Đánh giá người Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đánh giá người Việt là những đánh giá và nhận xét về tư duy, tính cách, tâm lýtập quán của người Việt Nam qua các thời kỳ khác nhau đã được một số học giả trong và ngoài nước đưa ra trong các tác phẩm báo chí, tác phẩm văn học, các tiểu luận hay các công trình nghiên cứu xã hội họcdân tộc học. Các đánh giá này được nêu ra tại những thời điểm lịch sử khác nhau, bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, trong đó có một phần đáng kể về vai trò và tính hai mặt, ưu và nhược điểm, của tư duy, tính cách, thói quen, tập quán người Việt trong tiến trình phát triển của dân tộc. Các tổng kết dựa trên các nghiên cứu còn một số khác là nhận định cá nhân hay suy diễn logic của các học giả nổi tiếng. Tính hai mặt của người Việt Nam đã được đa số các học giả thừa nhận và khẳng định trong các công trình nghiên cứu về tâm lý, văn hóa, xã hộilịch sử dân tộc. Những đặc điểm phổ biến trong tính cách, tâm lýtập quán của người Việt mà các tác giả đã chỉ ra cũng không bất biến mà thay đổi theo sự thay đổi của những điều kiện xã hội cùng với sự giao lưu kinh tế, văn hóa, tư tưởng, học thuật với thế giới.

Lịch sử nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thế kỷ 20[sửa | sửa mã nguồn]

Trong sách "Đại Việt sử ký toàn thư" đã có ghi chép về đặc điểm tính cách của người Việt.[1] Đến thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh; các thương nhân phương Tây và các nhà truyền đạo Công giáo đã bắt đầu ghi chép về tính cách con người Việt. Đơn cử như trong sách Xứ đàng trong năm 1621 của tác giả người Ý Cristoforo Borri; ông đã có lời nhận xét và miêu tả về tính khí con người xứ Đàng Trong.[2]

Tới thời nhà Nguyễn, các sách do triều đình biên soạn "Đại Nam thực lục", và "Việt sử thông giám cương mục" cũng có ghi chép về đặc điểm tính cách của người Việt.[1]

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu về đặc điểm tính cách thói quen của người Việt đã được các học giả phương Tây, đặc biệt là Pháp thực hiện từ khi thực dân Pháp bảo hộ An Nam. Tự phán và tự trào tính cách của dân tộc thì phải nói đến một nhân vật nổi danh trên trường văn học và báo chí là Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) ở đầu thế kỷ 20. Khi còn bỉnh bút cho tờ báo quốc ngữ ra đời sớm nhất ở Bắc Kỳ "Đăng cổ tùng báo" [3] (1907) Nguyễn Văn Vĩnh dưới bút danh giả nữ là Đào Thị Loan đã viết những bài phê phán mạnh mẽ những thói hư tật xấu như tục đốt vàng mã, thói hư danh, nạn cờ bạc... Đến khi trở thành chủ bút tờ "Đông Dương Tạp chí" trong hai năm 1913 và 1914, ông mở một chuyên mục mang tên là "Xét tật mình" lấy cảm hứng từ một câu của văn hào Pháp Emile Zola: "Nói hết, để biết hết, để chữa hết" (Tout dire pour tout connaitre, pour tout guérir) và giải thích thêm rằng: "Các nết xấu, các hủ tục của người Việt Nam ta, cần nói hết ra, đừng có giấu giếm, ai cũng biết thì mới sửa được. Luân lý là phải dạy người ta biết gốc rễ điều ác để tự nguyện tránh, mầm mống điều thiện để tự giác làm điều thiện".[4]

Nghiên cứu tính cách của con người Việt Nam dưới góc độ văn hóa được thể hiện trong các công trình nghiên cứu như "Việt Nam phong tục" (1915) của Phan Kế Bính, "Việt Nam văn hóa sử cương" (1938) của Đào Duy Anh, "Văn minh nước Nam" (1944) của Nguyễn Văn Huyên, Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Ðất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) cũng có những nhận xét về tính cách và phong tục người Việt. Các học giả nổi tiếng như Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Ngô Đức Kế,Trần Trọng Kim... cũng như những nhà cách mạng hàng đầu như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu đều có những nhận xét về tính cách người Việt. Những nhận xét này đã được tập hợp lại và xuất bản trong sách "Người xưa cảnh tỉnh" (2019)[5]. Các học giả Pháp cũng có những nghiên cứu về người Việt như "Tâm lý dân tộc An Nam" của Paul Giran, "Người Nông Dân Châu Thổ Bắc Kỳ" của Pierre Gourou...

1945 - hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu tính cách của con người Việt Nam dưới góc độ khoa học lịch sử có công trình "Xã thôn Việt Nam" (1959) và "Tìm hiểu tính cách dân tộc" (1963) của Nguyễn Hồng Phong.[6]

Nghiên cứu tính cách của con người Việt Nam dưới góc độ tâm lý học có các công trình nghiên cứu của Đỗ Long, Vũ Dũng, Phạm Minh Hạc như "Những nghiên cứu tâm lý học" (2007) của Đỗ Long, "Tâm lý người Việt Nam đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Những điều cần khắc phục" (2004) của tập thể tác giả hội viên Hội khoa học Tâm lý - Giáo dục học Việt Nam do Phạm Minh Hạc chủ biên.

Tiếp cận giá trị truyền thống của dân tộc và nghiên cứu tính cách của con người Việt Nam dưới góc độ giá trị học có tác phẩm "Về giá trị và giá trị châu Á" (2005) của Hồ Sỹ Quý, "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" (1980) của Trần Văn Giàu.

Nghiên cứu văn hóa Việt Nam có "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam" (1996), của Trần Ngọc Thêm, "Việt Nam - văn hóa và con người" của Nguyễn Đắc Hưng.

Tính cách của con người Việt Nam còn là đề tài của nhiều bài viết trên các báo và tạp chí.[7][8][9]

Về nhược điểm của người Việt, ở ngoài Việt Nam, gần đây có cuốn "Tổ Quốc Ăn Năn" (2001) của ông Nguyễn Gia Kiểng và cuốn "Văn Hóa trì trệ nhìn từ Hà Nội Đầu Thế Kỷ 21" (2001) của Lê Thị Huệ nêu lên nhiều khuyết điểm của người Việt. Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn có một cuốn sách nhan đề "Người Việt xấu xí" nói về thói quen và tính xấu của người Việt. Nhà xuất bản Thanh niên cũng xuất bản sách "Người Việt - Phẩm chất và thói hư tật xấu" (2009) của nhiều tác giả.[10]

Ưu điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chung[sửa | sửa mã nguồn]

Một số tác giả cho rằng con người Việt Nam có những nét tính cách truyền thống như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, coi trọng tình nghĩa, cần cù, hiếu học đã tạo nên lịch sử đặc trưng của Việt Nam.[11]

Trong tính cách nói chung của con người Việt Nam và trong từng nét tính cách nói riêng đều ẩn chứa tính hai mặt, cái tốt và cái xấu, giá trị và phản giá trị.[11] Một số tác giả cho rằng con người Việt Nam có những nét tính cách truyền thống như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, coi trọng tình nghĩa, cần cù, hiếu học đã tạo nên lịch sử đặc trưng của Việt Nam.[11] Có quan điểm cho rằng chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại[12][13]. Lịch sử Việt Nam cho thấy sức sống của người Việt, sức chịu đựng, khả năng thích nghi với hoàn cảnh và vượt qua nghịch cảnh để tồn tại và phát triển. Nhờ phẩm chất đó mà người Việt vẫn còn tồn tại như là một dân tộc có một quốc gia độc lập cho đến ngày nay trong khi nhiều dân tộc khác ở Châu Á đã bị đồng hóa hay không duy trì nổi nhà nước của họ.[14]

Thái độ coi trọng cộng đồng đã trở thành một nét tính cách truyền thống đặc trưng của con người Việt Nam.[11] Mặc dù tính cộng đồng cao là một nét tính cách của con người Việt Nam có chứa đựng nhiều giá trị, song bên cạnh đó cũng có nhiều mặt hạn chế. Cộng đồng được đề cao quá mức đã ức chế sự phát triển cá tính, kìm hãm sự phát triển cá nhân vì cộng đồng không chấp nhận cá nhân đứng ngoài cộng đồng và cá tính không phù hợp với "Luật bầy đàn" của cộng đồng.

Người Việt rất coi trọng tình nghĩa,[15] như tinh thần đùm bọc, giúp đỡ và quan tâm nhau. Theo nhà nghiên cứu Hồ Sỹ Quý, Việc coi trọng tình nghĩa tới mức thái quá đương nhiên không phải là giá trị tốt trong mọi hoàn cảnh. Coi trọng tình nghĩa tới mức coi thường hiến pháp và pháp luật như "phép vua thua lệ làng", "một trăm cái lý không bằng một tí cái tình" thì khó có thể chấp nhận được.

Cần cù lao động là một giá trị đạo đức nổi bật. Người Việt Nam được các dân tộc khác thừa nhận là có tinh thần hiếu học,[16] cộng với bản chất thông minh, dễ tiếp thu và một nền giáo dục có truyền thống cả ngàn năm. Người Việt Nam xem giáo dục cao hơn sự giàu có và thành công và là trụ cột của văn hóa.[17] Tuy nhiên giáo sư Trần Ngọc Thêm nhận xét ở người Việt cần cù là huyền thoại, hiếu học là ngộ nhận[18].

Nhà truyền giáo người Ý Francesco Buzomi nhận xét:

Đánh giá theo địa phương[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Xứ Đàng Trong năm 1621 của thương gia người Ý Cristoforo Borri, có ghi chép về đặc tính của người Việt ở Đàng Trong như sau:[2]

  1. Dịu dàng và lịch thiệp
  2. Trọng khách, giản dị,
  3. Đoàn kết, thành thật với nhau
  4. Hay chia sẻ, quảng đại
  5. Yêu thích và dễ tiếp thu văn hóa nước ngoài

Tác giả Peter G. Bourne trong sách Men, stress, and Vietnam xuất bản năm 1970 có đánh giá về ưu điểm khiến người miền Bắc chiếm nhiều vị trí quan trọng trong chính quyền Sài Gòn gồm[20]

  1. Làm việc chăm chỉ,
  2. Có tính kiên trì,
  3. Luôn mong muốn vượt lên phía trước.

Theo ông Mai Thanh Thế, người Việt Nam Bộ có những ưu điểm sau:[21]

  1. Tinh thần yêu quê hương đất nước, mà cao nhất là tinh thần yêu nước rất nổi trội, nhất là trước hoạ ngoại xâm.
  2. Bản lĩnh kiên cường, khí phách hiên ngang, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, hào hiệp và phóng khoáng, bình đẳng và ít bảo thủ.
  3. Tinh thần dân chủ và cộng đồng cao, khả năng hợp tác cao, có óc thực tế và thích ứng nhanh.
  4. Năng động, sáng tạo cao; dám nghĩ dám làm, tài ứng biến, thích rũ bỏ cái cũ không còn thích hợp với hoàn cảnh mới.
  5. Tính cá nhân, tính tự do, độc lập tự chủ, ít phụ thuộc trực tiếp, gò bó vào cộng đồng như những cư dân Bắc-Trung Bộ.
  6. Biết tính toán, dám làm ăn lớn, và mạo hiểm.
  7. Cởi mở, bộc trực mà hoà đồng.
  8. Sẵn sàng xả thân cứu người vì nghĩa lớn.
  9. Cần cù và chịu khó trong lao động sản xuất.

Nhược điểm[sửa | sửa mã nguồn]


Người Việt có một số nhược điểm đáng chú ý. Những nhược điểm này làm ảnh hưởng đến sự phát triển của Việt Nam, làm xấu đi hình ảnh của người Việt nói chung[22] gây nên nhiều hạn chế trong giao lưu kinh tế - văn hóa, nhất là khi Việt Nam đang trên đường hội nhập sâu hơn với thế giới.[23] Những thói hư tật xấu này phản ánh trình độ sống, trình độ làm người của người Việt[24]. Chính vì vậy khi trình độ trí tuệ và đạo đức của người Việt được nâng cao theo thời gian thì những thói hư tật xấu sẽ ngày càng ít phổ biến trong xã hội. Theo ông Vương Trí Nhàn điều quan trọng là tự nhận thức mình là người thế nào. Tất cả tương lai của dân tộc nằm trong hành động này. Tuy nhiên một trong những thói xấu của người Việt là rất sợ nói đến thói xấu của mình khiến cả xã hội đóng băng trong sự tự khen thưởng.[24]

Các đánh giá trước 1945[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá của Phan Bội Châu[sửa | sửa mã nguồn]

Phan Bội Châu trong Chương thứ năm trong Việt Nam quốc sử khảo mang tên Sự thịnh suy của dân quyền và dân trí của nước ta.[25]

Đánh giá của Phan Châu Trinh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong luận văn Pháp Việt Liên hiệp hậu chi tân Việt Nam Phan Châu Trinh viết:

Đánh giá của Trần Trọng Kim[sửa | sửa mã nguồn]

Học giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam Sử Lược đã viết: "Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt có cả các tính tốt và các tính xấu. Ðại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy, vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi qủy quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn có sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.".

Đánh giá của Phạm Quỳnh[sửa | sửa mã nguồn]

Học giả Phạm Quỳnh nhận xét[27]: "Người mình vốn có cái thiên tính dễ đồng hóa, nghĩa là có tư cách[28], dễ am hiểu dễ thu nạp lấy những gì khác lạ với mình, dễ đem những điều hay dở của người ngoài mà hóa làm của mình. Nhưng cái tài đồng hóa đó chỉ là cái khóe tính[29], biết xem xét và bắt chước của người, phảng phất ở bề ngoài, chứ không triệt được đến chỗ căn để[30], chỗ tinh túy... Cái cách đồng hóa dễ dàng thô thiển đó thiết tưởng không phải là cái tính tốt."

Đánh giá của các tác giả khác[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Văn Vĩnh đã bàn đến nhiều thói hư tật xấu thường thấy ở người nước ta như tính ỷ lại, tính ăn gian nói dối, thói ăn uống thành nợ miệng, tính bán tín bán nghi, thói đồng bóng, tính vay mượn kém sáng tạo, tính cơ hội đục nước béo cò, thói "gì cũng cười", tệ cờ bạc...[4][31]

Lương Đức Thiệp nhận xét về người Việt "Về tính chất tinh thần thì người Việt Nam phần nhiều là thông minh, song những người có trí tuệ lỗi lạc thì xưa nay vẫn hiếm. Nhiều khi trí thông minh không có chỗ dùng thuận tiện thường lại biến ra não tinh vặt. Trí nhớ của người Việt Nam rất nảy nở, đến não tưởng tượng thì hoàn toàn bị não thực tiễn làm tê liệt. Não thực tiễn này mở nguồn cho nhiều đức tính khác, cho nên người Việt Nam hiếu học không phải vì khát hiểu biết mà chỉ vì mong một địa vị ưu thắng trong xã hội. Học đối với người Việt không phải để thỏa mãn một khát khao trí tuệ, mà chính là để làm kế mưu sinh[32]"

Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Ðất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) cũng nhận xét rằng: "Người mình phần đông thường ranh vặt, quỷ quyệt, bộ tịch lễ phép mà hay khinh khi nhạo báng. Tâm địa nông nổi, khoác lác, hiếu danh...".[33]

Thi sĩ Tản Đà trong bài thơ Mậu Thìn xuân cảm viết năm 1932 đã nhận xét về xã hội Việt Nam:

Từ bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Xứ Đàng Trong năm 1621 của thương gia người Ý Cristoforo Borri, ông có nhận xét về khuyết điểm của người Việt ở Đàng Trong như sau:[2]

  1. Nóng tính
  2. Hay xin những thứ mình thấy đẹp (dù người có không muốn cho)

Trong bài viết về người An Nam trong bách khoa toàn thư của Encyclopædia Britannica xuất bản năm 1911 đã từng viết:

Các đánh giá từ 1945 trở về sau[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá của Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Chí Minh cũng có những tác phẩm cảnh báo về những thói hư tật xấu trong tầng lớp cán bộ như Sửa đổi lối làm việc (1947).[35] Theo ông, Cha đẻ của mọi thứ khuyết điểm là chủ nghĩa cá nhân. Bệnh tham lam, lười biếng, ba hoa, bè phái, địa phương chủ nghĩa, ham danh vị, quân phiệt, quan liêu, xa rời quần chúng, hẹp hòi, chuộng hình thức, lối làm việc bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa và nhiều đức tính xấu khác đều từ đó mà ra.[36]

Đánh giá của Trần Ngọc Thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm trong tác phẩm "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", ông chỉ ra rằng đối với người Việt, khi đứng trước những khó khăn lớn, những nguy cơ đe dọa sự sống còn của cả cộng đồng thì cái nổi lên sẽ là tinh đoàn kết và tính tập thể; nhưng khi nguy cơ ấy qua rồi thì có thể là thói tư hữu và óc bè phái, địa phương lại nổi lên.[37] Trong giao tiếp, khi thấy mình đang đứng trong cộng đồng quen thuộc thì tính thích giao tiếp nổi lên, còn khi vượt ra khỏi cộng đồng, đứng trước người lạ, thì tính rụt rè sẽ lấn át.[38] Tính nước đôi của người Việt thường phát huy tác dụng tốt trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, một mất một còn (điển hình là trong chiến tranh), còn trong xây dựng hòa bình, trong tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hoá thì đáng tiếc là thường mặt trái của tính nước đôi này lại nổi trội.[39]

Người Việt thì có triết lý vừa phải, "lắm thóc nhọc xay", "cầu sung vừa đủ xài" lại vừa không có thói quen coi trọng thời gian, coi thời giờ là "cao su",[40] bởi vậy mà không có chí làm giàu. Chỉ khi thấy mình thua kém người xung quanh quá nhiều thì mới cố gắng, nhưng ngay khi thấy mình đã như mọi người rồi thì lại làm việc cầm chừng. Tác phong làm việc này hoàn toàn không thích hợp với nếp sống đô thị.[39]

Đánh giá của Vương Trí Nhàn[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Vương Trí Nhàn nhiều người Việt mang mặc cảm tự ti từ đó sinh ra tâm lý tự huyễn hoặc "không có cái phần hơn hẳn thiên hạ nhưng mình lại có cái khác". Tâm lý và cách tư duy của người Việt mang tính tiểu nông; người Việt còn có một thói xấu là thiếu chính xác trong mọi thứ, thiếu khoa học, thiếu nghiên cứu, sống rất bộc phát hồn nhiên.[22] Người Việt còn tùy tiện, thiếu khả năng hợp tác, ít có khả năng đặt mình vào vị trí người khác,[1] kiêu ngạo, "thấy mình là trung tâm".[22] Người Việt cũng thiếu kinh nghiệm quan hệ với thế giới bên ngoài, quen sống co lại, ít có khao khát ra thế giới, tìm hiểu thế giới. Tuy nhiên người Việt cũng có ưu điểm là thích nghi nhanh, học nhanh nhưng hời hợt, dễ dãi chứ không phải tiếp nhận ở bề sâu văn hóa.[41]

Người Việt đang làm kinh tế bằng tư duy chiến tranh "bất chấp quy luật miễn là được việc; chỉ lo hiệu quả, còn cái giá của nó thì không cần biết".[41] "cái xấu người Việt có rất nhiều và tựu trung lại một đó là sự tham và gian".[22] Người Việt nặng về bản năng và tự phát, ít lý trí, suy nghĩ, tầm nhìn của người Việt rất ngắn hạn, chỉ biết trước mắt, hiện tại.[42]

Người Việt nặng óc hư danh, tâm lý mang nhiều ảo tưởng, chỉ thích được người khác khen. Ngay cả khi người khác chê mình hợp lý, người Việt cũng thấy khó nghe.[22] Người Việt ít có nhu cầu phản tỉnh, thường quanh co bịa ra lý do để chống chế vì thế càng khiến sai lầm, thói xấu nhiễm sâu hơn vào đời sống xã hội.[42]

Sự độc lập cá nhân của người Việt trong tư duy, lối sống, cách hành xử... chưa cao.[41] Tất cả những thói xấu này sẽ cản trở sự phát triển của dân tộc Việt Nam.[22]

Đánh giá của Nguyễn Lân Dũng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, nhiều người Việt đang tự hạ thấp vị trí của mình xuống, việc gì cũng phải xin xỏ, cầu cạnh, không dám công khái tố cáo các hành động sai trái của những người có chức có quyền, biến mình thành hèn hạ, chịu khuất phục, làm ngơ trước mọi sai trái, mọi diễn biến xấu trong xã hội do đời sống xã hội thiếu dân chủ khiến cái xấu không được chỉ đích danh.[43] Ngoài ra còn có không ít người mắc căn bệnh "cuồng địa vị". Điều này gắn liền với sự thiếu gương mẫu và thoái hoá của quan chức nhà nước các cấp do bộ máy nhà nước thiếu tin tưởng và ít trọng dụng người tài.[43]

Người Việt chưa hiểu đúng mặt tích cực của kinh tế thị trường, nhưng lại chịu những ảnh hưởng xấu của kinh tế thị trường. Lòng tham đẩy lùi nhân cách, làm xấu đi các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh đó là sự hiếu danh, sính bằng cấp, đặc biệt là quan chức nhà nước. Nhiều người Việt hiện nay cũng coi nặng tiền tài hơn giáo dục.[43]

Tóm lại, theo ông, có 5 tính xấu phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay là: Ham tiền, hiếu danh, coi thường danh dự, vô cảm và hèn nhát, coi nhẹ ý nghĩa "đồng bào".[43]

Đánh giá của các tác giả khác[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Đình Thiên, cho rằng Việt Nam chậm tiến là vì cấu trúc phát triển quá bền vững dựa trên con trâu, cái cày và con người hơn nữa phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh cho nên luôn cảnh giác với những sự đổi mới bên ngoài.[44] Theo ông người Việt cũng chưa có văn hóa tự chịu trách nhiệm mà thường "có thói quen qui lỗi ngắn hạn, qui cho ông nọ, ông kia, hay cho giai đoạn nọ, giai đoạn kia".[44] Theo tác giả Nguyễn Thị Lan Phương, người Việt có tư duy sản xuất nhỏ: tự phát, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, nghiêng về tình, yếu về lý, tư duy kinh tế mang tính thiển cận, thực dụng; tư duy tiểu nông vốn chỉ phù hợp với điều kiện sản xuất nông nghiệp nhỏ.[45]

Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam Bùi Hoài Sơn nhận định lối tư duy và sản xuất tiểu nông của người Việt mang tính tùy tiện, manh mún, không biết lo xa, hạch toán; thiếu khả năng liên kết, thiếu đầu óc tính toán, sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm; thiển cận, thực dụng, kỷ luật kém, cục bộ, phường hội, địa phương chủ nghĩa; do trông chờ, ỷ lại vào thiên nhiên ưu đãi nên dễ sinh ra lười biếng. Người Việt học hành thường không đến nơi đến chốn, học vì bằng cấp chứ không phải vì tri thức, giáo điều, sao chép và thuộc lòng các lý thuyết có sẵn nên không có tư duy phản biện, thiếu tự tin và không dám vượt bỏ quá khứ. Người Việt háo danh và thích mua danh. Người Việt thường níu kéo nhau, không muốn cho người khác hơn mình, hay ghen ghét, đố kỵ khi thấy người khác hơn mình nên không bao giờ tạo ra được một sự hiệp thông thống nhất. Tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái của người Việt chỉ xuất hiện trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn, bần hàn còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì rất ít xuất hiện. Người Việt yêu hòa bình, nhẫn nhịn song nhiều khi lại hiếu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt, đánh mất đại cục; thích tụ tập, nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh.[46] Theo Nguyễn Hồi Loan, tính tôn ti trật tự dòng tộc đã dẫn tới mặt trái: tính gia trưởng, trọng nam khinh nữ, đặc biệt là tâm lý địa phương, cục bộ. Nông dân Việt Nam có thói quen dựa dẫm, ỷ lại tập thể, vào số đông. Người Việt cũng có tâm lý cào bằng, đố kỵ, không muốn ai hơn mình.[47] Tâm lý sĩ diện trong đời sống người nông dân dẫn tới tính khoa trương, trọng hình thức. Người nông dân sẵn sàng chạy theo các thủ tục nặng nề, nghi lễ tốn kém trong cưới xin, ma chay, hội lễ... gây đói nghèo cho nhiều người dân. Ngày nay văn hóa làng xã không chỉ ở nông thôn mà còn ảnh hưởng tới đời sống đô thị, khiến đời sống đô thị Việt Nam phảng phất những nét phong cách của nông thôn.[47]

Có quan điểm cho rằng người Việt thường vận dụng trí tuệ của mình vào trong những hành vi ứng xử tạo nên những tiểu xảo trong cuộc sống, trong giao tiếp để giành lợi thế cho mình tạo nên thói hay ganh ghét, đố kỵ khiến "một anh làm thì tốt, ba anh cùng làm thì hỏng việc". Người Việt rất ít khi dùng trí tuệ dành cho việc đi sâu khám phá bản chất vấn đề nên có rất ít lý thuyết chuyên sâu, ít có sáng tạo phát minh cho nhân loại, ít có nhà tư tưởng. Nền khoa học của người Việt cũng chỉ toàn là thứ sao chép, lắp ráp, bắt chước người khác. Suy nghĩ của người Việt đối với cộng đồng thường không hướng vào lợi ích chung mà để mưu lợi cá nhân và mang tính ngắn hạn. "Tính cộng đồng" của người Việt thực chất là hạn chế sự khác biệt, tự đồng hóa mình với đám đông để hạn chế sự phê phán, đánh giá của xã hội đối với bản thân. Người ta luôn tìm cách ứng xử để tạo vỏ bọc hình ảnh đẹp đẽ, giải tỏa thói sĩ diện huênh hoang cho chính mình. Chính vì thế người Việt nhút nhát, tự ti khi cảm thấy mình yếu kém hơn xung quanh hoặc chưa chứng minh được mình hơn người. Do đó trí tuệ của người Việt trở thành nô lệ của sự đánh giá để mưu cầu lợi ích cá nhân và rất hạn hẹp trong việc vì lợi ích chung. Người Việt luôn tâm niệm cái thiết thực nhất, trực tiếp nhất là lợi ích trước mắt, những điều lớn lao, cao cả đối với cộng đồng là việc của người khác.[48] Đỗ Kiên Trung nêu ba điểm không tích cực trong tư duy người Việt đó là: tầm nhìn ngắn hạn, tư duy đám đông triệt tiêu tư tưởng cá nhân và sự lên ngôi của kinh nghiệm.[49]

Từ bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Viện nghiên cứu xã hội học Hoa Kỳ thì người Việt có 10 tố chất cơ bản sau:[50][51]

  1. Cần cù lao động song dễ thỏa mãn.
  2. Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động.
  3. Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm).
  4. Vừa thực tế, vừa mơ mộng, song lại không có ý thức nâng lên thành lý luận.
  5. Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít khi học "đến đầu đến đuôi" nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, người Việt học tập không phải chỉ vì kiến thức (nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí, đam mê).
  6. Xởi lởi, chiều khách, song không bền.
  7. Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời).
  8. Có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn, bần hàn, còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất ít xuất hiện.
  9. Yêu hòa bình, nhẫn nhịn, song nhiều khi lại hiếu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt, để tiểu cục làm mất đại cục.
  10. Thích tụ tập, nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng).

Người Việt thiếu khả năng sáng tạo. Điều này thể hiện rõ trong các số liệu do các tổ chức quốc tế công bố. Năm 2012, Tổ chức Sở hữu trí tuệ toàn cầu (World Intellectual Property Organization – WIPO thuộc Liên hiệp quốc) công bố chỉ số đổi mới và sáng tạo quốc gia, Việt Nam xếp thứ 76/141 nước, đứng thứ 5 trong khu vực sau Singapore, Malaysia, Brunei Darussalam, Thailand. Chỉ số đổi mới và sáng tạo của Việt Nam nhìn chung ở mức dưới trung bình. Số lượng ấn phẩm khoa học ở Việt Nam vào hàng thấp nhất trong khu vực: bằng 1/5 so với Thái Lan (14.594 bài trong cùng thời gian), 1/3 so với Malaysia (9742 bài), 1/14 so với Singapore (45.633 bài), thấp hơn cả Indonesia (4389 bài) và Philippines (3901 bài).[52] Chính vì vậy đóng góp của người Việt cho thế giới rất ít. Trong bảng xếp hạng Chỉ số quốc gia tốt (Good Country Index) của Simon Anholt đánh giá mức đóng góp của các quốc gia cho thế giới, năm 2017 Việt Nam xếp hạng 128/163 nước[53]. Simon Anholt nhận xét "Đáng nói là, các chỉ số như số lượng sinh viên học tập tại nước ngoài, số bài báo quốc tế, số xuất bản phẩm quốc tế, số bằng sáng chế của Việt Nam theo bảng xếp hạng này đều ở mức thấp hơn so với trung bình chung của thế giới".[54]

Tài liệu chuyên khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào Duy Anh (1938). Việt Nam Văn Hoá Sử Cương, Quan Hải tùng thư
  • Mai Duong Nguyen (1985). Culture Shock A Review of Vietnamese Culture and Its Concepts of Health and Disease. [Cross-cultural Medicine]. West J Med 1985 Mar; 142:409-412
  • Truong Buu Lam (1987). Borrowing and Adaptation in Vietnamese Culture. Southeast Asia Paper No. 25, Center for Southeast Asian Studies, School of Hawaiian~ Asian and Pacific Studies, University of Hawaii at Manoa.
  • Trần Ngọc Thêm (1996). Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. Nhà Xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Thói hư tật xấu người Việt chỉ trong 300 trang, có đủ?”. Báo điện tử Dân Trí. 21 tháng 9 năm 2006. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  2. ^ a ă â Cristophoro Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, (dịch giả: Hồng Nhuệ, Nguyễn Khắc Xuyên, Nguyễn Nghị), Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh, tr. 49-51
  3. ^ “Báo chí quốc ngữ và đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh - VnExpress Giải Trí”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  4. ^ a ă Dương Trung Quốc (ngày 12 tháng 10 năm 2006). “Nghĩ về những thói hư tật xấu của người mình”. Tiền phong Online. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2013. 
  5. ^ Mượn người xưa cảnh tỉnh người nay, Báo Tuổi trẻ, 24/01/2019
  6. ^ Tưởng niệm giáo sư Nguyễn Hồng Phong, Tuổi Trẻ.
  7. ^ “Người Việt thiếu bao dung, ưa cấu kết - VietNamNet”. VietNamNet. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  8. ^ “Sự thông minh và sự "chậm lớn" của người Việt”. VietNamNet. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  9. ^ 'Người Việt hay ghen tỵ với ai giàu sang, thành đạt' - VnExpress”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  10. ^ “Người Việt - phẩm chất và thói hư tật xấu: Một cuốn sách hấp dẫn”. Báo Điện tử Tiền Phong. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  11. ^ a ă â b Tính hai mặt trong tính cách của con người Việt Nam, Phan Thành Nhâm, Luận văn Thạc sĩ ngành Triết học, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân Văn.
  12. ^ “Tạp chí Cộng sản”. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  13. ^ “Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh”. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  14. ^ Đại đoàn kết toàn dân, sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam, 2/3/2011, Tạp chí Tuyên giáo
  15. ^ “Ảnh hưởng của yếu tố văn hóa truyền thống đối với văn hóa hành chính Việt Nam hiện nay”. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  16. ^ 2 tháng 9 năm 2010-nguoi-viet-hieu-hoc-va-hieu-danh- “Người Việt hiếu học và "hiếu danh". Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  17. ^ Asian Culture Brief: Vietnam, Marsha E. Shapiro, Trang 2.
  18. ^ "Cần cù là huyền thoại, hiếu học là ngộ nhận", Vietnamnet, 17/12/2016
  19. ^ Phạm Huy Thông (2008). “Quan hệ giữa Nho giáo và Công giáo ở Việt Nam”. 
  20. ^ Peter G. Bourne (1970); Men, stress, and Vietnam, Little; Brown, trang 58
  21. ^ “Đặc trưng tính cách của người Việt Nam bộ”. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  22. ^ a ă â b c d Q.Tiên-L.Hoàng (ngày 6 tháng 5 năm 2013). "Bệnh gian và tham của người Việt không thể chữa được". Báo Giáo dục Việt Nam. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2013. 
  23. ^ Nguyễn Hồi Loan (2005), Một số đặc điểm tâm lý của người nông dân Việt Nam ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hội nhập kinh tế, Tạp chí Tâm lý học 7(76), tr. 12-14
  24. ^ a ă Người xưa cảnh tỉnh, trang 6, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2019
  25. ^ Những tác phẩm của Phan Bội Châu, tập I Việt nam vong quốc sử. Việt nam quốc sử khảo Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1982. Trang 224
  26. ^ Pháp Việt Liên hiệp hậu chi tân Việt Nam, Phan Châu Trinh, Phan Châu Trinh toàn tập, tập 3, trang 57-58, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005
  27. ^ Giải nghĩa đồng hóa, Phạm Quỳnh, Nam Phong, 1931
  28. ^ có khả năng
  29. ^ mánh khóe ranh ma
  30. ^ gốc rễ
  31. ^ Những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh với việc phát triển báo chí tiếng Việt và truyền bá chữ Quốc ngữ, ngày 13 tháng 9 năm 2010, Tạp chí Văn Hóa Nghệ An.
  32. ^ Việt Nam tiến hóa sử, Lương Đức Thiệp, 1944
  33. ^ Vũ Văn Khiếu (1970). Đất lề quê thói. Nhà xuất bản Đại Nam. tr. 68. 
  34. ^ Chơi đời thôi!, Báo Công An Nhân dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An, 18/01/2013
  35. ^ Học tập tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quang Minh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nghệ An
  36. ^ “Bốn nguyên tắc tự phê bình và phê bình theo Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Cổng thông tin điện tử Hà Tĩnh. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2013. 
  37. ^ Trần Ngọc Thêm 2001, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, trang 198, năm 2001, Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh
  38. ^ Trần Ngọc Thêm 2001, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, trang 278-79, năm 2001, Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh
  39. ^ a ă “Van hoa hoc”. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  40. ^ Trần Ngọc Thêm 2001, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, trang 278, năm 2001, Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh
  41. ^ a ă â “Nâng trình độ sống để thích nghi”. VietNamNet. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  42. ^ a ă 3 câu hỏi của ông Vương Trí Nhàn giúp giới trẻ tránh "vết xe gian dối", Báo Giáo dục Việt Nam, 06/06/2013
  43. ^ a ă â b Rất nhiều người Việt ham tiền, vô cảm, hèn nhát..., Thứ hai 13/05/2013, Báo Giáo dục Việt Nam
  44. ^ a ă 1 tháng 10 năm 2013-han-quoc-da-thanh-cong-ta-van-loay-hoay “Hàn Quốc đã thành công, ta vẫn loay hoay”. VietNamNet. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  45. ^ Tư duy sản xuất nhỏ của người Việt Nam: một số đặc điểm và ảnh hưởng của chúng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, Nguyễn Thị Lan Phương, Tạp chí Triết học, số 2(225), tháng 2/2010, trang 72-77
  46. ^ ‘Người Việt thông minh nhưng chỉ có tính chất đối phó', Báo Thanh niên, 16/03/2019
  47. ^ a ă “ChúngTa.com”. ChúngTa.com. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  48. ^ Người Việt có thông minh không?, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, 27/09/2010
  49. ^ THS. Đỗ Kiên Trung, Những giải pháp nhằm định hình tư duy một phong cách tư duy phản biện, Số 4 (14) - Tháng 5-6/2012, Tạp chí Phát triển & Hội nhập.
  50. ^ “Nhàn đàm... tố chất người Việt”. Phapluatvn.vn. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  51. ^ Nhận xét đặc điểm người Việt, BBC
  52. ^ MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ NĂNG LỰC SÁNG TẠO VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY, TRẦN VIỆT DŨNG, Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm TP.HCM, Số 49, năm 2013
  53. ^ Good Country, Simon Anholt
  54. ^ Người Việt có tài giỏi như chúng ta đang tự hào?, Cafebiz, 22/09/2016