Trường Đại học Cần Thơ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đại học Cần Thơ
Tên cũ Viện Đại học Cần Thơ[1]
Thông tin chung
Loại hình Đại học công lập
Thành lập 31 tháng 3, 1966; 52 năm trước
Tổ chức và quản lý
Hiệu trưởng Hà Thanh Toàn
Hiệu phó Trần Thị Thanh Hiền
Trần Trung Tính
Giảng viên 1130
Thông tin khác
Địa chỉ Khu II, đường 3/2, Xuân Khánh, Ninh Kiều
Vị trí Cần Thơ, Việt Nam
Điện thoại (84)710-838-237
Email dhct@ctu.edu.vn
Website ctu.edu.vn
Xếp hạng
Xếp hạng quốc gia
Webometrics(2018) 4[2]
uniRank(2018) 5[3]
Xếp hạng châu Á
QS(2018) Nhóm 350[4]

Trường Đại học Cần Thơ là một trong ba trường đại học đa ngành đứng đầu về đào tạo tại miền Nam Việt Nam.[5][6] Được xếp vào nhóm trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam, là một trụ cột trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam. Ngoài đào tạo, trường đồng thời là trung tâm nghiên cứu khoa học và chính sách quản lý lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trường là một trong ba trường đại học tại Việt Nam đạt chuẩn đào tạo quốc tế của Hệ thống đại học ASEAN.

Tiền thân của Trường Đại học Cần Thơ là Viện Đại học Cần Thơ. Bắt đầu từ năm 2012, trường mở rộng thêm cơ sở đào tạo tại Hoà An. Giảng viên được điều chuyển trực tiếp từ cơ sở chính để có thể đảm bảo được chất lượng đào tạo.

Tuyển sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học:[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm ngành giáo dục:

  • Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Công dân, Giáo dục Thể chất, Sư phạm Toán học, Sư phạm Tin học, Sư phạm Vật lý, Sư phạm Hóa học, Sư phạm Sinh học, Sư phạm Ngữ văn, Sư phạm Lịch sử, Sư phạm Địa lý, Sư phạm Tiếng Anh, Sư phạm Tiếng Pháp.

Nhóm ngành quản lý:

  • Quản trị kinh doanh, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Quản lý nguồn lợi thủy sản, Quản lý tài nguyên và môi trường, Quản lý đất đai, Quản lý công nghiệp. Chương trình đào tạo tại khu Hòa An: Quản trị kinh doanh.
  • Chương trình học ngành này chỉ thích hợp cho người học ra trường có khả năng làm quản lý hoặc chủ doanh nghiệp.

Nhóm ngành Kinh tế, thương mại, tài chính:

  • Marketing, Kinh doanh quốc tế, Kinh doanh thương mại, Tài chính - Ngân hàng, Kế toán, Kiểm toán, Kinh tế tài nguyên thiên nhiên.

Nhóm ngành sinh hóa - sinh - thực phẩm - môi trường:

  • Sinh học (chuyên ngành: Sinh học, Vi sinh vật học), Công nghệ sinh học, Sinh học ứng dụng, Hóa học, Hóa dược, Khoa học môi trường, Khoa học đất, Công nghệ kỹ thuật hóa học, Kỹ thuật môi trường, Công nghệ thực phẩm, Công nghệ sau thu hoạch, Công nghệ chế biến thủy sản.

Nhóm ngành nông - lâm - ngư - nghiệp:

  • Chăn nuôi, Nông học, Khoa học cây trồng (chuyên ngành: Khoa học cây trồng, Công nghệ giống cây trồng), Bảo vệ thực vật, Công nghệ rau hoa quả và cảnh quan, Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Lâm sinh, Nuôi trồng thủy sản, Bệnh học thủy sản, Thú y (chuyên ngành: Thú y, Dược thú y), Công nghệ thực phẩm, Công nghệ sau thu hoạch Công nghệ chế biến thủy sản.

Nhóm ngành kỹ thuật:

  • Kỹ thuật tài nguyên nước, Kỹ thuật cơ khí, (chuyên ngành: Cơ khí chế tạo máy, Cơ khí chế biến, Cơ khí giao thông), Kỹ thuật cơ - điện tử, Kỹ thuật điện, điện tử (Chuyên ngành Kỹ thuật điện, Kỹ thuật điện tử, truyền thông), Kỹ thuật điều khiển và tự động hóa, Kỹ thuật Vật liệu, Kỹ thuật môi trường, Vật lý kỹ thuật, Kỹ thuật công trình xây dựng, Kỹ thuật công trình thủy, Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông, Kỹ thuật tài nguyên nước.

Nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn:

  • Việt Nam học (Chuyên ngành Hướng dẫn viên du lịch), Ngôn ngữ Anh (chuyên ngành: Ngôn ngữ Anh, Phiên dịch – Biên dịch tiếng Anh), Ngôn ngữ Pháp, Triết học, Văn học, Kinh tế, Chính trị học, Xã hội học, Thông tin học. Chương trình đào tạo tại khu Hòa An: Việt Nam học, Ngôn ngữ Anh.

Nhóm ngành công nghệ thông tin:

  • Toán ứng dụng, Khoa học máy tính, Truyền thông và mạng máy tính, Kỹ thuật phần mềm, Hệ thống thông tin Công nghệ thông tin (chuyên ngành: Công nghệ thông tin, Tin học ứng dụng), Kỹ thuật máy tính. Chương trình đào tạo tại khu Hòa An: Công nghệ thông tin.

Ngành Luật:

  • Các chuyên ngành: Luật hành chính, Luật thương mại, Luật tư pháp. Đào tạo tại cơ sở Hòa An cả ba chương trình này.

Chương trình học song bằng: Dành cho người học muốn tốt nghiệp cùng lúc hai ngành học.

Chương trình chất lượng cao, tiên tiến và quốc tế.

Các chương trình đào tạo trình độ Tiến sĩ:[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm các ngành:

  • Bảo vệ thực vật, Bệnh lý học và chữa bệnh vật nuôi, Chăn nuôi, Công nghệ sinh học, Công nghệ thực phẩm, Hệ thống thông tin, Khoa học cây trồng, Khoa học đất, Kinh tế nông nghiệp, Môi trường đất và nước, Nuôi trồng thuỷ sản, Phát triển nông thôn, Tài chính - Ngân hàng, Vi sinh vật học.
  • Quản lý đất đai, Quản trị kinh doanh.

Chất lượng đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đội ngũ giảng viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 1 năm 2017, trường có 1118 giảng viên. Trong đó có 7 Giáo sư, 110 Phó giáo sư, 205 Tiến sĩ, 685 Thạc sĩ và 111 giảng viên có trình độ đại học.[7]

Bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo bảng xếp hạng uniRank năm 2018, Đại học Cần Thơ đứng đầu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đứng thứ 3 tại miền Nam và đứng thứ 5 tại Việt Nam.[8]

Còn theo bảng xếp hạng Webometrics, Đại học Cần Thơ đứng đầu tại miền Nam và đứng thứ 4 tại Việt Nam.[9]

Còn theo bảng xếp hạng Quacquarelli Symonds (QS) Đại học Cần Thơ nằm trong nhóm 300 trường đại học/ nhóm trường đại học tốt nhất châu Á.[6]

Kiểm định chất lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 15/7/2013, trường đã đạt được chứng nhận kiểm định AUN-QA của tổ chức ASEAN University Network,[10] chứng nhận bằng cấp của trường có giá trị sử dụng tại các nước Châu Á.[11]

 Chất lượng đầu ra thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chất lượng đầu ra thực tế tính theo các ngành có thời gian tốt nghiệp vào năm 2016[12]
Cấp bậc đào tạo Số lượng nhập học Số lượng tốt nghiệp đúng hạn Tỉ lệ tốt nghiệp loại xuất sắc Tỉ lệ tốt nghiệp loại giỏi Tỉ lệ có việc làm sau khi ra trường 1 năm
Đại học 7062 5053 3,9% 19,1% 88,6%
Thạc sĩ (Cao học) 977 347 4,66% 14,98% 100%

Chú thích:

  • Tỉ lệ sinh viên có việc làm trong vòng một năm sau khi ra trường đã bao gồm số lượng người ra trường có khởi nghiệp thành lập doanh nghiệp, không bao gồm ngộ nhận khởi nghiệp như đa cấp.[13]
  • Thống kê không dành cho bậc đào tạo thấp như cao đẳng với trung cấp, nên không thể nội suy chất lượng đào tạo ở hai hệ đào tạo này.

Cơ sở[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở chính (Khu 2):

  • Đường 3/2, Xuân Khánh, Ninh Kiều[14]
  • Khu học chính với hầu hết các khoa, viện, nhà học, thư viện, ký túc xá sinh viên.

Các khuôn viên khác:

Khu 1:

Cơ sở của Trung tâm Ngoại ngữ, Nhà xuất bản, Ký túc xá CB-CNV-Giảng viên.

Khu 3:

  • Số 1, đường Lý Tự Trọng, Ninh Kiều[16]
  • Đại bản doanh của Trung tâm Công nghệ Phần mềm, Trung tâm Điện tử Tin học.

Khu 4 (Khu Hòa An):

  • 554 Quốc lộ 61, Ấp Hòa Đức, Xã Hòa An, huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang[17]
  • Chi nhánh của ĐH Cần Thơ tại tỉnh Hậu Giang với khoa Phát triển Nông thôn, đáp ứng nhu cầu giáo dục đại học tại địa phương, ngoài ra còn là nơi đào tạo của Bộ môn GDQP-AN, nơi nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và là Khu bảo tồn đa dạng sinh học.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Từ 1966 đến 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Viện Đại học Cần Thơ được thành lập ngày 31 tháng 3 năm 1966 nhưng đến tháng 10 năm 1966 mới khai trương. Được thiết kế bởi kiến trúc sư Nguyễn Quang Nhạc, cựu trưởng khoa kiến trúc, Trường đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là viện đại học thứ năm của Việt Nam Cộng hòa (bốn viện đại học kia là Viện đại học Sài Gòn, Viện đại học Huế, Viện đại học Đà Lạt, và Viện đại học Vạn Hạnh).[18] Viện Đại học Cần Thơ có bốn phân khoa đại học: Khoa học, Luật khoa và Khoa học Xã hội, Văn khoa, và Sư phạm. Sau đó viện đại học này mở thêm phân khoa Canh nông. Ngoài ra, Phân khoa Sư phạm có Trường Trung học Kiểu mẫu.

Năm đầu tiên đó có 985 sinh viên ghi danh học với viện trưởng là Giáo sư Phạm Hoàng Hộ. Viện đại học có ba khuôn viên: trụ sở chính ở Công trường Hòa Bình trong thành phố, một số phân khoa đặt ở Cái Răng và khuôn viên thứ ba ở Cái Khế. Trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân (1968) cơ sở ở Công trường Hòa Bình gồm thư viện, giảng đường và phòng thí nghiệm khoa học trong thị xã bị quân Mặt trận Giải phóng tiến chiếm. Trong cuộc phản công hai bên đánh nhau gây thiệt hại nặng nề nhưng sau đó được tái thiết.[18]

Từ 1975 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Viện Đại học Cần Thơ được đổi thành Đại học Cần Thơ. Lúc này, chương trình đào tạo và sinh viên cũ của Khoa Sư phạm và Cao đẳng Nông nghiệp được tiếp tục đào tạo tại Khoa Sư phạm Tự nhiên và Khoa Nông nghiệp của Đại học Cần Thơ. Sinh viên của các khoa khác hoặc được gởi lên các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh hoặc được chuyển vào các chuyên ngành đang đào tạo tại trường.[19]

Sau năm 1975, Khoa Sư phạm được tách thành Khoa Sư phạm Tự nhiên và Khoa Sư phạm Xã hội đào tạo giáo viên phổ thông trung học gồm Toán học, Vật lý học, Hóa học, Sinh vật học, Văn học, Lịch sử, Địa lý, và Ngoại ngữ. Sau đó mở rộng thành 5 Khoa: Toán - Lý (1980), Hóa - Sinh (1980), Sử - Địa (1982), Ngữ văn (1983) và Ngoại ngữ (1983).

Trường Cao đẳng Nông nghiệp được đổi tên thành Khoa Nông nghiệp, đào tạo 2 ngành Trồng trọt và Chăn nuôi. Đến năm 1979, Khoa Nông nghiệp được mở rộng thành 7 Khoa: Trồng trọt (1977), Chăn nuôi - Thú y (1978), Thủy nông và Cải tạo đất (1978), Cơ khí Nông nghiệp (1978), Chế biến và Bảo quản Nông sản (1978), Kinh tế Nông nghiệp (1979), và Thủy sản (1979).

Năm 1978, Khoa đại học Tại chức được thành lập, có nhiệm vụ quản lý và thiết kế chương trình bồi dưỡng và đào tạo giáo viên phổ thông trung học và kỹ sư thực hành chỉ đạo sản xuất cho các tỉnh ĐBSCL. Thời gian đào tạo là 5 năm. Từ năm 1981 do yêu cầu của các địa phương, công tác đào tạo tại chức cần được mở rộng hơn và trường đã liên kết với các tỉnh mở các trung tâm Đào tạo - Bồi dưỡng đại học Tại chức mà tên gọi hiện nay là Trung tâm Giáo dục Thường xuyên: Tiền Giang - Long An - Bến Tre, Vĩnh Long - Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang và Minh Hải.

Năm 1987, để phục vụ phát triển kinh tế thị trường phù hợp với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, Khoa Kinh tế Nông nghiệp đã liên kết với trường đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh mở thêm 4 ngành đào tạo Cử nhân Kinh tế: Kinh tế Tài chính - Tín dụng, Kinh tế Kế toán Tổng hợp, Kinh tế Ngoại thương và Quản trị Kinh doanh. Tương tự, năm 1988, Khoa Thủy nông đã mở thêm hai ngành đào tạo mới là Thủy công và Công thôn đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà cửa và cầu đường nông thôn ở ĐBSCL.

Ngoài việc thành lập và phát triển các khoa, Đại học Cần Thơ còn tổ chức các Trung tâm nghiên cứu khoa học nhằm kết hợp có hiệu quả 3 nhiệm vụ Đào tạo - nghiên cứu khoa học - Lao động sản xuất. Từ năm 1985 đến năm 1992 có 7 Trung tâm được thành lập: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học (1985), Năng lượng mới (1987), Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Canh tác ĐBSCL (1988), Điện tử - Tin học (1990), Nghiên cứu và Phát triển Tôm-Artemia (1991), Ngoại ngữ (1991), Thông tin Khoa học & Công nghệ (1992).

Tháng 4 năm 2003, Khoa Y- Nha - Dược được tách ra để thành lập trường đại học Y-Dược Cần Thơ trực thuộc Bộ Y tế.[20]

Nghiên cứu khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Cần Thơ đã chủ trì nhiều đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Trường, mở rộng hợp đồng NCKH và chuyển giao tiến độ khoa học và kỹ thuật phục vụ kinh tế xã hội vùng ĐBSCL và trong cả nước, các chương trình nghiên cứu quốc gia có liên kết với các trường đại học trong và ngoài nước được thực hiện trên nhiều địa bàn ở ĐBSCL và trong cả nước đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao.

Tạp chí khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, mã số ISSN: 1859-2333, được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép sửa đổi, bổ sung số 101/GP-BTTTT, ngày 10 tháng 4 năm 2015, cho phép Tạp chí xuất bản 9 kỳ một năm, trong đó có 3 kỳ xuất bản bằng ngôn ngữ tiếng Anh.

Hiệu trưởng và hiệu phó[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệu trưởng:

Phó Hiệu trưởng hiện nay:

  • PGS.TS Trần Thị Thanh Hiền[21]
  • PGS.TS Lê Việt Dũng
  • PGS. TS Trần Trung Tính

Thành viên các tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đây là tên trường trước 1975, sau 1975 bị giải thể và thành lập lại với tên Đại học Cần Thơ
  2. ^ “Webometrics”. 
  3. ^ “2018 Vietnamese University Ranking”. 
  4. ^ “QS Asia University Rankings 2018”. 
  5. ^ “Universities in Vietnam”. 
  6. ^ a ă “QS Asia University Rankings 2018”. 
  7. ^ “Công khai chất lượng”. 
  8. ^ “2018 Vietnamese University Ranking”. 
  9. ^ “Vietnam | Ranking Web of Universities”. 
  10. ^ “AUN member universities”. 
  11. ^ “AUN-QA: Cái đích của những trường đại học hướng đến chất lượng”. Trang tin tức sự kiện trường Đại học Kinh TếXu thế hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng khiến các trường ĐH bắt buộc phải tìm cho mình những thước đo mới tầm cỡ quốc tế. 
  12. ^ “Chất lượng đào tạo thực tế”. 
  13. ^ “Người Việt đang “mê” đa cấp thay vì “say” khởi nghiệp!?”"Có một sự liên hệ mật thiết giữa kinh doanh đa cấp và khởi nghiệp, nhưng nếu so sánh về giá trị cho xã hội mà khởi nghiệp và đa cấp tạo ra, chúng ta có thể thấy rõ sự khập khiễng này." 
  14. ^ Khu học chính với hầu hết các khoa, viện, nhà học, thư viện, ký túc xá sinh viên
  15. ^ Cơ sở của Trung tâm Ngoại ngữ, Nhà xuất bản, Ký túc xá CB-CNV-Giảng viên
  16. ^ Đại bản doanh của Trung tâm Công nghệ Phần mềm, Trung tâm Điện tử Tin học
  17. ^ Chi nhánh của ĐH Cần Thơ tại tỉnh Hậu Giang với khoa Phát triển Nông thôn, đáp ứng nhu cầu giáo dục đại học tại địa phương, ngoài ra còn là nơi đào tạo của Bộ môn GDQP-AN, nơi nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và là Khu bảo tồn đa dạng sinh học.
  18. ^ a ă Embassy of the Republic of Viet-Nam. Viet-Nam Bulletin no 18. Washington, DC: ?, 1969
  19. ^ “GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐẠI HỌC CẦN THƠ”. 
  20. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :0
  21. ^ Thành uỷ viên Thành phố Cần Thơ - Bí thư Đảng uỷ Trường ĐHCT - Phó Trưởng Khoa Thủy Sản 2007-2011

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]