Đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam là những đại học (cấp quốc gia và cấp vùng), trường đại học, và học viện hàng đầu của quốc gia, được chính phủ ưu tiên giao quyền tự chủ như: được tự in và cấp bằng tiến sỹ; được toàn quyền cử cán bộ đi học nước ngoài, trừ những trường hợp du học bằng ngân sách nhà nước; được chủ động mời và tiếp nhận giảng viên, sinh viên nước ngoài đến học và giảng dạy; được đề xuất mở những ngành đào tạo chưa có trong danh mục đào tạo. Bên cạnh đó, Hiệu trưởng sẽ quyết ngân sách đầu tư thiết bị và xây dựng cơ bản mà không phải thông qua Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.

Hiện nay, ở Việt Nam có 19 cơ sở giáo dục đại học được chọn xây dựng thành đại học trọng điểm quốc gia bao gồm 2 đại học quốc gia, 5 đại học vùng theo lãnh thổ, và 12 trường đại học, học viện theo các lĩnh vực và ngành trọng điểm quốc gia (sư phạm, y dược, kinh tế, nông nghiệp, công nghệ, kỹ thuật quân sự, quân y, hàng hải, báo chí - truyền thông).

Theo kế hoạch của chính phủ, sẽ xây dựng 20 trường đại học nghiên cứu trọng điểm quốc gia có trình độ đào tạo và nghiên cứu tiên tiến làm đầu tàu cho sự phát triển mạng lưới các trường đại học Việt Nam. Về đội ngũ giảng viên sẽ có trình độ tiến sĩ >75%.

Các trường Đại học trọng điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Theo đề án quy hoạch, tính đến 2015, Việt Nam có 19 đại học, trường đại học trọng điểm quốc gia:

  1. Đại học Quốc gia Hà Nội: đại học quốc gia, đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản & ứng dụng hàng đầu miền Bắc Việt Nam.
  2. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: đại học quốc gia, đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản & công nghệ hàng đầu miền Nam Việt Nam.
  3. Đại học Thái Nguyên: đại học vùng, lớn nhất khu vực Trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam.
  4. Trường Đại học Vinh: trường đại học vùng, khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam
  5. Đại học Huế: đại học vùng, lớn nhất khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam.
  6. Đại học Đà Nẵng: đại học vùng, lớn nhất khu vực miền Trung & Tây Nguyên Việt Nam.
  7. Trường Đại học Cần Thơ: trường đại học vùng, lớn nhất khu vực Tây Nam Bộ Việt Nam.
  8. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: trường đại học đầu ngành khối các trường kinh tếquản lýmiền Bắc Việt Nam.
  9. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: trường đại học đầu ngành khối các trường kinh tếmiền Nam Việt Nam.
  10. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: trường đại học đầu ngành khối các trường sư phạmmiền Bắc Việt Nam.
  11. Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh: trường đại học đầu ngành khối các trường sư phạmmiền Nam Việt Nam.
  12. Trường Đại học Y Hà Nội: trường đại học đầu ngành khối các trường y-dược ở miền Bắc Việt Nam.
  13. Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh: trường đại học đầu ngành khối các trường y-dược ở miền Nam Việt Nam.
  14. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội: trường đại học đầu ngành khối các trường kỹ thuậtcông nghệmiền Bắc Việt Nam.
  15. Học viện Kỹ thuật Quân sự: trường đại học đầu ngành khối các trường kỹ thuậtcông nghệ quân sự, công nghiệp quốc phòng Việt Nam
  16. Trường Đại học Hàng hải Việt Nam: trường đại học đầu ngành khối các trường giao thông vận tải Việt Nam
  17. Học viện Nông nghiệp Việt Nam: trường đại học đầu ngành khối các trường nông nghiệp của Việt Nam,
  18. Học viện Quân y: trường đại học đầu ngành về y-dược học quân sự Việt Nam.
  19. Học viện Báo chí và Tuyên truyền: trường đại học đầu ngành khối các trường đại học về ngành báo chí và truyền thông.[1]
  • Các trường đang phấn đấu lọt vào danh sách được đầu tư thành trường đại học trọng điểm quốc gia:
  1. Học viện Cảnh sát Nhân dân-  Tổng cục Chính trị Công an Nhân dân
  2. Trường Đại học Xây dựng- Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường đại học đầu ngành Xây dựng và Kiến trúc của Việt Nam.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]