nghiên cứu, đề xuất kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế, hợp tác với các trường, các cơ quan, tổ chức ngoài ngành Công an về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên và nghiên cứu khoa học theo quy định của Bộ trưởng.

12. Thực hiện nhiệm vụ của đơn vị dự bị chiến đấu của Bộ Công an theo quy định.

13. Tham gia xây dựng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của Bộ Công an về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm; tư vấn với Bộ trưởng những vấn đề về lý luận, khoa học, chủ trương, chiến lược, giải pháp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng, chống tội phạm.

14. Thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Học viện do Bộ trưởng Bộ Công an giao.

Tổ chức Học viện[sửa | sửa mã nguồn]

Các phòng, ban chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phòng Quản lý đào tạo
  • Văn phòng Học viện
  • Phòng Tổ chức cán bộ
  • Phòng Công tác Đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng
  • Phòng Hậu cần
  • Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo
  • Phòng Quản lý đào tạo hệ Vừa làm vừa học
  • Khoa Sau đại học và Bồi dưỡng nâng cao
  • Phòng Quản lý học viên
  • Phòng Quản lý nghiên cứu khoa học
  • Phòng Quản lý nhà ăn
  • Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản
  • Tạp chí Cảnh sát nhân dân
  • Phòng hợp tác quốc tế
  • Phòng Tài chính
  • Phòng Y tế

Các bộ môn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bộ môn Mác - Lênin, Khoa học Xã hội và Nhân Văn
  • Bộ môn Tâm lý
  • Bộ môn Nghiệp vụ cơ sở
  • Bộ môn Quân sự võ thuật, Thể dục thể thao
  • Bộ môn Toán Tin

Các Trung tâm nghiên cứu và thực hành[sửa | sửa mã nguồn]

  • Viện Khoa học Cảnh sát
  • Trung tâm Thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa
  • Trung tâm đào tạo và sát hạch lái xe
  • Trung tâm Ngoại ngữ - tin học
  • Trung tâm Nghiên cứu An toàn giao thông
  • Trung tâm Huấn luyện và Thực hành nghiệp vụ
  • Trung tâm Bồi dưỡng chức danh và giáo viên
  • Trung tâm Nghiên cứu tội phạm học và điều tra tội phạm
  • Trung tâm Lưu trữ và thư viện
  • Trung tâm Nghiên cứu phát triển lý luận Cảnh sát

Loại hình Đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đào tạo cho Bộ Công an: Trường có 2 bậc đào tạo gồm đại học và sau đại học, đào tạo đại học có 3 hệ chính quy, liên thông và tại chức

Đào tạo dân sự: Trường bắt đầu được Bộ Công an, Bộ Giáo dục đào tạo cho phép tuyển sinh dân sự từ năm 2014.

Hệ Cử nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Đào tạo đại học Chính quy kéo dài 4 năm. Có các khoa:

  • Khoa Cảnh sát kinh tế
  • Khoa Cảnh sát giao thông
  • Khoa Quản lý hành chính
  • Khoa Nghiệp vụ Trinh sát hình sự
  • Khoa Nghiệp vụ Cảnh sát điều tra
  • Khoa Kỹ thuật hình sự
  • Khoa Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp
  • Khoa Cảnh sát ma túy
  • Khoa Cảnh sát vũ trang
  • Khoa Ngoại ngữ
  • Khoa Cảnh sát Môi trường
  • Khoa Phòng chống tội phạm công nghệ cao
  • Khoa Luật
  • Khoa Cảnh sát đường thủy (mới mở thêm trong năm học 2014-2015)

Đào tạo đại học Liên thông kéo dài 3 năm. Có các chuyên ngành:

  • Chuyên ngành Quản lý hành chính
  • Chuyên ngành Cảnh sát Điều tra
  • Chuyên ngành Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp

Đào tại đại học Tại chức gồm 3 chuyên ngành như chuyên tu. Bắt đầu từ năm học 2009 - 2010, Học viện đào tạo 4 ngành: Quản lý hành chính, Điều tra trinh sát cảnh sát, Điều tra hình sự, Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp.

Đào tạo dân sự bắt đầu từ 2014 với chuyên ngành Luật: Để vào học hệ dân sự các thí sinh đã sơ tuyển dự thi vào các trường Công an nhưng không đỗ và có nguyện vọng học tại trường.

Hệ sau đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Đào tạo sau đại học gồm 2 bậc tiến sĩ và thạc sĩ

Nội dung Đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ cử nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng giống như các trường Đại học khác, Học viện cảnh sát đào tạo theo chương trình chung của Bộ Giáo dục Đào tạo và chương trình riêng của Bộ Công an kéo dài trong 05 năm. Học viên ăn ở nội trú tập trung trong doanh trại. Có chế độ nghỉ phép theo Quy định của Bộ Công an.

Học viên sẽ học 5 kỹ năng:

  • Lý luận chính trị: Các môn Triết học Mác-Lenin, Các môn Khoa học xã hội như Tâm Lý, Tôn Giáo...
  • Ngoại ngữ và tin học;
  • Các môn Luật: Chú trọng Luật Hình sựLuật Tố tụng Hình sự.
  • Kỹ năng chiến đấu, chiến thuật: Võ thuật, Bắn Súng, Bơi lội, Thể chất, Chiến thuật...
  • Các môn nghiệp vụ cảnh sát: Điều tra, giao thông, hành chính, trại giam...

Theo tiến trình đổi mới trong năm học 2013 - 2014 sẽ đào tạo theo tín chỉ và rút ngắn thời gian đào tạo xuống 4 năm.

Hệ cao học[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra, có 10 tập thể được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất, nhì, ba; 06 tập thể được tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng ba.

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh đạo Học viện qua các nhiệm kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thượng tá. Lê Quân (5/1968-1974)
  • Đại tá. Trần Đức Trường (1974-1984)
  • Đại tá. Phạm Minh (1984-1992)
  • Thiếu tướng-NGND.GS.TS. Nguyễn Duy Hùng (1992-6/2005)
  • Thiếu tướng.ThS. Nguyễn Trung Thành (6/2005-5/2009) - Nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng
  • Trung tướng.GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm (5/2009-6/2018)
  • Thiếu tướng.GS.TS. Trần Minh Hưởng (10/2018-nay)


Các Giáo sư và Học viên nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]