Bước tới nội dung

Liệu pháp chuyển đổi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Liệu pháp chuyển đổi là một phương pháp ngụy khoa học nhằm thay đổi xu hướng tình dục, xu hướng cảm xúc, bản dạng giới hoặc thể hiện giới của một người để phù hợp với các chuẩn mực của người dị tính luyến áingười hợp giới.[1] Các liệu pháp chuyển đổi gồm phẫu thuật thần kinh, thiến, thiến hóa học, các liệu pháp gây ác cảm như sốc điện, thuốc gây buồn nôn, thôi miên, tư vấn tâm lý, can thiệp tôn giáo, hình dung, phân tâm học và tái lập hưng phấn. Giới khoa học đồng thuận rằng liệu pháp chuyển đổi không hiệu quả trong việc thay đổi xu hướng tính dục hoặc bản dạng giới của một người và thường gây ra tác hại tâm lý lâu dài.[2] Ngày càng nhiều quốc gia đã thông qua luật cấm liệu pháp chuyển đổi.[3]

Trong thời kỳ đồng tính luyến ái bị coi là một bệnh lý, liệu pháp chuyển đổi là phương pháp điều trị cho những người đồng tính hoặc không hợp giới.[4] Tại một số quốc gia, liệu pháp chuyển đổi có thể cấu thành lừa đảolạm dụng trẻ em nếu được thực hiện trên người chưa thành niên. Giới chuyên gia đánh giá liệu pháp chuyển đổi là một hình thức tra tấn; đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm; và vi phạm nhân quyền. Y học chứng cứ và hướng dẫn lâm sàng hiện tại khuyến cáo rằng đồng tính luyến ái, song tính luyến ái và sự không hợp giới là những khía cạnh tự nhiên, lành mạnh của tính dục, bản dạng giới ở loài người.[2][4]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thành

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà văn người Hungary Karl Maria Kertbeny là người đầu tiên đặt ra khái niệm đồng tính luyến ái vào năm 1868. Thuật ngữ bắt đầu được phổ biến từ thập niên 1880.[5][3] Vào giữa thế kỷ 20, hai ngành phân tâm họctình dục học đưa ra các quan điểm đối lập về đồng tính luyến ái. Sigmund Freud, người sáng lập phân tâm học, coi đồng tính luyến ái là một hình thức phát triển bị kìm hãm. Nhà phân tâm học người Hungary Sandor Rado lập luận rằng đồng tính luyến ái là "sự né tránh sợ hãi đối với dị tính luyến ái do thiếu vắng sự nuôi dạy đầy đủ của cha mẹ từ nhỏ".[3] Quan niệm này trở nên phổ biến trong các mô hình tâm thần về đồng tính luyến ái dựa trên tù nhân hoặc những người đồng tính quyết định đi điều trị. Trái lại, các nhà tình dục học như Alfred Kinsey lập luận rằng đồng tính luyến ái là một biểu hiện bình thường trong quá trình phát triển của con người.

Nỗ lực cấm

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1970, giới hoạt động đồng tính thuyết phục Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ xem xét lại liệu đồng tính luyến ái có nên được liệt kê là một rối loạn hay không. Năm 1973, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ xóa đồng tính luyến ái khỏi danh sách rối loạn, góp phần làm thay đổi dư luận về đồng tính luyến ái.[3]

Năm 2020, Chuyên gia độc lập của Liên Hợp Quốc về xu hướng tính dục và bản dạng giới (IESOGI) công bố báo cáo về liệu pháp chuyển đổi đối với người LGBTQ trên thế giới,[6][7] kêu gọi lệnh cấm toàn cầu đối với liệu pháp chuyển đổi.[7][8] Báo cáo trích dẫn một vụ án tại Hoa Kỳ vào năm 2015, trong đó bồi thẩm đoàn nhất trí tuyên bố các bị cáo phạm tội lừa đảo vì cung cấp "các dịch vụ có thể làm giảm đáng kể hoặc loại bỏ sự đồng tính luyến ái."[7][9]

Những lý do phổ biến của những người lớn thực hiện liệu pháp chuyển đổi là niềm tin tôn giáo về quan hệ cùng giới, chẳng hạn như chủ nghĩa phúc âm, Do Thái giáo chính thống và những trường phái Hồi giáo bảo thủ,[10] và ưu tiên duy trì mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, cộng đồng tôn giáo.[11]

Những thanh thiếu niên bị gia đình ép buộc phải thực hiện liệu pháp chuyển đổi thường xuất thân từ một gia đình theo tôn giáo bảo thủ.[11] Những thanh thiếu niên từ những gia đình có địa vị kinh tế xã hội thấp thường xuyên thực hiện liệu pháp chuyển đổi hơn.[12]

Lý thuyết và thực hành

[sửa | sửa mã nguồn]

Khi thái độ xã hội đối với đồng tính luyến ái ngày càng trở nên cởi mở hơn, những liệu pháp chuyển đổi cực đoan nhất, chẳng hạn như liệu pháp gây ác cảm, không còn phổ biến. Từ khi y học không còn coi đồng tính luyến ái là một bệnh lý, liệu pháp chuyển đổi dựa trên tôn giáo bắt đầu chiếm ưu thế.[13]

Liệu pháp gây ác cảm

[sửa | sửa mã nguồn]

Liệu pháp gây ác cảm đối với người đồng tính bao gồm sốc điện và thuốc gây buồn nôn khi xem hình ảnh khiêu dâm đồng tính, thường đi kèm với việc xem hình ảnh khiêu dâm khác giới, nhằm tăng cường cảm xúc dị tính luyến ái.[14] Một phương pháp khác là phương pháp gây nhạy cảm ngầm, bao gồm việc hướng dẫn một người tưởng tượng việc nôn mửa hoặc bị điện giật khi có cảm xúc đồng tính luyến ái. Nhà tâm lý học Haldeman viết rằng tuy các nghiên cứu điều hòa hành vi có xu hướng làm giảm cảm xúc đồng tính luyến ái, nhưng không làm tăng cảm xúc dị tính luyến ái.[14]

Những liệu pháp gây ác cảm khác bao gồm tắm nước đá, đóng băng, đốt bằng cuộn kim loại và lao động khổ sai, nhằm khiến cho đối tượng liên tưởng đế nỗi đau khi có cảm xúc đồng tính luyến ái. Bằng chứng khoa học cho thấy những phương pháp này không hiệu quả.[15]

Liệu pháp gây ác cảm được phát triển ở Tiệp Khắc từ năm 1950 đến năm 1962 và ở Khối Thịnh vượng chung từ năm 1961 đến giữa thập niên 1970. Năm 1961, ngành tâm lý học Tiệp Khắc kết luận rằng liệu pháp gây ác cảm không hiệu quả và đề xuất phi hình sự hóa đồng tính luyến ái. Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, ngành tâm lý học phương Tây phớt lờ khuyến nghị của các đồng nghiệp Khối phía Đông.[16] Một số đàn ông, phụ nữ đồng tính ở Anh được cho lựa chọn giữa đi tù và thực hiện liệu pháp gây ác cảm, nhưng liệu pháp gây ác cảm chưa bao giờ là phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho đàn ông, phụ nữ đồng tính.[17]

Phẫu thuật thần kinh

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thập niên 1940 và 1950, bác sĩ thần kinh người Mỹ Walter Freeman phổ biến phương pháp phẫu thuật thùy não bằng rìu phá băng nhằm điều trị đồng tính luyến ái. Ông đích thân thực hiện 3.439[18] ca phẫu thuật thùy não tại 23 tiểu bang và sử dụng phương pháp của ông trong 2.500 ca,[19] mặc dù không được đào tạo chính quy về phẫu thuật.[20]

Tây Đức vào thập niên 1960 và 1970, bác sĩ phá hủy nhân trung gian của vùng dưới đồi của một số đàn ông đồng tính nhằm điều trị đồng tính luyến ái.[21]

Thiến và ghép tạng

[sửa | sửa mã nguồn]
Friedrich-Paul von Groszheim (1908–2006) được thả khỏi trại tập trung ở Đức sau khi bị ép thiến vào năm 1938.

Vào đầu thế kỷ 20 ở Đức, một số đàn ông đồng tính bị cắt bỏ tinh hoàn một bên và bị cấy ghép tinh hoàn của đàn ông dị tính nhằm điều trị đồng tính luyến ái. Những thí nghiệm này thất bại hoàn toàn.[22]

Vào nửa đầu thế kỷ 20, thiến phẫu thuật là một biện pháp phổ biến đối với đàn ông đồng tính ở châu Âu.[23] Ở Đức Quốc Xã, lãnh đạo SS Heinrich Himmler ra lệnh bắt giam đàn ông đồng tính tại các trại tập trung vì ông coi bản án tù là không đủ để xóa bỏ đồng tính luyến ái.[24] Mặc dù thiến về mặt lý thuyết được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, một số người đồng tính bị cưỡng ép phải thiến, bất kể độ tuổi; có những trường hợp thanh niên mới 16 tuổi bị thiến. Những người đồng ý thiến sau khi bị kết án theo Điều 175 Bộ luật hình sự Đức được không bị chuyển đến trại tập trung sau khi chấp hành án tù.[25] Một số tù nhân trại tập trung cũng bị thiến.[26] Ước tính từ khoảng 400 đến 800 đàn ông bị thiến ở Đức.[27]

Một số lượng không xác định đàn ông đồng tính luyến ái bị thiến ở Tây Đức và thiến hóa học được sử dụng tại những nước phương Tây khác, một trường hợp tiêu biểu là Alan Turing ở Vương quốc Anh.[28]

Liệu pháp khám phá giới tính

[sửa | sửa mã nguồn]

Liệu pháp khám phá giới tính (GET) là một hình thức liệu pháp chuyển đổi[29][30][31][32][33] yêu cầu đối tượng nói chuyện nhằm xác định nguyên nhân bệnh lý của chứng rối loạn nhận dạng giới tính, đồng thời coi chuyển giới là phương án cuối cùng.[29][31][32][34][35] Những người áp dụng liệu pháp khám phá giới tính cho rằng chứng rối loạn nhận dạng giới tính của người bệnh là do các yếu tố như sợ đồng tính, lây nhiễm xã hội, chấn thương tình dục và tự kỷ.[31][33] Một số người áp dụng GET không sử dụng tên và đại từ do đối tượng tự chọn khi đặt câu hỏi về nhận dạng của họ.[35] Nhà đạo đức sinh học Florence Ashley cho rằng định nghĩa của liệu pháp khám phá giới tính có điểm tương đồng với các liệu pháp chuyển đổi đồng tính.[34] Tại Hoa Kỳ, những tiểu bang cấm can thiệp y tế nhằm khẳng định giới tính đối với người chưa thành niên lập luận rằng liệu pháp khám phá giới tính nên là phương pháp điều trị thay thế.[36]

Không có nghiên cứu thực nghiệm nào kiểm tra các kết quả về mặt tâm lý xã hội hoặc y học của GET.[35][37]

Tính hợp pháp

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ các quốc gia, khu vực cấm liệu pháp chuyển đổi xu hướng tính dục và bản dạng giới của người chưa thành niên tính đến tháng 1 năm 2025:
  Cấm liệu pháp chuyển đổi trên cơ sở xu hướng tính dục và bản dạng giới trong luật hình sự
  Chỉ cấm chuyên gia y khoa thực hiện liệu pháp chuyển đổi
  Không cấm liệu pháp chuyển đổi

Một số quốc gia có lệnh cấm hình sự đối với việc thực hành liệu pháp chuyển đổi, bao gồm Canada, Ecuador, Pháp,[38] Đức, Malta, MéxicoTây Ban Nha.[39] Một số quốc gia khác, bao gồm Albania, Brasil, Chile, Việt NamĐài Loan, cấm chuyên gia y khoa thực hành liệu pháp chuyển đổi.[40]

Việc thực hiện liệu pháp chuyển đổi đối với người chưa thành niên có thể cấu thành lạm dụng trẻ em.[41][42][43]

Tác động

[sửa | sửa mã nguồn]

Giới khoa học đồng thuận rằng liệu pháp chuyển đổi không hiệu quả trong việc thay đổi xu hướng tính dục của một người.[2]

Liệu pháp chuyển đổi có thể gây ra tác hại tâm lý nghiêm trọng, lâu dài,[2] bao gồm làm gia tăng nguy cơ trầm cảm, lạm dụng chất và những vấn đề sức khỏe tâm thần khác.[44][45] Ví dụ: người thực hiện liệu pháp chuyển đổi có tỷ lệ cố gắng tự tử gần gấp đôi so với người không thực hiện.[46] Người thực hiện liệu pháp chuyển đổi thường cảm thấy xấu hổ hơn về xu hướng tính dục hoặc bản dạng giới của mình.[11]

Một nghiên cứu năm 2022 ước tính rằng liệu pháp chuyển đổi cho thanh thiếu niên ở Hoa Kỳ tốn 650,16 triệu đô la Mỹ mỗi năm, ngoài ra phát sinh chi phí 9,5 tỷ đô la Mỹ vì gia tăng tỷ lệ tự tử, lạm dụng chất.[45] Thanh thiếu niên trải qua liệu pháp chuyển đổi từ các tổ chức tôn giáo có kết quả sức khỏe tâm thần tiêu cực hơn so với thanh thiếu niên tham khảo ý kiến của các dịch vụ y tế được cấp phép.[11]

Quan điểm y học

[sửa | sửa mã nguồn]

Các tổ chức y tế trên toàn thế giới lên án các nỗ lực thay đổi xu hướng tính dục và bản dạng giới[47][48][49] vì không có bằng chứng khoa học nào chứng minh hiệu quả của liệu pháp chuyển đổi[50][51][52][53] và cảnh báo rằng liệu pháp chuyển đổi có thể gây hại đối với người đồng tính. Ví dụ: Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ cảnh báo những bác sĩ thực hiện liệu pháp chuyển đổi có thể vi phạm lời thề Hippocrates.[52] Ngoài ra, các tổ chức y tế tuyên bố rằng liệu pháp chuyển đổi thường lợi dụng cảm giác tội lỗi, lo lắng của một người, làm tổn hại lòng tự trọng và dẫn đến trầm cảm, thậm chí là tự tử.[54]

Dư luận

[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hoa Kỳ, các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy hầu hết dư luận ủng hộ cấm liệu pháp chuyển đổi giới tính. Tính đến năm 2019 , không có cuộc thăm dò ý kiến nào được thực hiện trên cả nước, nhưng các cuộc khảo sát ở Florida, New MexicoVirginia cho thấy từ 60% đến 75% người trả lời ủng hộ cấm liệu pháp chuyển đổi. Theo một cuộc thăm dò năm 2014, chỉ 8% người trả lời tin rằng liệu pháp chuyển đổi có hiệu quả.[55]

Một cuộc thăm dò ý kiến của YouGov vào năm 2022 cho thấy đa số người dân Anh, Scotland và xứ Wales ủng hộ cấm liệu pháp chuyển đổi đối với xu hướng tình dục và bản dạng giới.[56]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Fenaughty, John; Tan, Kyle; Ker, Alex; Veale, Jaimie; Saxton, Peter; Alansari, Mohamed (tháng 1 năm 2023). "Sexual Orientation and Gender Identity Change Efforts for Young People in New Zealand: Demographics, Types of Suggesters, and Associations with Mental Health". Journal of Youth and Adolescence (bằng tiếng Anh). 52 (1): 149–164. doi:10.1007/s10964-022-01693-3. ISSN 0047-2891. PMC 9813061. PMID 36301377.
  2. ^ a b c d Higbee, Madison; Wright, Eric R.; Roemerman, Ryan M. (2022). "Conversion Therapy in the Southern United States: Prevalence and Experiences of the Survivors". Journal of Homosexuality. 69 (4): 612–631. doi:10.1080/00918369.2020.1840213. PMID 33206024. S2CID 227039714.
  3. ^ a b c d Drescher, Jack; Schwartz, Alan; Casoy, Flávio; McIntosh, Christopher A.; Hurley, Brian; Ashley, Kenneth; Barber, Mary; Goldenberg, David; Herbert, Sarah E.; Lothwell, Lorraine E.; Mattson, Marlin R.; McAfee, Scot G.; Pula, Jack; Rosario, Vernon; Tompkins, D. Andrew (2016). "The Growing Regulation of Conversion Therapy". Journal of Medical Regulation. 102 (2): 7–12. doi:10.30770/2572-1852-102.2.7. PMC 5040471. PMID 27754500.
  4. ^ a b Haldeman 2022, tr. 5.
  5. ^ Whisnant 2016, tr. 20.
  6. ^ "Conversion Therapy Online: The Ecosystem". Global Project Against Hate and Extremism. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
  7. ^ a b c Madrigal-Borloz, Victor. "Report on conversion therapy - Practices of so-called "conversion therapy"". United Nations Independent Expert on protection against violence and discrimination based on sexual orientation and gender identity. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
  8. ^ "Global ban needed on bogus 'conversion therapy', argues UN rights expert | UN News". United Nations (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
  9. ^ "Michael Ferguson, et al., v. JONAH, et al". Southern Poverty Law Center. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
  10. ^ ""I Don't Want to Change Myself": Anti-LGBT Conversion Practices, Discrimination, and Violence in Malaysia". Human Rights Watch (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 8 năm 2022.
  11. ^ a b c d Haldeman 2022, tr. 9.
  12. ^ Haldeman 2022, tr. 11.
  13. ^ Andrade, G.; Campo Redondo, M. (2022). "Is conversion therapy ethical? A renewed discussion in the context of legal efforts to ban it". Ethics, Medicine and Public Health. 20 100732. doi:10.1016/j.jemep.2021.100732.
  14. ^ a b Haldeman 1991
  15. ^ "Summary of Findings: A Review of Scientific Evidence of Conversion Therapy" (PDF). Minnesota Department of Health. ngày 11 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2023.
  16. ^ Davison, Kate (2021). "Cold War Pavlov: Homosexual aversion therapy in the 1960s". History of the Human Sciences. 34 (1): 89–119. doi:10.1177/0952695120911593. S2CID 218922981.
  17. ^ Spandler, Helen; Carr, Sarah (2022). "Lesbian and bisexual women's experiences of aversion therapy in England". History of the Human Sciences. 35 (3–4): 218–236. doi:10.1177/09526951211059422. PMC 9449443. PMID 36090521. S2CID 245753251.
  18. ^ Day, Elizabeth (ngày 13 tháng 1 năm 2008). "He was bad, so they put an ice pick in his brain..." The Observer. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017.
  19. ^ "Top 10 Fascinating And Notable Lobotomies". listverse.com. ngày 24 tháng 6 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2013.
  20. ^ Rowland, Lewis (tháng 4 năm 2005). "Walter Freeman's Psychosurgery and Biological Psychiatry: A Cautionary Tale". Neurology Today. 5 (4): 70–72. doi:10.1097/00132985-200504000-00020.
  21. ^ Rieber, Inge; Sigusch, Volkmar (1979). "Psychosurgery on sex offenders and sexual "deviants" in West Germany". Archives of Sexual Behavior (bằng tiếng Anh). 8 (6): 526. doi:10.1007/BF01541419. ISSN 1573-2800. PMID 391177. S2CID 41463669. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2023.
  22. ^ Schmidt 1985, tr. 133–134.
  23. ^ Lehring, Gary (2010). Officially Gay: The Political Construction Of Sexuality (bằng tiếng Anh). Temple University Press. tr. 63. ISBN 978-1-4399-0399-5.
  24. ^ Zinn 2020b, tr. 11–12.
  25. ^ Wachsmann 2015, tr. 147.
  26. ^ Weindling 2015, tr. 30.
  27. ^ Schwartz 2021, tr. 383.
  28. ^ Huneke, Samuel Clowes (2022). States of Liberation: Gay Men between Dictatorship and Democracy in Cold War Germany (bằng tiếng Anh). University of Toronto Press. tr. 53–54. ISBN 978-1-4875-4213-9.
  29. ^ a b "WPATH, ASIAPATH, EPATH, PATHA, and USPATH Response to NHS England in the United Kingdom (UK)" (PDF). WPATH. ngày 25 tháng 11 năm 2022. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  30. ^ Bharat, Bharat; Dopp, Alex; Last, Briana; Howell, Gary; Nadeem, Erum; Johnson, Clara; Stirman, Shannon Wiltsey (tháng 10 năm 2023). "OSF". The Behavior Therapist. 46 (7). Association for Behavioral and Cognitive Therapies: 261–270. doi:10.31234/osf.io/gz5mk. PMC 11661860. PMID 39713211. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  31. ^ a b c Lawson, Zazie; Davies, Skye; Harmon, Shae; Williams, Matthew; Billawa, Shradha; Holmes, Ryan; Huckridge, Jaymie; Kelly, Phillip; MacIntyre-Harrison, Jess; Neill, Stewart; Song-Chase, Angela; Ward, Hannah; Yates, Michael (tháng 10 năm 2023). "A human rights based approach to transgender and gender expansive health". Clinical Psychology Forum (bằng tiếng Anh). 1 (369): 91–106. doi:10.53841/bpscpf.2023.1.369.91. ISSN 1747-5732. S2CID 265086908. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  32. ^ a b Amery, Fran (ngày 11 tháng 12 năm 2023). "Protecting Children in 'Gender Critical' Rhetoric and Strategy: Regulating Childhood for Cisgender Outcomes". DiGeSt - Journal of Diversity and Gender Studies. 10 (2). doi:10.21825/digest.85309. ISSN 2593-0281. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  33. ^ a b Caraballo, Alejandra (tháng 12 năm 2022). "The Anti-Transgender Medical Expert Industry". Journal of Law, Medicine & Ethics (bằng tiếng Anh). 50 (4): 687–692. doi:10.1017/jme.2023.9. ISSN 1073-1105. PMID 36883410. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  34. ^ a b Ashley, Florence (ngày 6 tháng 9 năm 2022). "Interrogating Gender-Exploratory Therapy". Perspectives on Psychological Science. 18 (2): 472–481. doi:10.1177/17456916221102325. PMC 10018052. PMID 36068009. S2CID 252108965.
  35. ^ a b c MacKinnon, Kinnon R.; Gould, Wren Ariel; Enxuga, Gabriel; Kia, Hannah; Abramovich, Alex; Lam, June S. H.; Ross, Lori E. (ngày 29 tháng 11 năm 2023). "Exploring the gender care experiences and perspectives of individuals who discontinued their transition or detransitioned in Canada". PLOS ONE (bằng tiếng Anh). 18 (11): e0293868. Bibcode:2023PLoSO..1893868M. doi:10.1371/journal.pone.0293868. ISSN 1932-6203. PMC 10686467. PMID 38019738.
  36. ^ Pauly, Madison; Carnell, Henry (tháng 7 năm 2024). "First they tried to "cure" gayness. Now they're fixated on "healing" trans people". Mother Jones (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2024.
  37. ^ Leising, Julie (tháng 9 năm 2022). "Gender-affirming care for youth—separating evidence from controversy" (PDF). Bc Medic al Journal. 64 (7).
  38. ^ "France Passed Law To Protect LGBTQ People From 'Conversion Therapy'". LQIOO (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2023.
  39. ^ Legislative Services Branch (ngày 10 tháng 1 năm 2022). "Consolidated federal laws of canada, An Act to amend the Criminal Code (conversion therapy)". laws.justice.gc.ca. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2022.
  40. ^ Trispiotis, Ilias; Purshouse, Craig (2021). "'Conversion Therapy' As Degrading Treatment". Oxford Journal of Legal Studies. 42 (1): 104–132. doi:10.1093/ojls/gqab024. PMC 8902017. PMID 35264896.
  41. ^ "Conversion Therapy is Torture". International Rehabilitation Council for Torture Victims (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2021.
  42. ^ Canady, Valerie (2015). "New report calls for an end to 'conversion therapy' for youth". The Brown University Child and Adolescent Behavior Letter. 31 (12): 3–4. doi:10.1002/cbl.30088.
  43. ^ Lee, Cory (2022). "A Failed Experiment: Conversion Therapy as Child Abuse". Roger Williams University Law Review. 27 (1). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2022.
  44. ^ Christensen, Jen (ngày 8 tháng 3 năm 2022). "Conversion therapy is harmful to LGBTQ people and costs society as a whole, study says". CNN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2022.
  45. ^ a b Forsythe, Anna; Pick, Casey; Tremblay, Gabriel; Malaviya, Shreena; Green, Amy; Sandman, Karen (2022). "Humanistic and Economic Burden of Conversion Therapy Among LGBTQ Youths in the United States". JAMA Pediatrics. 176 (5): 493–501. doi:10.1001/jamapediatrics.2022.0042. PMC 8902682. PMID 35254391. S2CID 247252995.
  46. ^ thisisloyal.com, Loyal |. "LGB people who have undergone conversion therapy almost twice as likely to attempt suicide". Williams Institute (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2022.
  47. ^ "Health and Medical Organization Statements on Sexual Orientation, Gender Identity/Expression and 'Reparative Therapy'". Lambda Legal. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2017.
  48. ^ "Policy and Position Statements on Conversion Therapy". Human Rights Campaign. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2017.
  49. ^ "Memorandum of Understanding on Conversion Therapy in the UK" (PDF). United Kingdom Council for Psychotherapy. tháng 12 năm 2021. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2023.
  50. ^ Just the Facts About Sexual Orientation & Youth: A Primer for Principals, Educators and School Personnel (PDF), Just the Facts Coalition, 1999, lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2018, truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010
  51. ^ "Answers to Your Questions: For a Better Understanding of Sexual Orientation and Homosexuality". American Psychological Association. 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2015.
  52. ^ a b "Therapies Focused on Attempts to Change Sexual Orientation". Psych.org. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2011.
  53. ^ APA Maintains Reparative Therapy Not Effective, Psychiatric News (news division of the American Psychiatric Association), ngày 15 tháng 1 năm 1999, Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2008, truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2007
  54. ^ Luo, Michael (ngày 12 tháng 2 năm 2007), "Some Tormented by Homosexuality Look to a Controversial Therapy", The New York Times, tr. 1, lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2019, truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2007
  55. ^ Mallory, Christy; Brown, Taylor; Conron, Kerith (tháng 1 năm 2018). "Conversion Therapy and LGBT Youth" (PDF). The Williams Institute. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2021.
  56. ^ Kirk, Isabelle (ngày 3 tháng 5 năm 2022). "The majority of Welsh people support a ban on trans conversion therapy in Wales". YouGov (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2022.

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Haldeman, Douglas C. (2021). Sexual Orientation and Gender Identity Change Efforts: Evidence, Effects, and Ethics (bằng tiếng Anh). Columbia University Press. ISBN 978-1-939594-36-5.