Thiên hướng tình dục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hướng tình dục
Thiên hướng
Dị tính luyến ái
Đồng tính luyến ái
Song tính luyến ái
Vô tính
Nghiên cứu
Thống kê
Yếu tố sinh học
Yếu tố môi trường
Số lượng anh trai
Đặc điểm tay thuận
Thang Kinsey
Lưới Klein
Tình dục học
Danh sách
Gay flag.svg Chủ đề:Đồng tính,
song tính và hoán tính

Sexes-planetary-sym-dimcolors.svg Chủ đề:Tình dục

Thiên hướng tình dục (đôi khi được gọi là "xu hướng tình dục" hay "khuynh hướng tình dục), chỉ sự bị hấp dẫn về mặt tình cảm hoặc về mặt tình dục bởi người khác giới tính hoặc người cùng giới tính với mình hoặc cả hai một cách lâu dài. Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, thiên hướng tình dục cũng chỉ sự ý thức cá nhân và sự công nhận của xã hội về những hấp dẫn đó cũng như chỉ một cộng đồng cùng có chung sự hấp dẫn.

Hầu hết các định nghĩa về thiên hướng tình dục đều bao gồm một khía cạnh tâm lý là sự khao khát tình dục cá nhân hoặc sự thể hiện của cá nhân. Một vài định nghĩa bao gồm cả hai khía cạnh đó. Vài người khác chỉ đơn giản dựa trên định nghĩa hoặc sự tự nhận biết của chính mình. Vài nhà nghiên cứu tình dục học, nhân chủng họclịch sử nêu ra rằng sự phân loại thành dị tính và đồng tính luyến ái là không phổ quát. Các xã hội khác nhau có thể dựa theo những tiêu chí khác quan trọng hơn giới tính để phân loại, bao gồm tuổi tác của bạn tình hoặc là vai trò chủ động hay thụ động của cá nhân hoặc vị trí trong xã hội.

Xác định thiên hướng tình dục

Thiên hướng tình dục thường được phân loại dựa trên giới tính của những người hấp dẫn mình, do đó thường được nêu lên dưới dạng ba loại: dị tính luyến ái, đồng tính luyến áisong tính luyến ái. Tuy nhiên, một vài người có thể thuộc một loại khác với ba loại trên hoặc không thuộc một loại nào cả. Những dạng thiên hướng tình dục thông thường nhất nằm trên một thang đo từ hoàn toàn dị tính luyến ái (chỉ bị hấp dẫn bởi người khác phái) cho đến hoàn toàn đồng tính luyến ái (chỉ bị hấp dẫn bởi người cùng phái) và bao gồm vài dạng song tính luyến ái khác (bị hấp dẫn bởi cả hai phái).

Sự ý thức giới tính và sự thể hiện giới tính có liên quan mật thiết đến thiên hướng tình dục nhưng đây là những khái niệm khác nhau. Sự ý thức giới tính chỉ sự ý thức của chính cá nhân đó về giới tính sinh học của họ, sự thể hiện giới tính chỉ các điệu bộ, cử chỉ, cách cư xử của cá nhân đó còn thiên hướng tình dục thì liên quan đến sự tưởng tượng, mong mỏi, khao khát. Chẳng hạn một người đàn ông có giới tính sinh học là nam và ý thức mình là nam (ý thức giới tính là nam) nhưng có điệu bộ, cử chỉ và cách cư xử như phụ nữ (thể hiện giới tính là nữ) đồng thời cũng có thể có ham thích tình dục với phụ nữ (thiên hướng tình dục là dị tính luyến ái). Mỗi cá nhân có thể thể hiện hoặc công khai thiên hướng tình dục của mình ra bên ngoài hay không. Những người đồng tính luyến ái thường che giấu sự thật về họ.

Vì mỗi người có thể định nghĩa thiên hướng tình dục một cách khác nhau và vì các chuẩn mực xã hội nên việc xác định thiên hướng tình dục là khó khăn. Để xác định có thể dựa vào sự tự nhận biết hoặc sự thể hiện ra bên ngoài hoặc sự ham thích của đối tượng cần xác định. Ít nhất là vào cuối thế kỷ 19, ở châu Âu, người ta đã suy đoán rằng, thiên hướng tình dục của con người có vẻ nằm trên một thang liên tục hơn là thuộc hai ba loại riêng biệt. Năm 1896, nhà nghiên cứu tình dục học 28 tuổi ở Berlin, Magnus Hirschfeld, công bố một cách đánh giá độ mạnh của ham thích tình dục của mỗi cá nhân bằng một thang hai chiều, mỗi chiều 10 điểm. Chiều A, đồng tính luyến ái và chiều B, dị tính luyến ái.[1] Điểm của một người dị tính có thể là A0, B5 hoặc của một người đồng tính có thể là A5, B0. Điểm của người vô tính là A0, B0 và nếu một người nào đó ham thích tình dục cao độ với cả nam và nữ có điểm là A9, B9. 50 năm sau, nhà tình dục học người Mỹ Alfred Kinsey viết trong quyển Thể hiện tình dục ở nam giới (1948):

Không thể phân tách đàn ông thành hai loại riêng biệt là dị tính và đồng tính luyến ái cũng như không thể chia thế giới thành hai giống là cừu. Thế giới tự nhiên hiếm khi được phân chia thành những loại riêng biệt… Trong mọi khía cạnh, thế giới sống này là liên tục. Dựa trên nguyên lý đó, cần thiết đề xuất một cách phân loại mới bằng cách thêm vào hai loại hoàn toàn dị tính và hoàn toàn đồng tính những loại khác mà chúng khác nhau một cách tương đối. Một người có thể nằm đâu đó trên thang đánh giá này trong một thời điểm nào đó của cuộc đời… Một thang đo 7 điểm thể hiện những thiên hướng tình dục khác nhau[2]

Thang đo Kinsey đánh giá thiên hướng tình dục từ 0 (hoàn toàn dị tính luyến ái) đến 6 (hoàn toàn đồng tính luyến ái) và một loại khác X, những ai không có ham thích tình dục với cả nam hay nữ. Không giống như thang đo của Hirschfeld, thang Kinsey là thang một chiều. Simon LeVay viết "điều đó cho thấy (mặc dù Kinsey không tin rằng) mỗi người có độ mạnh ham thích tình dục như nhau và được chia thành hai phần là ham thích người cùng giới và ham thích người khác giới theo một tỉ lệ phụ thuộc vào thiên hướng tình dục của người đó."

Đồng tính, song tính và bệnh tâm thần

Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (American Psychiatric Association) đã loại đồng tính luyến ái khỏi danh sách các bệnh sau một cuộc bỏ phiếu năm 1973, với 58% phiếu thuận và 42% phiếu chống (chưa kể phiếu trắng).[3] Ảnh hưởng bởi các quyết định này, năm 1975, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association) cũng đưa ra kết luận tương tự và đến năm 1990 là Tổ chức y khoa thế giới. Tuy nhiên, đến nay vẫn có những tổ chức và nhà tâm lý học phản đối những quyết định này. Họ cho rằng quyết định đó là do áp lực chính trị dữ dội từ các tổ chức ủng hộ đồng tính chứ không phải vì các bằng chứng khoa học vững chắc[4][5] (xem các tranh luận tại Tâm lý học về đồng tính luyến ái)

Các nhà tâm lý học phản đối cho rằng: không có bất kỳ bằng chứng khoa học hợp lệ nào để chứng minh đồng tính luyến ái không phải là một vấn đề tâm thần, trong khi quyết định này đã "xóa bỏ không chỉ hàng trăm báo cáo nghiên cứu tâm thần và phân tâm học; mà cả một số nghiên cứu toàn diện bởi nhóm các bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học uy tín trong hơn 70 năm trước đó". Việc các biện pháp trị liệu không có tác dụng, sự không lây lan... không thể lấy làm lý do để loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh (ví dụ: Hội chứng Down cũng là không lây và hiện không thể chữa).[6] Thực tế, tài liệu của APA cũng ghi nhận rằng với nhiều người, thiên hướng tình dục không phải là bẩm sinh, bất biến mà còn có sự ảnh hưởng từ môi trường. Nhiều người đã xuất bản sách nói về sự tự từ bỏ thiên hướng đồng tính sau khi trị liệu tâm lý[7][8][9][10] Truyền thông đại chúng cũng góp sức lan truyền sự thiếu sót về khoa học đó khi không đăng tải những nghiên cứu dạng như vậy, trong khi lại loan tải những thông tin mà các tổ chức ủng hộ đồng tính đưa ra vì dễ bán chạy hơn.[4]

Hiệp hội Tâm thần Trung Quốc thì không xếp đồng tính luyến ái trong phân loại rối loạn tâm thần vào năm 2001 sau 5 năm nghiên cứu, tuy nhiên nó được coi là một trong các tác nhân gây ra các chứng bệnh tâm thần khác, và quy trình điều trị đồng tính được quy định cụ thể (dù các cở sở điều trị đồng tính rất hiếm ở Trung Quốc)[11]

Tiến sĩ Stanton L. Jones, giáo sư tâm lý học tại Đại học Wheaton, nói rằng ông có Bảng tổng hợp ý kiến giữa các chuyên gia về điều này: "Tôi sẽ không coi đồng tính luyến ái là một dạng bệnh giống như tâm thần phân liệt hay rối loạn ám ảnh. Nhưng cũng không thể xem nó là một "lối sống bình thường" giống như kiểu sống nội tâm hoặc sống hướng ngoại."[12]

Theo tiến sĩ Richard Fitzgibbons thuộc tổ chức thúc đẩy sức khỏe hôn nhân Institute for Marital Healing (Viện Chữa trị Hôn Nhân)[13] thì ông quan sát thấy có bằng chứng rằng đồng tính luyến ái tự nó là một biểu hiện của một rối loạn tâm lý. Fitzgibbons cho rằng chứng rối loạn này được đi kèm với một loạt các vấn đề sức khỏe tâm thần, bao gồm cả "trầm cảm nặng, ý định tự sát, rối loạn lo âu, lạm dụng chất kích thích, rối loạn hành vi, lòng tự trọng thấp ở nam giới và quan hệ tình dục bừa bãi, không có khả năng duy trì các mối quan hệ đã cam kết". Tiến sĩ Neil Whitehead cho biết: "Các nghiên cứu gần đây cho thấy người đồng tính có nguy cơ bị các vấn đề tâm thần lớn hơn đáng kể so với người dị tính... tỷ lệ tự tử, trầm cảm, chứng háu ăn, rối loạn nhân cách chống xã hội, và lạm dụng chất kích thích cao hơn. Các nghiên cứu được thực hiện tại Hà Lan cho thấy rất nhiều chứng tâm thần ở những người đồng tính, dù đây là đất nước mà sự khoan dung với đồng tính lớn hơn ở hầu hết các nước khác. Sự kỳ thị xã hội lớn hơn tại Hoa Kỳ đã không dẫn đến mức độ cao hơn của các vấn đề tâm thần." Ông khẳng định: "Lý do phù hợp nhất chính là đồng tính luyến ái - tự bản thân nó, trong hình thức cực đoan nhất của nó, chính là sự rối loạn tâm lý". Vì vậy theo các nhà nghiên cứu này, trong tương lai, sẽ chỉ là vấn đề thời gian trước khi buộc phải ghi nhận việc điều trị tâm lý đối với người đồng tính và song tính.[14] Theo Tiến sĩ Neil Whitehead thì trong tương lai, các nghiên cứu sâu hơn và không bị chính trị can thiệp có thể sẽ đưa đồng tính trở lại danh sách các chứng bệnh tâm thần.[15]

Các dạng Rối loạn tâm thần ở người đồng tính, song tính

Luật sư Mathew D. Staver, chủ tịch tổ chức Liberty Counsel,[16] trong sách "Same Sex Marriage: Putting Every Household At Risk" nói rằng có nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây đã lập luận chống lại quan niệm này, và cung cấp nhiều bằng chứng cho thấy bản chất của người đồng tính và song tính luôn có liên kết với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tâm thần, bất kể dù họ không bị kỳ thị. Ông Mathew D. Staver còn dẫn báo cáo trong Tạp chí sức khỏe tâm thần Havard, cho biết tỷ lệ người đồng tính Hà Lan gặp phải vấn đề tâm lý vẫn cao hơn rất nhiều mức trung bình, dù Hà Lan là nước đặc biệt cởi mở với đồng tính và hôn nhân đồng tính ở đây là hợp pháp.[17]

Theo nghiên cứu công bố năm 1997 của Paul Van de Ven và cộng sự trên 256 người đồng tính cao tuổi (trên 49 tuổi), phần lớn ở ÚcNew Zealand, về số lượng đối tác tình dục cho thấy: 21,6% có từ 100 đến 500 bạn tình, chỉ 2,7% có duy nhất 1 bạn tình, các nhóm khác (gồm 2-10, 11-20, 21-50, 51-100, 501-1.000 và trên 1.000 bạn tình) chiếm tỉ lệ dao động từ 10,2-15,7%. Khoảng 45% đã có quan hệ tình dục với từ 2 tới 10 bạn tình trong vòng 6 tháng gần nhất.[18] Khảo sát năm 1991 ở New York của Meyer-Balburg H. Exner và cộng sự trên 121 nam đồng tính có HIV và 81 nam đồng tính không có HIV cho kết quả: mỗi đồng tính nam có HIV, là nhóm có nhiều hành vi nguy cơ nhất, có trung bình 308 đối tác tình dục trong suốt cuộc đời, trong khi con số này của đồng tính nam không có HIV, nhóm có hành vi nguy cơ ít hơn, là 143[19] Đối với đồng tính nữ cũng tương tự, nhiều người có quan hệ tình dục với cả nam lẫn nữ. Tỷ lệ đồng tính nữ đã có hơn 50 bạn tình nam giới cao hơn gấp 4 lần so với phụ nữ bình thường.[20]

Khảo sát tại Mỹ cho thấy: 32% người đồng tính nghiện rượu,[21] tỷ lệ lạm dụng thuốc của người đồng tính là khoảng 28-35%, so với tỷ lệ 10-12% trong dân số nói chung.[22] Một nghiên cứu năm 2012 của Trung tâm tiến bộ Hoa Kỳ (tổ chức chuyên nghiên cứu chính sách công cộng) cho biết: 25% người đồng tính và chuyển giới nghiện rượu so với mức 5-10% của toàn nước Mỹ, đồng tính nam có tỷ lệ nghiện thuốc lá cao hơn 2 lần, tỷ lệ dùng chất kích thích gấp 12 lần, dùng cần sa gấp 3,5 lần và heroin gấp 9,5 lần so với nhóm nam giới còn lại.[cần dẫn nguồn] Các nghiên cứu phát hiện ra rằng người đồng tính ở Đan Mạch - nơi rất khoan dung với đồng tính - có tuổi thọ trung bình chỉ là 51 đối với nam và 56 với nữ, trong khi tuổi trung bình của người Đan Mạch là 74 với nam và 78 với nữ. Ở Na Uy, đồng tính có tuổi thọ trung bình thấp hơn 25 tuổi so với trung bình cả nước.

Quan hệ tình cảm ở người đồng tính

Mỗi người đồng tính có thể thể hiện tình dục của họ bằng cách này hay cách khác, và cũng có thể không có hành vi nào thể hiện ra.[23] Một số chủ yếu quan hệ tình dục với người cùng giới, một số chủ yếu với người khác giới, cả hai giới hoặc kiêng tình dục.[23] Nghiên cứu cho thấy nhiều người đồng tính mong muốn có mối quan hệ bền vững và một phần trong số họ cũng đã thực hiện được. Một kết quả thống kê cho thấy 40% đến 60% đồng tính nam và 45% đến 80% đồng tính nữ hiện đang có một quan hệ tình cảm.[24] Có những nghiên cứu cho thấy các cặp đồng tính và các cặp dị tính là tương đương nhau về mặt toại nguyện và sự gắn kết nhiều hay ít trong quan hệ tình cảm.[25][26] Nghiên cứu cho thấy đặc điểm tuổi tác và giới tính có liên quan nhiều đến sự toại nguyện và sự gắn kết hơn là thiên hướng tình dục; người đồng tính và người dị tính có chung những mong muốn và lý tưởng trong tình cảm.[27]

Tuy nhiên thống kê cũng cho thấy chỉ có 18-28% cặp đồng tính nam và 8-21% cặp đồng tính nữ ở Hoa Kỳ đã sống với nhau được 10 năm trở lên.[28] Khảo sát ở Na Uy và Thụy Điển cho thấy: các cặp đồng tính nam có tỷ lệ ly hôn cao hơn 50%, với đồng tính nữ cao hơn 167% so với các cặp vợ chồng nam-nữ thông thường[29] Đại học Chicago và nhà xã hội học Edward Laumann lập luận rằng "cư dân đồng tính điển hình trong thành phố dành hầu hết cuộc sống trong các mối quan hệ tình cảm mang tính "giao dịch", hoặc chỉ duy trì được quan hệ ngắn hơn sáu tháng".[30]

Một nghiên cứu về đồng tính namHà Lan được công bố trong tạp chí AIDS phát hiện ra rằng "thời gian có quan hệ ổn định" với mỗi bạn tình chỉ là 1 năm rưỡi, và mỗi đồng tính nam có trung bình 8 đối tác tình dục mỗi năm[31] Đối với đồng tính nữ, nhiều người có quan hệ tình dục với cả nam giới. Tỷ lệ đồng tính nữ đã có hơn 50 bạn tình nam giới cao hơn gấp 4 lần so với phụ nữ bình thường.[20] Như vậy quan hệ giữa các cặp đồng tính kém bền vững hơn nhiều các cặp dị tính, trong khi số bạn tình lại nhiều hơn hẳn. Lý do được đưa ra là họ ít có ràng buộc, chẳng hạn như không có hôn thú và con cái, bên cạnh đó là do lối sống thích tìm kiếm nhiều bạn tình mới của họ. Trong nghiên cứu của Michael Pollack, ông thấy rằng "ít khi mối quan hệ đồng tính kéo dài hơn hai năm, nhiều đàn ông đồng tính cho biết họ đã có hàng trăm bạn tình"[32]

Các tổ chức ủng hộ đồng tính vẫn tuyên truyền rằng tình yêu đồng tính không có gì khác biệt so với tình yêu nam-nữ, tuy nhiên thực tế lại rất khác. Chính bản thân "văn hóa đồng tính" luôn thôi thúc người đồng tính liên tục tìm kiếm các bạn tình mới, thay vì tôn trọng chế độ một vợ một chồng như các cặp dị tính.[33] Andrew Sullivan, một tác giả nổi tiếng về đồng tính, cho biết các cặp đồng tính có các tiêu chuẩn đạo đức rất khác biệt so với thông thường. Một trong số đó là "sự tồn tại các bạn tình ngoài hôn nhân", họ luôn muốn tìm nhiều bạn tình riêng dù vẫn đang chung sống với nhau. Các cặp đồng tính không xem đó là hành vi ngoại tình mà lại coi đó là điều cần thiết trong lối sống của họ.

Một khảo sát của Tạp chí Nghiên cứu Giới tính cho thấy: chỉ có 2,7% số người đồng tính lớn tuổi là chung thủy với duy nhất 1 bạn tình trong suốt cuộc đời của họ, so với tỷ lệ trên 80% ở những người bình thường.[34] Trong nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Giới tính, Paul Van de Ven khảo sát 2.583 nam đồng tính lớn tuổi và thấy rằng "số lượng bạn tình phổ biến (của nam đồng tính) là 101-500. Ngoài ra, 10,2% đến 15,7% đã có từ 501 đến 1.000 bạn tình. 10,2% đến 15,7% cho biết đã có hơn 1.000 bạn tình.[35]

Nghiên cứu của Sondra E. SolomonEsther D. Rothblum cho biết: khi được hỏi về thái độ đối với việc quan hệ tình dục với người khác ngoài bạn tình, 40,3% nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) đã từng thảo luận và chấp nhận điều đó trong vài hoàn cảnh, so với chỉ 3,5% ở nam giới đã kết hôn với nữ; số nam đồng tính phản đối là 50,4% so với 78,6% ở nam giới kết hôn với nữ. Có 58,3% nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) có quan hệ tình dục ngoài bạn tình, so với 15,2% ở nam kết hôn với nữ.[36]

Nhà nghiên cứu Brad Hayton cung cấp cái nhìn sâu sắc thái độ của nhiều người đồng tính đối với cam kết hôn nhân:

Người đồng tính có niềm tin rằng mối quan hệ hôn nhân chỉ là tạm thời và chủ yếu là vì bản năng tình dục. Quan hệ tình dục giữa họ chủ yếu vì niềm vui chứ không phải vì sự sinh sản. Và họ tin rằng nguyên tắc một vợ một chồng trong hôn nhân không phải là tiêu chuẩn và cũng không cần được khuyến khích.[37]

Người đồng tính, song tính làm cha mẹ

Một vấn đề quan tâm là khi con cái được nuôi bởi những cặp đồng giới có khả năng trở thành đồng tính khi lớn lên hay bị rối loạn về giới tính hay không. Các nghiên cứu trong thập niên 80 của các nhà khoa học như Kirk Patrick, Susan Golombok, Ann Spencer, Michael Rutter, Richard Green... cho biết: Khi nghiên cứu các cặp sinh đôi và con nuôi của các cặp đồng tính nữ, bằng chứng cho thấy thiên hướng tình dục là kết quả tác động phức tạp từ cả yếu tố sinh học và yếu tố môi trường. Các nghiên cứu này đã tìm thấy sự liên hệ về việc phát triển thiên hướng tình dục của trẻ em theo chiều hướng tương tự như cha mẹ nuôi đồng tính của chúng (để biết thêm chi tiết, xin mời đọc Yếu tố môi trường trong thiên hướng tình dục).[38][39][40]

Một nghiên cứu mới vào năm 2012 của Mark Regnerus, giáo sư tại Đại học Texas được đăng trên Tạp chí nghiên cứu xã hội Hoa Kỳ đã cung cấp thêm nhiều thông tin về vấn đề này. Nghiên cứu khảo sát 15.000 thanh niên, khảo sát kỹ 3.000 thanh niên trong đó 175 được nuôi lớn bởi cặp đồng tính nữ và 73 bởi cặp đồng tính nam. Kết quả cho thấy: trong ngắn hạn, các cặp đồng tính có thể nuôi con tốt như vợ chồng thông thường; nhưng về dài hạn, sự khiếm khuyết về giới tính (thiếu vắng cha hoặc mẹ để nuôi dạy đứa trẻ) là không thể khắc phục được, và con nuôi của họ khi bước vào tuổi thành niên sẽ gặp phải nhiều vấn đề hơn hẳn so với con cái của những gia đình thông thường, cụ thể[41]:

Vấn đề gặp phải Con nuôi đồng tính nữ Con nuôi đồng tính nam Gia đình thông thường
Thất nghiệp 28% 20% 15%
Có ý định tự tử 12% 24% 9%
Phải điều trị tâm lý gần đây 19% 19% 9%
Có quan hệ đồng tính 7% 12% 2%
Bị cưỡng ép quan hệ tình dục 31% 25% 11%

Nghiên cứu trên của Mark Regnerus nhận được sự ủng hộ của Trường Cao đẳng nhi khoa Hoa Kỳ, một tổ chức quốc gia của các bác sĩ nhi khoa và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và giáo dục dành cho trẻ em[42].

Hội đồng Nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ đã có bài phân tích ủng hộ nghiên cứu và cho biết: nhờ mẫu thống kê lớn nên nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng cho biết về tình trạng của trẻ em trong gia đình đồng tính về dài hạn, cũng như bản chất "bất ổn định" của cặp đồng tính. Nghiên cứu này đã xóa tan những ngộ nhận về việc "cha mẹ đồng tính không khác cha mẹ thường". Kết quả của nó tương đồng với nghiên cứu của các chuyên gia nghiên cứu chính sách gia đình, và không có gì đáng ngạc nhiên khi nghiên cứu này bị tấn công quyết liệt các nhà hoạt động ủng hộ đồng tính[43]

18 nhà khoa học thuộc Viện ISR (Institute for Studies of Religion) ủng hộ nghiên cứu cho biết: Regnerus dựa trên một mẫu lớn, ngẫu nhiên, và đại diện của hơn 200 trẻ em nuôi dưỡng bởi cha mẹ, những người đã có mối quan hệ đồng tính, so sánh chúng với một mẫu ngẫu nhiên của hơn 2.000 trẻ em lớn lên trong gia đình dị tính, để đạt được kết luận của mình. Đây là lý do tại sao giáo sư xã hội học Paul Amato, chủ tịch của bộ phận gia đình của Hiệp hội Xã hội học Mỹ và chủ tịch đắc cử của Hội đồng Quốc gia về quan hệ gia đình, đã viết rằng nghiên cứu Regnerus là "nghiên cứu tốt hơn hầu hết các nghiên cứu trước đó trong việc phát hiện sự khác biệt giữa các nhóm đó (nhóm gia đình khác biệt) trong dân số"[44] Điểm đáng chú ý là những phát hiện liên quan đến sự bất ổn (trong các gia đình đồng tính) của Regnerus phù hợp với các nghiên cứu gần đây của các quốc gia như Anh, Hà Lan, và Thụy Điển dựa trên các mẫu đại diện lớn, ngẫu nhiên, tiêu biểu cho các cặp vợ chồng đồng tính nam và đồng tính nữ, các nghiên cứu ấy cũng phát hiện ra sự tương đồng lớn về những kiểu bất ổn xuất hiện trong số các cặp đôi đồng giới. Thứ ba, một nghiên cứu khác được công bố gần đây trên Tạp chí hôn nhân và gia đình cũng đi đến kết luận rằng: “trẻ em trong các gia đình của các cặp đôi đồng tính có điểm số thấp hơn so với các bạn cùng lớp trong các gia đình có bố mẹ dị tính”[45]

Một đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi 1 cặp đồng tính chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề hơn. Ví dụ: nếu 1 cặp đồng tính nam nhận con gái nuôi hoặc cặp đồng tính nữ nhận con trai nuôi, đứa trẻ sẽ phải lớn lên mà thiếu vắng sự hướng dẫn giới tính từ người có cùng giới tính với nó, nhất là trong gia đoạn dậy thì, từ đó làm tăng nguy cơ về sự lệch lạc hành vi giới tính. Sự dễ chia tay hoặc quan hệ ngoài luồng, vốn phổ biến của các cặp đồng tính, cũng làm tăng nguy cơ chấn thương tâm lý ở đứa trẻ. Tệ hơn, đứa trẻ có thể phải đối mặt với sự kỳ thị, trêu chọc hoặc cô lập từ bạn bè cùng trang lứa, từ đó hình thành tâm lý bất mãn hoặc nổi loạn. Nhà tâm lý Enrique Rojas cho biết: Theo các nghiên cứu từ Hoa Kỳ, Canada, và New Zealand, 70-80% số đứa trẻ được nuôi bởi người đồng tính sẽ phát triển những khuynh hướng đồng tính tương tự.[46]

Phân tích tổng hợp của Stacy và Biblarz (năm 2001) cho thấy rằng: các bà mẹ nuôi là đồng tính nữ có ảnh hưởng lớn, khiến con trai nuôi của họ trở nên nữ tính trong khi con gái nuôi thì lại trở nên nam tính. Họ báo cáo: "...các cô gái vị thành niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính sẽ có tỷ lệ cao hơn về tình dục bừa bãi... nói cách khác, trẻ em (đặc biệt là trẻ em gái) được nuôi bởi nữ đồng tính có xu hướng đả phá các quan niệm giới tính truyền thống, trong khi trẻ em được nuôi bởi các bà mẹ thông thường sẽ có biểu hiện phù hợp với giới tính của mình"[47] Một nghiên cứu năm 1996 bởi một nhà xã hội học Úc cho thấy: những đứa trẻ của các cặp vợ chồng bình thường là giỏi nhất, trong khi con nuôi của các cặp vợ chồng đồng tính lại học hành kém nhất, điều này đúng tại 9 trên 13 trường học được khảo sát.[47]

Tiến sĩ Trayce Hansen cho biết: "Nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội, mặc dù không dứt khoát, cho thấy rằng trẻ em nuôi bởi các cặp đồng tính có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi đồng tính hơn so với các trẻ em khác. Các nghiên cứu cho đến nay cho thấy khoảng 8% đến 21% con nuôi của các cặp đồng tính cuối cùng cũng sẽ trở thành đồng tính. Để so sánh, tạm cho khoảng 2% dân số nói chung là đồng tính. Do đó, nếu các tỷ lệ này được xác minh kĩ, con nuôi của các cặp đồng tính có khả năng phát triển thành đồng tính cao hơn 4 đến 10 lần so với những đứa trẻ khác."

Trong cuốn sách "Lớn lên trong một gia đình đồng tính nữ: Tác động với sự phát triển trẻ em", 2 tiến sĩ Fiona TaskerSusan Golombok, quan sát thấy rằng 25% những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính cũng đã tham gia vào một mối quan hệ đồng tính, so với xấp xỉ 0% ở những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ bình thường[48]

Khả năng thay đổi của thiên hướng tình dục

Năm 1985, trong quyển Lựa chọn song tính luyến ái (Bisexual Option), Fritz Klein trình bày một thang đo để kiểm tra giả thuyết của mình cho rằng thiên hướng tình dục là "một quá trình thay đổi và nhiều biến" vì nó thay đổi theo thời gian và chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau bao gồm yếu tố liên quan và không liên quan đến tình dục. Klein xem xét các yếu tố như ham thích về mặt tình dục, sự thể hiện, tình cảm và mối quan hệ xã hội, lối sống và sự tự nhận biết. Mỗi yếu tố đó đều ảnh hưởng đến quá khứ, hiện tại và quan niệm của từng người.[49]

Khả năng thay đổi thiên hướng tình dục tùy thuộc vào từng người. Trung tâm Nghiên cứu Nghiện và Sức khỏe Tâm thần (Centre for Addiction and Mental Health) cho rằng "Ở một vài người, thiên hướng tình dục là liên tục và cố định trong suốt cuộc đời. Ở người khác, nó có thể thay đổi theo thời gian".[50] Nghiên cứu của Lisa Diamond cho thấy thiên hướng tình dục của phụ nữ song tính luyến ái dễ thay đổi hơn của phụ nữ đồng tính luyến ái.[51]

Thiên hướng tình dục (bao gồm đồng tính, dị tính hoặc song tính) không phải là cố định, nó có thể thay đổi từ dạng này sang dạng khác. Hiệp hội Tâm thần học Mỹ (APA) tuyên bố rằng "một số người tin rằng thiên hướng tình dục là bẩm sinh và cố định; Tuy nhiên, thực tế khuynh hướng tình dục luôn phát triển trong suốt cả một đời người""[52] Trong một tuyên bố phát hành cùng với Tổ chức y tế Hoa Kỳ, Hiệp hội Tâm thần học Mỹ cho rằng "những người khác nhau nhận ra tại các điểm khác nhau trong cuộc đời rằng họ là dị tính, đồng tính nam, đồng tính nữ, hay song tính"[53] Một báo cáo từ Trung tâm Y tế và sức khỏe tâm thần cho biết: "Đối với một số người, thiên hướng tình dục là liên tục và cố định trong suốt cuộc đời họ. Đối với những người khác, thiên hướng tình dục có thể là linh động và thay đổi theo thời gian". Những nghiên cứu cho thấy: Tính cố định hoặc linh động của thiên hướng tình dục phụ thuộc vào từng cá nhân. Đối với nhiều người, thiên hướng tình dục là cố định và không thay đổi. Nhưng với nhiều người khác, điều này lại không phải là bẩm sinh mà nó có thể biến đổi theo thời gian, có thể từ dị tính sang đồng tính hoặc ngược lại. Sự biến đổi diễn ra như thế nào phụ thuộc vào yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường (sự tác động của văn hóa xã hội, tôn giáo, gia đình, bạn bè...).[54]

Nhân khẩu học

Phương pháp nghiên cứu nhân khẩu học của thiên hướng tình dục có nhiều thử thách vì thiên hướng tình dục có nhiều khía cạnh khác nhau và ranh giới khác nhau. Việc xác định tỉ lệ các thiên hướng tình dục khác nhau trên thực tế là khó khăn và gây nhiều tranh cãi. Trong Thể hiện tình dục ở nam giới (1948) và Thể hiện tình dục ở phụ nữ (1953), của Alfred Kinsey, người ta được yêu cầu tự đánh giá mình theo thang Kinsey. Khi phân tích sự thể hiện giới tính và ý thức giới tính của từng cá nhân, ông rút ra rằng thiên hướng song tính luyến ái, ham thích tình dục với cả người cùng và khác phái, chiếm đa số. Theo ông, dị tính và đồng tính luyến ái chiếm một tỉ lệ nhỏ. Tuy nhiên, hoàn toàn song tính luyến ái (ham thích tình dục với người cùng phái và khác phái là bằng nhau) một tỉ lệ nhỏ hơn nữa.

Đối với những nhà nghiên cứu, việc xác định tỷ lệ người đồng tính và tỉ lệ người từng trải nghiệm tình dục đồng giới một cách đáng tin cậy là điều khó khăn vì nhiều lý do khác nhau, cũng như không rõ tỷ lệ này có khác nhau ở các nhóm dân tộc riêng biệt hay không.[55] Nếu phân chia theo giới thì tỷ lệ nam đồng tính cao hơn khoảng 2 lần so với nữ đồng tính.

Ở các nước phương Tây hiện đại, theo nhiều ước tính, 1% đến 5% dân số phương Tây là đồng tính, và 2% đến 10% đã từng trải nghiệm vài dạng hành vi tình dục đồng giới trong cuộc đời.[56][57][58][59][60][61][62][63] Trong một nghiên cứu 2006 ở Úc, có 20% số người trả lời từng có cảm giác về tình dục đồng giới, nhưng chỉ có 2% tự nhận là đồng tính (tức là có cảm giác yêu đương với người đồng giới).[cần dẫn nguồn] Thống kê quy mô nhất là ở Canada: khảo sát 121.300 người trên 18 tuổi, có 1,43% tự nhận mình là đồng tính hoặc song tính.[cần dẫn nguồn]

Còn tại châu Á, có ít khảo sát về vấn đề này hơn. Tại Trung Quốc, một ước tính cho biết có khoảng 2,25 triệu đồng tính nam, chiếm khoảng 0,17% dân số[64] Tại Việt Nam, nghiên cứu do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện ước tính có khoảng 50-125 ngàn người đồng tính, chiếm khoảng 0,06-0,15% dân số.[65] Tại Indonesia, Bộ sức khỏe ước tính có khoảng 55.000 đồng tính nam trên cả nước (chiếm 0,025% dân số). Có thể thấy số người đồng tính ở châu Á thấp hơn rất nhiều so với Châu Âu, điều này có thể giải thích bởi yếu tố bối cảnh gia đình, văn hóa và xã hội ở châu Á ít tạo điều kiện cho việc hình thành thiên hướng đồng tính ở thanh thiếu niên (xem thêm tại Những yếu tố hình thành Thiên hướng tình dục).

Những yếu tố hình thành thiên hướng tình dục

Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pedeatrics) khẳng định rằng "Thiên hướng tình dục chỉ được quyết định bởi sự tổng hợp của kiểu gen, hoocmon và ảnh hưởng môi trường".[66] Nhiều tranh cãi tiếp tục dựa trên các yếu tố sinh học và/hoặc tâm lí như kiểu gen và sự hoạt động của một số hoocmon ở bào thai. Sigmund Freud và các nhà tâm lí khác xác nhận rằng sự hình thành thiên hướng tình dục do nhiều nhân tố trong đó có những điều trải qua khi còn nhỏ.

Có nhiều giả thuyết về các yếu tố hình thành nên thiên hướng tình dục đồng tính, trong đó bao gồm:

  • Kiểu gen (bẩm sinh).:[67] Nhiều người nghĩ đồng tính là bẩm sinh và do gen quyết định. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Peter BearmanHannah Bruckner, từ Đại học ColumbiaĐại học Yale, khi nghiên cứu dữ liệu từ Trung tâm Y tế quốc gia vị thành niên, cho biết xác suất cả 2 người trong cặp song sinh đều là đồng tính chỉ là 6,7% với nam và 5,3% với nữ. Họ kết luận: kiểu gen chỉ là một trong những nguồn gốc của đồng tính luyến ái, những nguyên nhân khác như ảnh hưởng từ văn hóa, xã hội và gia đình với trẻ em đóng vai trò quan trọng hơn[68] Một nghiên cứu gần đây đã nêu lên rằng kiểu gen không phải là nhân tố chủ yếu.[69]
  • Môi trường sống và sự dạy dỗ.[67]
    • Sự tương quan với môi trường sống: đồng tính luyến ái có tương quan với sự đô thị hóa của nơi đối tượng ở lúc 14 tuổi (độ tuổi bắt đầu dậy thì và có sự định hình về hấp dẫn giới tính). Sự tương quan ở nam cao hơn ở nữ. Mức độ thị hóa càng cao thì tỷ lệ đồng tính càng có xu hướng tăng, nguyên nhân vì ở các thành phố lớn có các chuẩn mực đạo đức lỏng lẻo hơn, lối sống cá nhân cao hơn cũng như có nhiều tác động văn hóa-xã hội khó kiểm soát, khiến vị thành niên tại đó dễ có thiên hướng đồng tính hơn.[70][71][72][73]
    • Yếu tố gia đình: sự thiếu bảo bọc của người cha và sự gắn bó quá mật thiết với người mẹ là nhân tố chính hình thành đồng tính ở nam giới. Đối với nữ, việc có mẹ qua đời ở tuổi vị thành niên, là con út hay con gái duy nhất trong gia đình cũng làm tăng khả năng đồng tính. Những người có cha mẹ ly hôn hoặc mất sớm sẽ có xu hướng đồng tính cao hơn những người có cha mẹ hạnh phúc[74][75][76]
    • Chấn thương tâm lý: Việc bị chấn thương tâm lý do bị lạm dụng tình dục cũng là một yếu tố. Một nghiên cứu trong Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ phát hiện ra rằng "vị thành niên bị lạm dụng tình dục, đặc biệt là nam giới, có khả năng tự nhận mình là người đồng tính hay song tính cao gấp 7 lần so với những người không bị lạm dụng"[77] Một nghiên cứu khác cho thấy rằng "46% nam đồng tính so với 7% của nam dị tính báo cáo rằng đã bị lạm dụng tình dục. Con số này tương ứng là 20% trong số đồng tính nữ so với 1% ở nữ dị tính"."[78]
    • Ảnh hưởng từ văn hóa xã hội: Khuôn mẫu tình dục của mỗi cá nhân là một sản phẩm của văn hóa xã hội. Những xã hội có xu hướng chấp nhận đồng tính thì sẽ có nhiều cá nhân có khuynh hướng đồng tính hơn. Tại Mỹ, đã có sự gia tăng số phụ nữ cảm thấy thu hút đồng tính. Nhà nghiên cứu Binnie Klein cho rằng "rõ ràng là một sự thay đổi trong xu hướng tình dục trong tâm trí nhiều người hơn hơn bao giờ hết, và có nhiều cơ hội hơn - và sự chấp nhận - để vượt qua làn ranh (về giới tính)"[79] Toni Meyer, nhà nghiên cứu cao cấp của Hội đồng Chính sách gia đình bang New Jersey (Mỹ), cho biết: cùng với phong trào ủng hộ đồng tính lên cao, từ năm 1994, số đồng tính nam (ở Mỹ) đã tăng 18%, và số lượng đồng tính nữ còn tăng tới 157%. Điều này cho thấy những yếu tố văn hóa có tác động mạnh mẽ trong việc khuyến khích các hành vi đồng tính, và ít nhất là gián tiếp, làm suy yếu toàn bộ lý thuyết về việc "đồng tính là bẩm sinh".
  • Số lượng anh trai của đối tượng (đối với người đồng tính nam).:[80] Theo nhiều nhiên cứu, có thêm một người anh trai sẽ tăng khả năng là đồng tính lên 28%–48%.[81][82][83][84] Hiệu ứng anh trai chiếm khoảng 1/7 trong số người đồng tính nam.[85] Không có sự tương quan giữa số chị gái và sự đồng tính của một người nữ.[86]
  • Hoócmôn trong giai đoạn bào thai.:[87][88] Các chuyên gia của Viện Toán và Tổng hợp sinh học quốc gia (Mỹ) cho rằng đồng tính luyến ái có liên hệ với "ngoại tố di truyền học", gọi là epi-mark. Epi-mark về giới tính được sản sinh trong giai đoạn đầu bào thai, nhằm bảo vệ giới tính không bị testosterone ảnh hưởng, ngăn bào thai nữ phát triển theo hướng nam tính và ngược lại. Tuy nhiên trong một số trường hợp, những epi-mark đó được truyền từ cha sang con gái hoặc từ mẹ sang con trai, gây hiệu ứng đảo nghịch về sự hấp dẫn giới tính[89]
  • Sự lo âu của người mẹ khi mang thai.[90][91][92]
  • Tổng hợp của các yếu tố trên.

Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics) khẳng định rằng "Thiên hướng tình dục được quyết định bởi sự tổng hợp của kiểu gen, hoocmon và ảnh hưởng môi trường".[93] Nhiều tranh cãi tiếp tục dựa trên các yếu tố sinh học và/hoặc tâm lí như kiểu gen và sự hoạt động của một số hoocmon ở bào thai. Sigmund Freud và các nhà tâm lý học khác xác nhận rằng sự hình thành thiên hướng tình dục do nhiều nhân tố, trong đó có các sự việc quá khứ xảy ra trong thời thơ ấu. Tiến sĩ tâm lý học nổi tiếng người Tây Ban Nha là Enrique Rojas thì cho rằng: 95% nguyên nhân dẫn tới đồng tính là do các yếu tố môi trường như sự thiếu vắng quan tâm của người cha, người mẹ hung dữ hoặc bị lạm dụng tình dục trong thời thơ ấu.

Nhà nghiên cứu Lisa Diamond, khi xem xét các nghiên cứu về xác định tình dục đồng tính và song tính của nữ, nói rằng nghiên cứu tìm thấy "sự thay đổi và tính linh động trong tình dục đồng giới, nó mâu thuẫn với mô hình thông thường cho rằng khuynh hướng tình dục là cố định và bẩm sinh"[94] Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy các hành vi không phù hợp với giới tính ở trẻ em là chỉ báo lớn nhất của tình dục đồng giới ở tuổi trưởng thành[69][95][96][97] Dary Bem cho thấy rằng một số trẻ em khi chứng kiến hành vi tình dục đồng tính có thể gợi lên kích thích sinh lý, mà sau này sẽ được chuyển thành kích thích tình dục. Peter Bearman cho rằng những phát hiện của ông ủng hộ giả thuyết rằng hành vi giới tính trong thời thơ ấu và thiếu niên sẽ góp phần hình thành quan hệ đồng tính ở tuổi trưởng thành. Ngoài những tác động cá nhân, cấu trúc xã hội và những ảnh hưởng từ văn hóa xã hội cũng góp phần tạo ra sự thu hút đồng tính.[69] Tác giả của một công trình nghiên cứu lớn về đồng tính năm 2014, Alan Sanders, tuyên bố rằng "những đặc điểm phức tạp của khuynh hướng tình dục (bao gồm đồng tính) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ cả di truyền lẫn ảnh hưởng từ môi trường sống."[98] Nhà nghiên cứu McConaghy (năm 2006) cho thấy không có mối quan hệ giữa mức độ xúc cảm đồng tính với hành vi đồng tính luyến ái, dẫn ông đến kết luận rằng ảnh hưởng của thứ tự sinh về mức độ xúc cảm đồng tính không phải do yếu tố sinh học, mà đó là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội.[99]

Hai nhà nghiên cứu Bearman và Bruckner (năm 2002) đã nghiên cứu 289 cặp song sinh giống hệt nhau (song sinh cùng trứng) và 495 cặp cặp song sinh khác trứng và tìm thấy rằng chỉ có 7,7% cặp song sinh cùng trứng nam và 5,3% cặp song sinh cùng trứng nữ đều là đồng tính, một kết quả giúp họ đưa ra kết luận "không có cơ sở cho thấy ảnh hưởng của di truyền là độc lập với ảnh hưởng từ bối cảnh xã hội (đối với việc hình thành đồng tính luyến ái)."[69]

Năm 2010, nghiên cứu của trường Queen Mary và Viện Nghiên cứu KarolinskaStockholm đã theo dõi 3.826 cặp song sinh cùng trứng và nhận thấy: dù có bộ gen giống hệt nhau, tỷ lệ số cặp song sinh cùng là đồng tính khi trưởng thành là rất thấp. Nghiên cứu kết luận: môi trường sống không chia sẻ là yếu tố đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành đồng tính luyến ái, trong khi yếu tố bẩm sinh chỉ có vai trò nhỏ tới trung bình. Cụ thể, ảnh hưởng từ di truyền chiếm 34-39%, ảnh hưởng từ môi trường sống không chia sẻ lên mỗi cá nhân (đã loại bỏ các yếu tố môi trường chia sẻ) chiếm 61-66% trong việc hình thành đồng tính nam, tỷ lệ tương ứng đối với đồng tính nữ là 18% và 80%[100][101]

Sự ham thích, thể hiện và ý thức

Những tác giả đầu tiên thường hiểu rằng thiên hướng tình dục liên quan đến giới tính của cá nhân. Chẳng hạn, người ta nghĩ rằng một người có cơ thể là nữ mà lại thích người có cơ thể là nữ thì có tính đàn ông và ngược lại. Từ giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, hầu hết những nhà lý luận nổi bật và chính những người đồng tính cũng đồng ý như vậy. Tuy nhiên, vấn đề này được đưa ra tranh cãi và đến nửa sau của thể kỷ 20, ý thức giới tính (gender identity) ngày càng được xem là độc lập với thiên hướng tình dục. Những người có ý thức giới tính trùng với giới tính sinh học của mình (cisgender) và những người có ý thức giới tính không trùng với giới tính sinh học của mình (transgender) đều có thể có ham thích đối với nam hoặc nữ hoặc cả hai mặc dù thiên hướng tình dục của hai nhóm này khá khác nhau. Một người đồng tính, dị tính hoặc song tính đều có thể là người nam tính, nữ tính hoặc ái nam ái nữ.[102]

Vài người phân biệt

1. Ham thích người khác phái/cùng phái.

2. Quan hệ/thể hiện tình cảm với người khác phái/cùng phái.

3. Sự ham thích người khác phái/cùng phái so với sự thể hiện cá nhân (nam tính/nữ tính).

4. Tự nhận mình là dị tính, đồng tính, song tính, vv.

Các tổ chức y khoa chính thống cũng khẳng định rằng "sự thể hiện giới tính (sexual behaviour) là khác với thiên hướng tình dục".[103]

Một số dạng khác

Monosexual (tạm dịch: đơn tính luyến ái) chỉ những người chỉ bị hấp dẫn tình dục bởi một giới tính (nam hoặc nữ). Đơn tính luyến ái có thể là đồng tính luyến ái hoặc dị tính luyến ái.

Polysexual (tạm dịch: đa tính luyến ái) chỉ những người bị hấp dẫn tình dục bởi hơn một giới tính nhưng không xác định mình là song tính luyến ái bởi vì họ cho rằng giới tính không phải là dạng nhị phân. Khái niệm này khác với khái niệm pansexual.

Pansexual hoặc omnisexual (tạm dịch: toàn tính luyến ái) chỉ sự hấp dẫn bởi cái đẹp, tình yêu lãng mạn hoặc ham muốn tình dục đối với ai đó mà không cần biết giới tính của họ. Vài người pansexual cho rằng họ là người mù giới tính. Giới tính là không quan trọng và không thích hợp khi xác định việc họ bị hấp dẫn tình dục bởi ai đó.

Pomosexual là từ mới chỉ những người không xác định thiên hướng tình dục của mình (chẳng hạn như đồng tính hay dị tính) và không gán mình vào một loại thiên hướng tình dục nào. Khái niệm này khác với vô tính chỉ những người không bị hấp dẫn tình dục bởi bất kỳ ai.

Questioning (tạm dịch: thắc mắc) chỉ người muốn xác định giới tính thật sự hoặc thiên hướng tình dục của mình. Những người này không chắc chắn về thiên hướng tình dục của mình hoặc đang khám phá cảm giác của mình.

Bi-curious (tạm dịch: tò mò song tính) chỉ người không xác định mình là song tính hoặc đồng tính luyến ái nhưng cảm thấy tò mò về mối quan hệ hoặc hành vi tình dục với người cùng giới. Khái niệm này cũng chỉ người xác định mình là đồng tính nhưng cảm thấy quan tâm về mối quan hệ hoặc hành vi tình dục với người khác phái.

Zoosexual (tạm dịch: dị loài luyến ái) chỉ thiên hướng tình dục hướng tới động vật không phải con người.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Hirschfeld, Magnus, 1896. Sappho und Socrates, Wie erklärt sich die Liebe der Männer & und Frauen zu Personen des eigenen Geschlechts? (Sappho and Socrates, How Can One Explain the Love of Men and Women for Individuals of Their Own Sex?)
  2. ^ A.C. Kinsey, W.B. Pomeroy, C.E. Martin, Sexual Behavior in the Human Male, (pp. 639, 656). Philadelphia, PA: W.B. Saunders, 1948). ISBN 0-253-33412-8.
  3. ^ Staff report (ngày 12 tháng 8 năm 1998). Gay Is Okay With APA—Forum Honors Landmark 1973 Events. JAMA. 1998;280(6):497-499. doi:10.1001/jama.280.6.497.
  4. ^ a ă The Long Road to Freedom, ed. by Mark Thompson. St Martin Press 1995. ISBN 0-3121-3114-3. P 97.
  5. ^ Love Undetectable, by Andrew Sullivan, 1998, p. 107
  6. ^ UserTweets:0. “America homosexuality”. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  7. ^ Darlene Bogle, "Healing from Lesbianism," in Yamamoto, 15.
  8. ^ Bob Davies, "The Exodus Story: The Growth of Ex-gay Ministry," in Yamamoto, 47-59. Also, see Kent Philpott, The Gay Theology (Plainfield, NJ: Logos International, 1977), 20-37.
  9. ^ Andrew Comiskey, Pursuing Sexual Wholeness: How Jesus Heals the Homosexual (Lake Mary, FL: Creation House, 1989).
  10. ^ Joanne Highley, L.I.F.E. Ministries, P.O. Box 353, New York, NY 10185.
  11. ^ The New York Times: Homosexuality Not an Illness, Chinese Say
  12. ^ Stanton L. Jones, "Homosexuality According to Science," in J. Isamu Yamamoto, ed., The Crisis of Homosexuality (Wheaton, IL: Victor Books, 1990), p. 107
  13. ^ “Our Staff”. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  14. ^ Gonsiorek, J.C. Homosexuality: Research Implications for Public Policy. The empirical basis for the demise of the illness model of homosexuality. Sage 1991, 115-136
  15. ^ Neil Whitehead. My Gene made me do it! - A Scientific Look At Sexual Orientation. Huntington House Publishers, Layfayette, Lousiana 1999. P 233
  16. ^ “Liberty Counsel: Scouts Need To Be Protected From ‘Homosexual Pressures And Predators’”. ThinkProgress. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  17. ^ Same Sex Marriage: Putting Every Household At Risk. Mathew D. Staver. B&H Group Publishing 2004. ISBN 978-0-8054-3196-4. P. 12
  18. ^ Paul Van de Ven, Pamela Rodden, June Crawford, Susan Kippax. A Comparative Demographic and Sexual Profile of Older Homosexually Active Men. The Journal of Sex Research, Vol. 34, No. 4, 1997, tr. 349-360
  19. ^ Meyer-Balburg H. Exner, T.,Lorenz G., Gruen, R., Gorman, J, Ehrhardt, A (1991) Sexual Risk Behavior, Sexual Functioning and HIV-Disease Progression in Gay Men Journal of Sex Research. 28, 1: 3-27
  20. ^ a ă Fethers K et al. Sexually transmitted infections and risk behaviours in women who have sex with women. Sexually Transmitted Infections 2000; 76: 345-9.
  21. ^ L. Fifield, J. Latham and C. Phillips, "Alcoholism in the Gay Community: The Price of Alienation, Isolation, and Oppression," A Project of the Gay Community Service Center, Los Angeles
  22. ^ J. H. Lowinson, et al., Substance Abuse: A Comprehensive Textbook, 3d ed. (Baltimore, MD: Williams & Wilkins, 1997)[cần số trang]
  23. ^ a ă APA Help Center
  24. ^ What is Nature
  25. ^ Relationship Satisfaction and Commitment
  26. ^ Duffy, S.M/; C.E. Rusbult (1985). “Satisfaction and commitment in homosexual and heterosexual relationships”. Journal of Homosexuality 12 (2): 1–23. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009. 
  27. ^ Charlotte, Baccman; Per Folkesson, Torsten Norlander (1999). “Expectations of romantic relationships: A comparison between homosexual and heterosexual men with regard to Baxter's criteria”. Social Behavior and Personality. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009. 
  28. ^ APA - What is Nature
  29. ^ Gunnar Andersson, "Divorce-Risk Patterns in Same-Sex Marriages in Norway and Sweden"2004.
  30. ^ Adrian Brune, "City Gays Skip Long-term Relationships: Study Says," Washington Blade (February 27, 04): 12.
  31. ^ The Contribution of Steady and Casual Partnerships to the Incidence of HIV Infection among Homosexual Men in Amsterdam," AIDS 17 (2003): 1031.
  32. ^ [M. Pollak, "Male Homosexuality," in Western Sexuality: Practice and Precept in Past and Present Times, ed. P. Aries and A. Bejin, translated by Anthony Forster (New York, NY: B. Blackwell, 1985): 40-61 http://www.frc.org/get.cfm?i=IS04C02]
  33. ^ Ryan Lee, "Gay Couples Likely to Try Non-monogamy, Study Shows," Washington Blade (ngày 22 tháng 8 năm 2003): 18
  34. ^ A Comparative Demographic and Sexual Profile of Older Homosexually Active Men," Journal of Sex Research 34 (1997): 354
  35. ^ Comparative Demographic and Sexual Profile of Older Homosexually Active Men," Journal of Sex Research 34, 1997. P 354
  36. ^ "Money, Housework, Sex, and Conflict: Same-Sex Couples in Civil Unions, Those Not in Civil Unions, and Heterosexual Married Siblings Sondra E. Solomon". Esther D. Sex Roles, Vol. 52, Nos. 9/10, 2005. DOI: 10.1007/s11199-005-3725-7. P 569
  37. ^ HOMOSEXUAL PARENTING: PLACING CHILDREN AT RISK (Part II of III)
  38. ^ Kirk Patrick M, Smith C, Roy R (July năm 1981). “Lesbian mothers and their children: a comparative survey”. Am J Orthopsychiatry 51 (3): 545–51. PMID 7258320. 
  39. ^ Susan Golombok, Ann Spencer and Michael Rutter (October năm 1983). “Children in lesbian and single-parent households: psychosexual and psychiatric appraisal”. J Child Psychol Psychiatry 24 (4): 551–72. doi:10.1111/j.1469-7610.1983.tb00132.x. PMID 6630329. 
  40. ^ Green R, Mandel JB, Hotvedt ME, Gray J, Smith L (April năm 1986). “Lesbian mothers and their children: a comparison with solo parent heterosexual mothers and their children”. Arch Sex Behav 15 (2): 167–84. doi:10.1007/BF01542224. PMID 3718205. 
  41. ^ http://www.baylorisr.org/wp-content/uploads/Regnerus.pdf
  42. ^ Are Children of Parents Who Had Same- Sex Relationships Disadvantaged?
  43. ^ “Family Research Council”. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015. 
  44. ^ Paul Amato. 2012. “The Well-being of Children with Gay and Lesbian Parents.” Social Science Research 41:4 (Forthcoming).
  45. ^ A Social Scientific Response to the Regnerus Controversy. ISR, Baylor University. Byron Johnson, Baylor University. Douglas Allen, Simon Fraser University. Peter Arcidiacono, Duke University. Carl L. Bankston, III, Tulane University. John Bartkowski, University of Texas at San Antonio. Thomas Cushman, Wellesley College. Mathieu Deflem, University of South Carolina. David Eggebeen, Penn State University. Sheldon Ekland-Olson, University of Texas at Austin. Michael Emerson, Rice University. Ana Cecilia Fieler, University of Pennsylvania. Marjorie Gunnoe, Calvin College. Alan Hawkins, Brigham Young University. Jonathan Imber, Wellesley College. Loren Marks, Louisiana State University. Margarita Mooney, University of North Carolina at Chapel Hill. Michael J. New, University of Michigan at Dearborn. David Popenoe, Rutgers University (emeritus). Stephen Robinson, University of North Carolina at Wilmington
  46. ^ Eminent Psychiatrist Says Homosexuality is a Disorder that Can be Cured
  47. ^ a ă Stacy, J. & Biblarz, T. J. (2001). Does sexual orientation of parents matter? American Sociological Review, 66 (2), p. 171.
  48. ^ Growing up in a lesbian family: effects on child development. Fiona L. Tasker, Susan Golombok. Guilford Press, 1997. ISBN 1-57230-412-X. P 111
  49. ^ LeVay, Simon, 1996. Queer Science: The Use and Abuse of Research into Homosexuality. Cambridge: MIT Press. ISBN 0-262-62119-3.
  50. ^ CAMH: Resources for professionals
  51. ^ Diamond, Lisa Sexual Identity, Attractions, and Behavior Among Young Sexual-Minority Women Over a 2-Year Period Developmental Psychology (2000) Vol. 36 No.2, 241-250
  52. ^ American Psychiatric Association (May năm 2000). “Gay, Lesbian and Bisexual Issues”. Association of Gay and Lesbian Psychiatrics. 
  53. ^ “Just the Facts About Sexual Orientation & Youth: A Primer for Principals, Educators and School Personnel”. American Academy of Pediatrics, American Counseling Association, American Association of School Administrators, American Federation of Teachers, American Psychological Association, American School Health Association, The Interfaith Alliance, National Association of School Psychologists, National Association of Social Workers, National Education Association. 1999. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2007. 
  54. ^ “ARQ2: Question A2 – Sexual Orientation”. Centre for Addiction and Mental Health. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2007. 
  55. ^ LeVay, Simon (1996). Queer Science: The Use and Abuse of Research into Homosexuality. Cambridge: The MIT Press ISBN 0-262-12199-9
  56. ^ Investigators ACSF (1992). “AIDS and sexual behaviour in France”. Nature 360 (6403): 407–409. doi:10.1038/360407a0. PMID 1448162. 
  57. ^ Billy JO, Tanfer K, Grady WR, Klepinger DH (1993). “The sexual behavior of men in the United States”. Family Planning Perspectives 25 (2): 52–60. doi:10.2307/2136206. JSTOR 2136206. PMID 8491287. 
  58. ^ Binson, Diane; Michaels, Stuart; Stall, Ron; Coates, Thomas J.; Gagnon, John H.; Catania, Joseph A. (1995). “Prevalence and Social Distribution of Men Who Have Sex with Men: United States and Its Urban Centers”. The Journal of Sex Research 32 (3): 245–54. doi:10.1080/00224499509551795. JSTOR 3812794. 
  59. ^ Bogaert AF (September năm 2004). “The prevalence of male homosexuality: the effect of fraternal birth order and variations in family size”. Journal of Theoretical Biology 230 (1): 33–7. doi:10.1016/j.jtbi.2004.04.035. PMID 15275997.  Bogaert argues that: "The prevalence of male homosexuality is debated. One widely reported early estimate was 10% (e.g., Marmor, 1980; Voeller, 1990). Some recent data provided support for this estimate (Bagley and Tremblay, 1998), but most recent large national samples suggest that the prevalence of male homosexuality in modern western societies, including the United States, is lower than this early estimate (e.g., 1–2% in Billy et al., 1993; 2–3% in Laumann et al., 1994; 6% in Sell et al., 1995; 1–3% in Wellings et al., 1994). It is of note, however, that homosexuality is defined in different ways in these studies. For example, some use same-sex behavior and not same-sex attraction as the operational definition of homosexuality (e.g., Billy et al., 1993); many sex researchers (e.g., Bailey et al., 2000; Bogaert, 2003; Money, 1988; Zucker and Bradley, 1995) now emphasize attraction over overt behavior in conceptualizing sexual orientation." (p. 33) Also: "...the prevalence of male homosexuality (in particular, same-sex attraction) varies over time and across societies (and hence is a "moving target") in part because of two effects: (1) variations in fertility rate or family size; and (2) the fraternal birth order effect. Thus, even if accurately measured in one country at one time, the rate of male homosexuality is subject to change and is not generalizable over time or across societies." (p. 33)
  60. ^ Fay RE, Turner CF, Klassen AD, Gagnon JH (January năm 1989). “Prevalence and patterns of same-gender sexual contact among men”. Science 243 (4889): 338–48. doi:10.1126/science.2911744. PMID 2911744. 
  61. ^ Johnson AM, Wadsworth J, Wellings K, Bradshaw S, Field J (December năm 1992). “Sexual lifestyles and HIV risk”. Nature 360 (6403): 410–2. doi:10.1038/360410a0. PMID 1448163. 
  62. ^ Sell RL, Wells JA, Wypij D (June năm 1995). “The prevalence of homosexual behavior and attraction in the United States, the United Kingdom and France: results of national population-based samples”. Archives of Sexual Behavior 24 (3): 235–48. doi:10.1007/BF01541598. PMID 7611844. 
  63. ^ AVJonathan Tisdall. “Norway world leader in casual sex, Aftenposten”. Aftenposten.no. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. [liên kết hỏng]
  64. ^ “Male homosexuals estimated up to 12.5m”. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  65. ^ “Loại thuốc nào cho người đồng tính?”. Báo An ninh Thủ đô. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  66. ^ Sexual Orientation and Adolescents, American Academy of Pediatrics Clinical Report. Truy cập 2007-02-23.
  67. ^ a ă American Psychological Association Answers to Your Questions For a Better Understanding of Sexual Orientation & Homosexuality -

    There is no consensus among scientists about the exact reasons that an individual develops a heterosexual, bisexual, gay, or lesbian orientation. Although much research has examined the possible genetic, hormonal, developmental, social, and cultural influences on sexual orientation, no findings have emerged that permit scientists to conclude that sexual orientation is determined by any particular factor or factors. Many think that nature and nurture both play complex roles; most people experience little or no sense of choice about their sexual orientation.

  68. ^ "Opposite-Sex Twins and Adolescent Same-Sex Attraction," American Journal of Sociology Vol. 107, No. 5, (March 2002). The University of Chicago. P. 1179-1205.
  69. ^ a ă â b This work was published in the American Journal of Sociology (Bearman, P. S. & Bruckner, H. (2002) Opposite-sex twins and adolescent same-sex attraction. American Journal of Sociology 107, 1179–1205.) and is available only to subscribers. However, a final draft of the paper is available here - there are no significant differences on the points cited between the final draft and the published version.
  70. ^ Laumann, Edward O.; John H. Gagnon, Robert T. Michael, Stuart Michaels (1994). The Social Organization of Sexuality: Sexual Practices in the United States. tr. 308. ISBN 0226469573, 9780226469577 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  71. ^ Laumann, Edward; Michael, Robert; Kolata, Gina (ngày 1 tháng 9 năm 1995). Sex in America: A Definitive Survey. Grand Central Publishing. ISBN 978-0446671835. 
  72. ^ Laumann, Edward O.; John H. Gagnon, Robert T. Michael, Stuart Michaels (1994). The Social Organization of Sexuality: Sexual Practices in the United States. tr. 308. ISBN 0-226-46957-3. 
  73. ^ Laumann, Edward; Michael, Robert; Kolata, Gina (ngày 1 tháng 9 năm 1995). Sex in America: A Definitive Survey. Grand Central Publishing. ISBN 978-0-446-67183-5. 
  74. ^ Lung, F.W. (2007). “Father-son attachment and sexual partner orientation in Taiwan”. Comprehensive Psychiatry 48: 20–6. doi:10.1016/j.comppsych.2006.08.001. 
  75. ^ Isay, Richard A. (1990). Being homosexual: Gay men and their development. HarperCollins. ISBN 0-380-71022-6.
  76. ^ Isay, Richard A. (1996). Becoming gay: The journey to self-acceptance. New York, Pantheon. ISBN 0-679-42159-9.
  77. ^ Holmes, William C. (2). “Sexual Abuse of Boys”. The Journal of the American Medical Association 280 (21). 
  78. ^ Tomeo, M.E.; Templer D.L. (2001). “Comparative data of childhood adolescence molestation in heterosexual and homosexual persons”. Archives of Sexual Behavior 30: 535–541. 
  79. ^ Why women are leaving men for other women
  80. ^ Blanchard, R., Cantor, J. M., Bogaert, A. F., Breedlove, S. M., & Ellis, L. (2006). "Interaction of fraternal birth order and handedness in the development of male homosexuality." Hormones and Behavior, 49, 405–414.
  81. ^ Blanchard, R., Zucker, K.J., Siegelman, M., Dickey, R. & Klassen, P. (1998). The relation of birth order to sexual orientation in men and women. Journal of Biosocial Science, 30, 511-­519.
  82. ^ Ellis, L. & Blanchard, R. (2001). Birth order, sibling sex ratio, and maternal miscarriages in homosexual and heterosexual men and women. Personality and Individual Differences, 30, 543-552.
  83. ^ Blanchard, R. (2001). Fraternal birth order and the maternal immune hypothesis of male homosexuality. Hormones and Behavior, 40, 105-114.
  84. ^ Puts, D. A., Jordan, C. L., Breedlove, M. (2006). O brother, where art thou? The fraternal birth-order effect on male sexual orientation. Proceedings of the National Academy of Sciences USA, 103, 10531-10532.
  85. ^ Cantor, J. M., Blanchard, R., Paterson, A. D., & Bogaert, A. F. (2002). How many gay men owe their sexual orientation to fraternal birth order. Archives of Sexual Behavior, 31, 63-71.
  86. ^ Bogaert, A. F. (2005) Sibling sex ratio and sexual orientation in men and women: New tests in two national probability samples. Archives of Sexual Behavior, 34, 111-116.
  87. ^ Dörner, G., Rohde, W., Stahl, F., Krell, L., & Masius, W.-G. (1975). A neuroendocrine predisposition for homosexuality in men. Archives of Sexual Behavior, 4, 1–8.
  88. ^ Ellis & Ames (1987). Neurohormonal functioning and sexual orientation: A theory of homosexuality-heterosexuality. Psychological Bulletin, 101, 233–258.
  89. ^ “Tại sao người ta đồng tính ?”. Thanh Niên Online. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  90. ^ Dörner, G., Geier, T., Ahrens, L., Krell, L., Münx, G., Sieler, H., Kittner, E., & Müller, H. (1980). Prenatal stress as possible aetiogenetic factor of homosexuality in human males. Endokrinologie, 75, 365–368.
  91. ^ Dörner, G., Schenk, B., Schmiedel, B., & Ahrens, L. (1983). Stressful events in prenatal life and bi- and homosexual men. Experimental and Clinical Endocrinology, 31, 83–87.
  92. ^ Ellis, L., & Cole-Harding, S. (2001). The effects of prenatal stress, and of prenatal alcohol and nicotine exposure, on human sexual orientation. Physiology and Behavior, 74, 213–226.
  93. ^ Sexual Orientation and Adolescents, American Academy of Pediatrics Clinical Report. Truy cập 2007-02-23.
  94. ^ Diamond, Lisa (2003). “Was it a phase? Young women's relinquishment of lesbian/bisexual identities over a 5-year period”. Journal of Personality and Social Psychology 84 (2): 352–364. doi:10.1037/0022-3514.84.2.352. 
  95. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Bem2008
  96. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Rieger
  97. ^ Bailey, J.M.; Zucker, K.J (1995). “Childhood sex-typed behavior and sexual orientation: A conceptual analysis and quantitative review”. Developmental Psychology 31 (1): 43–55. doi:10.1037/0012-1649.31.1.43. 
  98. ^ Coghlan, Andy (17 tháng 11 năm 2014). “Largest study of gay brothers homes in on 'gay genes'”. Psychological Medicine,. doi:10.1017/S0033291714002451.  Đã bỏ qua tham số không rõ |access-date= (gợi ý |accessdate=) (trợ giúp)
  99. ^ McConaghy N, Hadzi-Pavlovic D, Stevens C, Manicavasagar V, Buhrich N, Vollmer-Conna U (2006). “Fraternal birth order and ratio of heterosexual/homosexual feelings in women and men”. J Homosex 51 (4): 161–74. doi:10.1300/J082v51n04_09. PMID 17135133. 
  100. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên sciencedaily.com
  101. ^ Långström N, Rahman Q, Carlström E, Lichtenstein P (tháng 2 năm 2010). “Genetic and environmental effects on same-sex sexual behavior: a population study of twins in Sweden”. Arch Sex Behav 39 (1): 75–80. doi:10.1007/s10508-008-9386-1. PMID 18536986. . Trích: Biometric modeling revealed that, in men, genetic effects explained .34–.39 of the variance [of sexual orientation], the shared environment .00, and the individual-specific environment .61–.66 of the variance. Corresponding estimates among women were .18–.19 for genetic factors, .16–.17 for shared environmental, and .64–.66 for unique environmental factors. Although wide confidence intervals suggest cautious interpretation, the results are consistent with minor to moderate, primarily genetic, familial effects, and moderate to large effects of the nonshared environment (social and biological) on same-sex sexual behavior
  102. ^ Bailey, J.M., Zucker, K.J. (1995), Childhood sex-typed behavior and sexual orientation: a conceptual analysis and quantitative review. Developmental Psychology 31(1):43
  103. ^ Just the Facts About Sexual Orientation & Youth: A Primer for Principals, Educators and School Personnel, American Psychological Association, et al., 1999. Truy cập 2007-02-23.