Luật hình sự Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Luật hình sự Việt Nam là luật đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.

Bộ luật hình sự này được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát huy những nguyên tắc, chế định pháp luật Hình sự của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhất là bộ luật Hình sự năm 1985, cũng như những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong nhiều thập kỷ qua của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Điều 1Bộ luật hình sự 2015 có nêu nhiệm vụ của Bộ luật là: Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ luật gồm 426 điều, được chia làm ba phần, với 26 chương:

  • Phần thứ nhất: Những quy định chung. Gồm 12 chương với 107 điều.
  • Phần thứ hai: Các loại tội phạm. Gồm 14 chương với 318 điều.
  • Phần thứ ba: Điều khoản thi hành. Chỉ có 1 điều luật.

Hiệu lực thi hành[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ luật Hình sự số: 100/2015/QH13 (hay còn gọi là Bộ luật hình sự 2015) có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 và Luật số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự hết hiệu lực thi hành.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Điều 426 Bộ luật Hình sự 2015

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]