Rối loạn nhân cách ranh giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rối loạn nhân cách ranh giới
Phân loại và tư liệu bên ngoài
[[Tập tin:{{{Image}}}|frameless|upright=1|alt=]]
ICD-10 F60.3
ICD-9 301.83
MedlinePlus 000935
eMedicine article/913575
MeSH D001883

Rối loạn nhân cách ranh giới (tiếng Anh: Borderline personality disorder. Viết tắt: BPD,[1][2]) hay còn biết đến với các tên gọi: rối loạn nhân cách tâm trạng không ổn định, thể loại không biết phân biệt ranh giới hoặc hay bốc đồng, là một dạng rối loạn nhân cách. Đặc điểm chung của người có BPD bao gồm: nhiều hành vi không có kiểm soát và thể hiện sự bất thường thường từ cách họ đối xử với bản thân cho tới những mối quan hệ xã hội. Những dấu hiệu nói trên xuất hiện bắt đầu từ khi họ còn nhỏ và trong nhiều bối cảnh khác nhau.[3]

Các triệu chứng khác có thể kể tới đơn giản từ tỏ ra khó chịu với người khác cho đến giận dữ tột độ, sợ hãi bị bỏ rơi đến tột cùng với những lý do hoàn toàn vô lý.[3][4] Người có BPD đối xử với người khác một cách bất thường: vừa nãy còn khen ngợi, bây giờ đã ghét bỏ.[5] Ngoài ra, người có BPD thường sử dụng ma túy, tự làm hại bản thân (hình thức cao nhất là tự tử.)

Tuy BPD đã được đưa vào DSM (Tài liệu thống kê và hướng dẫn chẩn đoán bệnh thần kinh của APA, lần tái bản thứ tư) nhưng vì tính không ổn đinh và nhiều tranh cãi, khó chữa trị của chứng rối loạn nhân cách nói chung và BPD nói riêng nên bác sĩ thường không đưa ra chẩn đoán và xét nghiệm cho những trường hợp có triệu chứng của BPD dưới 18 tuổi.[6] Tuy nhiên, một số bác sĩ khác cho rằng BPD nếu không được điều trị sớm có thể càng khó chữa hơn khi bệnh nhân BPD lớn tuổi.[7]

Cần phải nhớ rằng, BPD không phải là tên gọi thống nhất của chứng rối loạn nhân cách với những triệu chứng được miêu tả dưới đây.[8][9] Khác với tên gọi BPD trong DSM-V [6], ICD-10 cũng đưa ra tiêu chí chẩn đoán cho chứng rối loạn nhân cách tâm trạng không ổn định với những triệu chứng tương tự.

Triệu chứng và biểu hiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Có những thời điểm tâm trạng bất thường và thay đổi liên tục kéo dài từ vài giờ cho tới vài ngày như: hạnh phúc, khó chịu, xấu hổ, lo lắng, trầm cảm.. đều ở trạng thái tột đỉnh.
  • Ngược lại, cảm thấy trống rỗng, vô cảm.
  • Nhận thức và lối suy nghĩ trắng đen: "Được ăn cả, ngã về không."
  • Lo sợ bị từ chối hoặc bỏ rơi đến mức cố gắng tránh khỏi việc tạo dựng các mối quan hệ mới hoặc có thể đe dọa tự tử (hay những hành vi tự lạm dụng bản thân khác) nếu người kia không đồng ý với điều kiện vô lý của mình.
  • Gặp khó khăn gìn giữ những mối quan hệ xã hội hiện tại vì sự thay đổi bất thường trong nhận thức về người kia: vừa nãy còn thần tượng họ, lúc sau lại cho rằng họ vô tâm hoặc độc ác.
  • Nhận thức về bản thân bất ổn định: liên tục thay đổi mục tiêu và giá trị bản thân, đôi khi cho rằng không có ai cần mình và đáng lẽ bản thân không nên được sinh ra trên đời này.
  • Có những thời điểm mất đi cảm nhận/liên hệ với thực tại, như hoang tưởng rằng có một người/thế lực nào đó đang bí mật làm hại mình, kéo dài từ vài phút cho đến vài giờ.
  • Có những hành động vô kiểm soát, nguy hiểm: đánh bạc, đua xe, quan hệ tình dục không an toàn, ăn chơi quá nhiều, ăn uống không ổn định hoặc lạm dụng chất gây nghiện và vô lý như bỏ việc (lương cao, yêu thích, có khả năng thăng tiến) hoặc chấm dứt một mối quan hệ đang diễn ra tốt đẹp.
  • Giận dữ một cách thái quá hoặc thường xuyên giận dữ với lý do không đáng có, thể hiện qua hành vi bạo hành (tâm lý, thể xác,...) với người kia.

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như những bệnh tâm lý (và/hoặc thần kinh) khác, nguồn gốc của BPD thường phức tạp với sự kết hợp của nhiều yếu tố với ảnh hưởng khác nhau nên giới y học chưa có kết luận chính thức.[9] Có một số bằng chứng chứng mình rằng PTSD và BPD có thể liên quan tới nhau.[10] Phần lớn giới nghiên cứu cũng cho rằng một tuổi thơ bất hạnh[11] cũng có thể là nguyên nhân góp phần nhưng mặc dù cón thiếu bằng chứng ủng hộ so với nghiên cứu được đổ dồn cho yếu tố liên quan: thần kinh học, di truyền học, sinh học thần kinh.[9][12] Yếu tố xã hội có thể kể tới những mối quan hệ đầu tiên (từ khi còn nhỏ) của người có BPD với gia đình, anh chị em ruột và bạn bè họ.[13] Yếu tố tâm lý bao gồm: ảnh hưởng từ môi trường sống (bị bạo hành hoặc bỏ rơi khi còn nhỏ) đến tính cách, cách hành xử và cách quản lý stress của người có BPD.[13]

Yếu tố Di truyền học[sửa | sửa mã nguồn]

Một nghiên cứu cho rằng mức độ di truyền của BPD là 40% [14] Nghiên cứu sinh đôi, anh chị em ruột và gia đình cũng chỉ ra rằng hành vi mất kiểm soát của người có BPD một phần là do gen nhưng nghiên cứu chất dẫn truyền thần kinh serotonin và một số gen liên quan lại cho rằng gen không có ảnh hưởng nhiều đến hành vi này.[15]

Một cuộc nghiên cứu về những cặp sinh đôi cùng cha mẹ của mình đã và đang được thực hiện ở Hà Lan, với khoảng 711 cặp sinh đôi và 561 cha mẹ được làm xét nghiệm để phát hiện vị trí đặc tính của gen ảnh hưởng tới sự phát triển của BPD.[16] Từ đó, phát hiện ra vật chất di truyền trên chromosome số chín có liên quan tới phần lớn những triệu chứng của BPD.[16] Chuyên gia nghiên cứu kết luận rằng "yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong sự khác biệt về triệu chứng của những người cùng có BPD."[16] Trước đó, họ cũng đưa ra kết luận: nguồn gốc BPD khoảng 42% là do di truyền và 58% còn lại thuộc về yếu tố môi trường.[16]

Gần đây, nghiên cứu biến thể 7-repeat của Gen DRD4 - đã được chứng minh có liên quan tới một số bệnh thần kinh khác, kết hợp với chất dẫn truyền dopamine (DAT, hay SLC63) đã chỉ ra mối liên hệ với khả năng kiểm soát hành vi trong BPD.[17] Chromosome số năm cũng bị nghi ngờ có liên quan tới BPD.[18]

Yếu tố Thần kinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Một số nghiên cứu về hình ảnh não bộ đã tìm ra bằng chứng về sự thuyên giảm hoạt động của vị trí não phụ trách cảm xúc và phản ứng với stress, ảnh hưởng tới hồi hải mã, hạch hạnh nhân, vùng vỏ não trước chán gần ổ mắt phụ trách cho việc ra quyết định (Orbitofrontal Cortex - OFC) và so với những vùng não khác [17] Ngoài ra, một số nghiên cứu về thay đổi sự tập trung của chất chuyển hoá thần kinh trong não bộ của người có BPD, đặc biệt là acid N-acetylaspartate (NAA,) acid creatine và một số hợp chất dẫn truyền thần kinh glutamate sử dụng MRS (magnetic resonance spectroscopy) - một kỹ thuật đặc biệt của MRI cũng đã được thực hiện.[17]

Hồi hải mã[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như những người mắc PTSD, người có BPD thường có hồi hải mã nhỏ hơn so với người bình thường. Mặc cho điểm chung này, hạch hạnh nhận của người có BPD lại nhỏ hơn so với người mắc PTSD.[19]

Hạch hạnh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Hạch hạnh nhân trong não của người có BPD có xu hướng nhỏ hơn và hoạt động mạnh hơn so với người bình thường.[19] Người mắc OCD cũng có hạch hạnh nhận nhỏ hơn bình thường.[20] Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi người mắc BPD đang có cảm xúc tiêu cực, hạch hạnh nhân bên trái bắt đầu hoạt động mạnh một cách bất thường.[21] Với nhiệm vụ chính là tạo ra cảm xúc và cảm nhận, hoạt động bất bình thường nói trên của hạch hạnh nhân có thể giải thích cho cường độ và thời gian chịu đựng những cảm xúc như sợ hãi, buồn bã, tức giận, xấu hổ cũng như sự nhạy cảm thái quá trước người khác của người mắc BPD [19]

Vỏ não trước trán[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng vỏ não trước trán của người có BPD, đặc biệt khi họ đang nhớ lại hình ảnh mình bị bỏ rơi, trở nên kém hoạt động hơn so với bình thường.[22] Hoạt động bất thường này diễn ra ở vùng vành cung vỏ não trước trán (anterior cingulate cortex) (khu vực Brodmann số 24 và 32)[22] Với vai trò điều hoà kích thích cảm xúc, hoạt động bất thường ở võ não trước trán có thể giải thich sự khó khăn của người có BPD trong việc quản lý tâm trạng và phản ứng với stress.[23]

Trục hồi hải mã - tuyến yên - tuyến thượng thận[sửa | sửa mã nguồn]

Trục hồi hãi mã - tuyến yên - tuyến thượng thận (hypothalamic-pituitary-adrenal axis - trục HPA) có nhiệm vụ điều hoà hoạt động sản xuất hormone cortisol - hormone quản lý phản ứng lại stress. Đối với người có BPD, hoạt động sản xuất cortisol thường được đẩy mạnh, gây ra hoạt động bất thường của trục HPA [24] Từ đó, khiến trục HPA phải chịu sức ép lớn từ phản ứng sinh học của stress, giải thích lý do tại sao người có BPD lại nhạy cảm với sự khó chịu (giận dữ nhẹ và thường xuyên) [25] Vì những sự kiện gây tổn thương (trong quá khứ của người BPD) có thể làm tăng hoạt động sản xuất cortisol và trục HPA, có một giả thiết cho rằng hoạt động hiều hơn bình thường của trục HPA ở người có BPD chỉ là sự phản chiếu của tuổi thơ và quá khư tổn thương của chính họ [25] Một giả thiết khác lại cho rằng bằng cách tăng độ nhạy cảm của mình với những sự kiện mang tính stress cao, tăng hoạt động sản xuất cortisol trong tuyến thượng thận có thể khiến người mắc BPD tái hiện quá khứ (/tuổi thơ) bị tổn thương với những sự kiện trên.

Sự đẩy mạnh hoạt động sản xuất cortisol cũng làm hành vi tự tử (nói chung) tăng cao[26]

Yếu tố Khoa học Thần kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Estrogen[sửa | sửa mã nguồn]

Sự khác biệt trong vòng hoạt động estrogen của nữ giới có thể liên quan tới triệu chứng BPD ở bệnh nhân nữ [27] Một nghiên cứu năm 2003 chỉ ra rằng: có thể dự đoán sự thay đổi hàm lượng estrogen trong suốt chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ có biểu hiện của BPD. Mối quan hệ giữu lượng estrogen và biểu hiện BPD bắt đầu được các nhà nghiên cứu chú ý nhiều hơn khi thử nghiệm phát hiện ra triệu chứng của những phu nữ có sẵn khả năng đang mắc BPD trở nên xấu đi [28]

Yếu tố môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi thơ bất hạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều nghiên cứu giả thiết rằng có một mối liên hệ rõ ràng giữa bạo hành trẻ em, đặc biệt là xâm hại tình dục với sự phát triển của BPD.[29][30][31] Nhiều người mắc BPD công nhận rằng mình thường bị bạo hành và bỏ mặc liên tục khi còn nhỏ, tuy nhiên, người ta vẫn đang tiếp tục tranh cãi về độ tin cậy của nguyên nhân này.[32] Thống kê cho biết người mắc BPD có khả năng bị bạo hành tinh thần, thể xáctình dục bởi người bảo hộ (kể cả nam lẫn nữ) khi còn bé. Họ cũng cung cấp thêm thông tin về khả năng cao bị người thân lạm dụng tình dục hoặc người bảo hộ qua đời khi họ còn nhỏ.[33]

Không những thế, người mắc BPD thường có khả năng thông báo rằng người bảo hộ (cả hai giới) thường xuyên chối bỏ suy nghĩ và cảm nhận của họ cao hơn so với bình thường. Nhiều người bảo hộ cũng bị tố cáo không cung cấp đủ những điều kiện cần thiết nhất cho sự phát triển của trẻ và liên tục bỏ mặc chăm sóc trẻ. Cha mẹ của người mắc BPD thường không yêu thương trẻ (vô cảm) và hay thay đổi cách đối xử với trẻ.[33] Thêm vào đó, phụ nữ mắc BPD có người bảo hộ nữ (mẹ, bà,...) bỏ mặc và người bảo hộ nam (cha, ông, chú, bác...) bạo hành có khả năng bị người khác xâm phạm tình dục cao hơn khi còn nhỏ.[33]

Một số chuyên gia khác gợi ý rằng những trẻ em phải chịu đựng sự đối xử bất công (thiếu chăm lo. bỏ mặc, hành hạ tinh thần lẫn thể xác,..) từ người bảo hộ trong gia đình và thiếu sự gắn bó với người khác (khó khăn trong các mối quan hệ khác ngoài vơi người bảo hộ như bạn bè, người thân,..) có nguy cơ cao phát triển BPD.[34]

Tuy nhiên, không có một nghiên cứu nêu trên nào từng đưa ra bằng chứng chứng tỏ tuổi thơ bất hạnh có thể gây ra hoặc góp phần gia tăng khả năng có BPD. Thí dụ, những người bảo hộ đối xử tệ bạc với trẻ em có thể có phần do họ bị di truyền rối loạn nhân cách, gen chứa bệnh này tiếp tục di truyền cho thế hệ tiếp theo - nguyên nhân chính khiến trẻ mắc BPD và những yếu tố khác kết hợp, chứ không phải do cách đối xử của người bảo hộ[35].

Trong một cuốn sách về phân tâm học, Otto Kernberg tranh luận rằng trẻ em thất bại trong việc phân biệt mình (bản ngã) với người khác và từ bỏ lối suy nghĩ trắng đen có nguy cơ cao mắc BPD.[36]

Tham khảo thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bockian, Neil R. et al. New Hope for People with Borderline Personality Disorder: Your Friendly, Authoritative Guide to the Latest in Traditional and Complementary Solutions ISBN 978-0-7615-2572-1
  • Chapman, Alex & Gratz, Kim The Borderline Personality Disorder Survival Guide (2007)
  • Jensen, Joy A. Putting The Pieces Together: A Practical Guide to Recovery from Borderline Personality Disorder ISBN 978-0-9667037-6-4
  • Kreger, Randi The Essential Family Guide to Borderline Personality Disorder: New Tools and Techniques to Stop Walking on Eggshells (2008)
  • Kreisman, Jerold J. and Strauss, Hal. I Hate You, Don't Leave Me: Understanding the Borderline Personality (1991) ISBN 978-0-380-71305-9
  • Linehan, Marsha M., Skills training manual for treating borderline personality disorder New York; London: Guilford Press, (1993.) ISBN 978-0-89862-034-4
  • Mason, Paul T. & Kreger, Randi Stop Walking on Eggshells: Taking Your Life Back When Someone You Care About Has Borderline Personality Disorder (1998)
  • Moskovitz, Richard A. Lost in the Mirror: An Inside Look at Borderline Personality Disorder (2001) ISBN 978-0-87833-266-3
  • Petrovic, Nick. The 3D Society (2004)
  • Reiland, Rachel. Get Me Out Of Here: My Recovery from Borderline Personality Disorder (2004) ISBN 978-1-59285-099-0
  • Oakley, Barbara. Evil Genes (2008) PROMETHEUS BOOKS ISBN 978-1-59102-665-5

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Blom, Jan Dirk (2010). A dictionary of hallucinations (ấn bản 1). New York: Springer. tr. 74. ISBN 9781441912237. (bằng tiếng Anh)
  2. ^ Maj, Mario (2005). Personality disorders. Chichester: J. Wiley & Sons. tr. 126. ISBN 9780470090367.  (bằng tiếng Anh)
  3. ^ a ă American Psychiatric Association 2013 (bằng tiếng Anh)
  4. ^ American Psychiatric Association 2000 (bằng tiếng Anh)
  5. ^ Linehan 1993 (bằng tiếng Anh)
  6. ^ a ă American Psychiatric Association 2013 (bằng tiếng Anh)
  7. ^ Linehan et al. 2006, tr. 757–66 (bằng tiếng Anh)
  8. ^ “Borderline Personality Disorder: Proposal to include a supplementary name in the DSM-IV text revision”. Borderline Personality Today. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010.  (bằng tiếng Anh)
  9. ^ a ă â “Borderline personality disorder”. Mayo Clinic. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2008.  (bằng tiếng Anh)
  10. ^ Gunderson, JG; Sabo, AN (1993). “The phenomenological and conceptual interface between borderline personality disorder and PTSD”. Am J Psychiatry 150 (1): 19–27. doi:10.1176/ajp.150.1.19. PMID 8417576. (bằng tiếng Anh)
  11. ^ Kluft, Richard P. (1990). Incest-Related Syndromes of Adult Psychopathology. American Psychiatric Pub, Inc. tr. 83, 89. ISBN 0-88048-160-9.  (bằng tiếng Anh)
  12. ^ Zanarini, MC; Frankenburg, FR (1997). “Pathways to the development of borderline personality disorder”. J. Pers. Disord. 11 (1): 93–104. doi:10.1521/pedi.1997.11.1.93. PMID 9113824.  (bằng tiếng Anh)
  13. ^ a ă Grohol, John M. (30 tháng 1 năm 2013). “Borderline Personality Disorder”. psychcentral.com.  (bằng tiếng Anh)
  14. ^ Amad, A; Ramoz, N; Thomas, P; Jardri, R; Gorwood, P (tháng 3 năm 2014). “Genetics of borderline personality disorder: systematic review and proposal of an integrative model.”. Neuroscience and biobehavioral reviews 40: 6–19. doi:10.1016/j.neubiorev.2014.01.003. PMID 24456942.  (bằng tiếng Anh)
  15. ^ Goodman, M; New, A; Siever, L (tháng 12 năm 2004). “Trauma, genes, and the neurobiology of personality disorders”. Annals of the New York Academy of Sciences 1032: 104–16. Bibcode:2004NYASA1032..104G. doi:10.1196/annals.1314.008. PMID 15677398.  (bằng tiếng Anh
  16. ^ a ă â b “Possible Genetic Causes Of Borderline Personality Disorder Identified”. sciencedaily.com. 20 tháng 12 năm 2008.  (bằng tiếng Anh)
  17. ^ a ă â O'Neil, Aisling; Thomas Frodl (18 tháng 1 năm 2012). “Brain structure and function in borderline personality disorder”. Brain Structure and Function 217: 767–782. doi:10.1007/s00429-012-0379-4. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2014.  (bằng tiếng Anh)
  18. ^ Lubke, GH; Laurin, C; Amin, N; Hottenga, JJ; Willemsen, G; van Grootheest, G; Abdellaoui, A; Karssen, LC; Oostra, BA; van Duijn, CM; Penninx, BW; Boomsma, DI (tháng 8 năm 2014). “Genome-wide analyses of borderline personality features.”. Molecular psychiatry 19 (8): 923–9. doi:10.1038/mp.2013.109. PMID 23979607.  (bằng tiếng Anh)
  19. ^ a ă â Chapman & Gratz 2007 (bằng tiếng Anh)
  20. ^ Szeszko PR, Robinson D, Alvir JM và đồng nghiệp (tháng 10 năm 1999). “Orbital frontal and amygdala volume reductions in obsessive-compulsive disorder”. Arch. Gen. Psychiatry 56 (10): 913–9. doi:10.1001/archpsyc.56.10.913. PMID 10530633.  (bằng tiếng Anh)
  21. ^ Herpertz SC, Dietrich TM, Wenning B và đồng nghiệp (tháng 8 năm 2001). “Evidence of abnormal amygdala functioning in borderline personality disorder: a functional MRI study”. Biol. Psychiatry 50 (4): 292–8. doi:10.1016/S0006-3223(01)01075-7. PMID 11522264.  (bằng tiếng Anh)
  22. ^ a ă Schmahl CG, Elzinga BM, Vermetten E, Sanislow C, McGlashan TH, Bremner JD (tháng 7 năm 2003). “Neural correlates of memories of abandonment in women with and without borderline personality disorder”. Biol. Psychiatry 54 (2): 142–51. doi:10.1016/S0006-3223(02)01720-1. PMID 12873804.  (bằng tiếng Anh)
  23. ^ Chapman & Gratz 2007 (bằng tiếng Anh)
  24. ^ Grossman R, Yehuda R, Siever L; Yehuda; Siever (tháng 6 năm 1997). “The dexamethasone suppression test and glucocorticoid receptors in borderline personality disorder”. Annals of the New York Academy of Sciences 821: 459–64. Bibcode:1997NYASA.821..459G. doi:10.1111/j.1749-6632.1997.tb48305.x. PMID 9238229.  (bằng tiếng Anh)
  25. ^ a ă Chapman & Gratz 2007 (bằng tiếng Anh)
  26. ^ van Heeringen K, Audenaert K, Van de Wiele L, Verstraete A (tháng 11 năm 2000). “Cortisol in violent suicidal behaviour: association with personality and monoaminergic activity”. J Affect Disord 60 (3): 181–9. doi:10.1016/S0165-0327(99)00180-9. PMID 11074106.  (bằng tiếng Anh)
  27. ^ DeSoto, M. Catherine (2007). “Borderline Personality Disorder, Gender and Serotonin: Does Estrogen Play a Role?”. Trong Czerbska, Martina T. Psychoneuroendocrinology Research Trends. Nova Biomedical. Nova Science Publishers. tr. 149–60. ISBN 978-1-60021-665-7. (bằng tiếng Anh)
  28. ^ DeSoto MC, Geary DC, Hoard MK, Sheldon MS, Cooper L (tháng 8 năm 2003). “Estrogen fluctuations, oral contraceptives and borderline personality”. Psychoneuroendocrinology 28 (6): 751–66. doi:10.1016/S0306-4530(02)00068-9. PMID 12812862. (bằng tiếng Anh)
  29. ^ Cohen P (tháng 9 năm 2008). “Child development and personality disorder”. Psychiatr Clin North Am 31 (3): 477–93. doi:10.1016/j.psc.2008.03.005. PMID 18638647. 
  30. ^ Herman, Judith Lewis; Judith Herman MD (1992). Trauma and recovery. New York: BasicBooks. ISBN 0-465-08730-2.  (bằng tiếng Anh)
  31. ^ Quadrio, C (tháng 12 năm 2005). “Axis One/Axis Two: A disordered borderline”. Australian and New Zealand Journal of Psychiatry 39: A107. doi:10.1111/j.1440-1614.2005.01674_39_s1.x.  (bằng tiếng Anh)
  32. ^ Ball JS, Links PS (tháng 2 năm 2009). “Borderline personality disorder and childhood trauma: evidence for a causal relationship”. Curr Psychiatry Rep. 11 (1): 63–8. doi:10.1007/s11920-009-0010-4. PMID 19187711.  (bằng tiếng Anh)
  33. ^ a ă â Zanarini MC, Frankenburg FR, Reich DB và đồng nghiệp (2000). “Biparental failure in the childhood experiences of borderline patients”. J Personal Disord 14 (3): 264–73. doi:10.1521/pedi.2000.14.3.264. PMID 11019749.  (bằng tiếng Anh)
  34. ^ Dozier, Mary; Stovall-McClough, K. Chase; Albus, Kathleen E. (1999). “Attachment and psychopathology in adulthood”. Trong Cassidy, Jude; Shaver, Phillip R. Handbook of attachment. New York: Guilford Press. tr. 497–519.  (bằng tiếng Anh)
  35. ^ Harris, Judith Rich. The Nurture Assumption.  (bằng tiếng Anh)
  36. ^ Kernberg, Otto F. Borderline conditions and pathological narcissism. Northvale, N.J.: J. Aronson. ISBN 0-87668-762-1. [cần số trang] (bằng tiếng Anh)