Akhenaton

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Akhenaten ( /ˌækəˈnɑːtən/;[1] còn được viết là Echnaton,[7] Akhenaton,[8] Ikhnaton,[9] and Khuenaten;[10][11] có nghĩa là Người lính của Aten), ông còn được biết đến với tên gọi là Amenhotep IV (nghĩa là thần Amun hài lòng) trong giai đoạn trước năm trị vì thứ Năm, là một pharaon của vương triều thứ Mười tám của Ai Cập, ông đã cai trị 17 năm và có lẽ đã qua đời vào năm 1336 TCN hoặc 1334 TCN. Vương triều của ông đặc biệt được chú ý bởi việc từ bỏ tín ngưỡng đa thần giáo của Ai cập và chuyển sang thờ cúng một vị thần duy nhất - thần Mặt trời Aton, mà đôi khi được coi là chủ nghĩa độc thần, thuyết độc thần.

Akhenaten đã cố gắng tạo ra một sự thay đổi so với tôn giáo truyền thống, nhưng cuối cùng thì nó cũng sẽ không bao giờ được chấp nhận. Sau khi ông qua đời, các công trình của ông đã bị đập vỡ và phá hủy, những bức tượng của ông thì bị hủy hoại và tên của ông bị loại bỏ khỏi các bản danh sách vua[12]. Việc thực hành tôn giáo truyền thống đã được phục hồi một cách dần dần, và vài thập niên sau khi các vị vua mới không thuộc dòng dõi của vương triều thứ 18 thành lập nên một vương triều mới, họ đã bôi nhọ Akhenaten cùng những vị vua kế vị trực tiếp của ông, và nhắc đến Akhenaten như là "kẻ thù" hoặc "kẻ phạm tội đó" trong các hồ sơ lưu trữ[13].

Ông gần như hoàn toàn biến mất khỏi lịch sử cho đến khi được phát hiện lại vào thế kỷ 19 ở Amarna, thành phố mà ông đã xây dựng cho thần Aten.[14] Những cuộc khai quật thời kì đầu tại Amarna được tiến hành bởi Flinders Petrie đã khuấy động lên sự quan tâm đến vị vua bí ẩn cùng với đó là một xác ướp được tìm thấy trong ngôi mộ KV55, nó được Edward R. Ayrton khai quật vào năm 1907, xác ướp này có thể là của Akhenaten. Bằng phương pháp phân tích ADN, các nhà khảo cổ học đã xác định rằng người đàn ông được chôn cất trong ngôi mộ KV55 là cha của vua Tutankhamun,,[15] nhưng việc nhận dạng xác ướp này là Akhenaten lại vẫn đang chưa có lời giải[6][16][17][18][19]

Ngày nay, sự quan tâm dành cho Akhenaten và nữ hoàng Nefertiti phần nào đó có liên quan đến Tutankhamun (mặc dù người mẹ của Tutankhamun không phải là Nefertiti, mà là một phụ nữ được các nhà khảo cổ học gọi là Quý bà trẻ), và một phần đến từ phong cách độc đáo và giá trị thẩm mỹ cao của những tác phẩm nghệ thuật được ông bảo trợ, và một phần là từ sự quan tâm không ngừng dành cho tôn giáo mà ông đã cố gắng thiết lập.

Thời kì trì vì đầu tiên là Amenhotep IV[sửa | sửa mã nguồn]

Phù điêu miêu ta Amenhotep IV trước khi ông đổi tên thành Akhenaten, Bảo tàng Neues, Berlin

Vị vua Akhenaten trong tương lai là một người con trai của Amenhotep III và chính cung hoàng hậu Tiye. Con trai cả vốn là Thái tử Thutmose, được công nhận là người thừa kế của Amenhotep III, nhưng ông ta đã mất khi còn tương đối trẻ và người tiếp theo được kế vị ngai vàng là một hoàng tử tên là Amenhotep.[20]

Hiện nay có rất nhiều tranh cãi xung quanh việc Amenhotep IV đã kế vị ngai vàng sau khi vua cha Amenhotep III của cha ông qua đời hay là có một giai đoạn đồng nhiếp chính (theo một số nhà Ai Cập học là kéo dài 12 năm). Các tác phẩm hiện nay của Eric Cline, Nicholas Reeves, Peter Dorman cùng các học giả khác đã nêu ra những lập luận mạnh mẽ chống lại quan điểm về việc thiết lập một giai đoạn đồng nhiếp chính lâu dài giữa hai vị vua và ủng hộ quan điểm cho rằng không có hoặc là có một giai đoạn đồng nhiếp chính ngắn chỉ kéo dài từ một đến hai năm.[21] Các tác phẩm khác của Donald Redford, William Murnane, Alan Gardiner và gần đây là của Lawrence Berman vào năm 1998 đã bác bỏ bất cứ quan điểm nào về một giai đoạn đồng nhiếp chính nếu có giữa Akhenaten và cha của ông [22].

Tấm bảng đồng với vương hiệu của Amenhotep IV trước khi ông đổi tên thành Akhenaten, Bảo tàng Anh Quốc.

Vào tháng 2 năm 2014, Bộ cổ vật Ai Cập đã công bố bằng chứng thuyết phục cho thấy Akhenaten đã cùng đồng trị vì với vua cha trong ít nhất 8 năm. Bằng chứng này đến từ những chữ khắc được tìm thấy trong ngôi mộ Luxor của tể tướng Amenhotep-Huy.[23][24]

Amenhotep IV đã lên ngôi ở Thebes và ở đó ông đã bắt đầu một dự án xây dựng. Ông đã cho trang trí lối vào phía nam cho tới ngoại vi của ngôi đền Amun-Re với những cảnh ông đang thờ cúng Re-Harakhti. Ông cũng đã sớm ra lệnh xây dựng một ngôi đền dành riêng cho thần Aten ở phía đông Karnak. Ngôi đền này được gọi là Gempaaten ("Thần Aten được thấy trong lãnh địa của Aten"). Gempaaten còn gồm một loạt những công trình, bao gồm cả một cung điện và một cấu trúc gọi là Benben Hwt (đặt tên theo khối đá Benben) được dành riêng cho Nữ hoàng Nefertiti. Các ngôi đền thờ thần Aten khác được xây dựng tại Karnak trong thời gian này bao gồm Rud-menuTeni-menu, nó có thể đã được xây dựng gần tháp môn thứ chín. Trong thời gian này, ông đã không đàn áp tôn giáo thờ thần Amun, và vị Đại tư tế của thần Amun vẫn còn tại vị trong năm thứ tư dưới triều đại của ông.[20] Nhà vua còn hiện diện với tên gọi Amenhotep IV trong các ngôi mộ của một số quý tộc ở Thebes: Kheruef (TT192), Ramose (TT55) và ngôi mộ của Parennefer (TT188)[25].

Trong ngôi mộ của Ramose, Amenhotep IV xuất hiện trên bức tường phía tây theo phong cách truyền thống, ngồi trên một ngai vàng với Ramose xuất hiện phía trước nhà vua. Trong ngôi mộ Thebes của Parennefer, Amenhotep IVNefertiti đang ngồi trên ngai vàng cùng với đĩa mặt trời mô tả về vua và hoàng hậu.[25]

Một trong những ghi chép cuối cùng đề cập đến Amenhotep IV là hai bản sao của một bức thư từ viên Tổng quản của Memphis là Apy (hoặc Ipy) gửi tới pharaon. Những văn kiện này được tìm thấy ở Gurob và có niên đại là vào năm cai trị thứ 5, tháng thứ ba của mùa Trồng trọt, ngày 19.[26]

Đổi tên thành Akhenaten[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 13, Tháng 8, năm thứ năm dưới triều đại của mình, nhà vua đã đến địa điểm thành phố mới Akhetaten (ngày nay gọi là Amarna). Một tháng trước đó Amenhotep IV đã chính thức đổi tên thành Akhenaten.[20] Amenhotep IV cũng thay đổi hầu hết cả 5 tên hiệu của mình vào năm thứ 5 dưới triều đại của ông. Ông chỉ giữ lại tên prenomen của mình hoặc tên hiệu khi lên ngôi là Neferkheperure.[27]

Amenhotep IV Akhenaten
Tên Horus
E1
D40
N29 A28 S9

Kanakht-qai-Shuti

"Bò đực hùng mạnh của Hai chùm lông vũ"

i t
n
N5
mr

Meryaten

"Bò đực hùng mạnh, Tình yêu của Aten"

Tên Nebty
wr
r
sw t
n
i i m i t
p
Q1 t
Z2

Wer-nesut-em-Ipet-swt

"Vương quyền vĩ đại ở Karnak"

wr
r
sw i i Aa15
N27
i t
n
N5

Wer-nesut-em-Akhetaten

"Vương quyền vĩ đại ở Akhet-Aten"

Tên Horus vàng
U39 Y1 N28
Z2ss
m O28 W24
O49
M27

Wetjes-khau-em-Iunu-Shemay

"Vị vua của Heliopolis ở miền Nam" (Thebes)

U39 r
n
V10
n
i t
n
N5

Wetjes-ren-en-Aten

"Cao quý thay tên gọi của Aten"

Prenomen
ra nfr xpr Z3 ra
wa
n

Neferkheperure-waenre

"Đẹp thay khi là hình dáng Re, con người duy nhất của Re"

ra nfr xpr Z3 ra
wa
n

Neferkheperure-waenre
Nomen
i mn
n
Htp R8 S38 R19

Amenhotep Netjer-Heqa-Waset

"Amenhotep vị thần cai trị Thebes"

i t
n
ra
G25 x
n

Akhenaten

"Người lính của Aten"

Chính sách tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Mảnh vỡ với đồ hình của Akhenaten, theo sau là tên hiệu Vĩ đại trong suốt cuộc đời Ngài và tước hiệu của Nefertiti là Người Vợ Vĩ đại của đức vua. Triều đại của Akhenaten. Từ Amarna, Ai Cập. Bảo tàng khảo cổ học Ai Cập của Petrie, London
Pharaon Akhenaten (giữa) và gia đình của ông thờ cúng thần Aten.

Một số cuộc tranh luận gần đây của các nhà nghiên cứu đã tập trung vào mức độ của những cải cách tôn giáo mà Akhenaten đã áp dụng đối với người dân của mình.[28] . Một cách chắn chắn là theo thời gian dần trôi, ông đã sửa đổi tên của thần Aten cùng với các ngôn ngữ tôn giáo khác, để nhằm loại bỏ một cách dần dần những gì liên quan đến các vị thần khác; và vào một thời điểm nào đó, ông cũng đã bắt tay vào việc xóa bỏ tên của vị thần truyền thống trên quy mô lớn, đặc biệt là của thần Amun.[29]Một số vị quan của ông đã thay đổi tên của họ bằng cách loại bỏ tên của những vị thần bảo trợ khác ra khỏi tên của họ rồi thay thế bằng tên của thần Aten (hoặc thần Ra, vị thần được Akhenaten đồng nhất với Aten). Tuy nhiên, ngay cả ở chính Amarna, một số vị quan vẫn giữ lại những tên gọi như Ahmose ("con của thần mặt trăng", chủ nhân của ngôi mộ số 3), và xưởng điêu khắc nơi các nhà khảo cổ học tìm thấy bức tượng Nefertiti nổi tiếng cùng với các tác phẩm chân dung hoàng gia khác, lại có liên quan đến một nghệ sĩ có tên gọi là Thutmose ("con của thần Thoth"). Một số lượng lớn các lá bùa bằng sứ được tìm thấy ở Amarna còn cho thấy rằng những lá bùa của các vị thần sinh nở và gia đình là Bes và Taweret, con mắt của Horus, cùng những lá bùa của các vị thần truyền thống khác, vẫn được người dân đeo một cách công khai. Thật vậy, một hố chôn giấu những đồ trang sức hoàng gia đã được tìm thấy ngay gần các ngôi mộ hoàng gia ở Amarna (ngày nay chúng nằm tại Bảo tàng Quốc gia Scotland), trong số đó có một chiếc nhẫn đề cập đến Mut, vợ của thần Amun. Những bằng chứng như vậy cho thấy rằng mặc dù Akhenaten đã không còn ủng hộ về mặt tài chính cho những ngôi đền truyền thống nữa, chính sách của ông đã khá khoan dung cho đến một thời điểm nào đó, có lẽ là liên quan đến một sự kiện đặc biệt mà vẫn chưa được biết đến diễn ra vào giai đoạn cuối triều đại của ông.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Akhenaten, Nefertiti và con cái của họ

Akhenaten đã kết hôn với Nefertiti ngay sau khi ông lên ngôi, và sáu người con gái của họ đã được xác định thông qua những bản khắc đá. Và nhờ vào phương pháp phân tích ADN gần đây, các nhà nghiên cứu đã xác định được rằng một trong những chị em ruột của ông, xác ướp "Quý bà trẻ", là mẹ của Tutankhaten (sau này là Tutankhamen)[30]. Nguồn gốc của Smenkhkare, vị vua kế vị ông, hiện vẫn chưa được biết rõ và người ta cho rằng Akhenaten cùng với một người vợ chưa rõ danh tính là cha mẹ của vị vua này.

Một người vợ thứ hai của Akhenaten có tên là Kiya, và bà ta được biết đến từ những bản khắc đá. Có một số giả thuyết cho rằng bà là mẹ của Tutankhamen, Smenkhkare, hoặc cả hai.

Sau đây là danh sách những người con của Akhenaten (được biết đến và giả thuyết) cùng với năm sinh theo giả thuyết:

Những người vợ của ông được biết đến là:

Phù điêu bằng đá thạch cao tuyết hoa miêu tả Akhenaten, Nefertiti, và con gái Meritaten. Từ Amarna, Ai Cập. Bảo tàng khảo cổ học Ai Cập của Petrie, London

Có giả thuyết cho rằng Akhenaten có thể đã lấy một vài người con gái của ông làm vợ, để nhằm cố gắng sinh ra một người thừa kế nam với họ, nhưng điều này đã tạo ra sự tranh cãi gay gắt. Một điều dường như chắc chắn đó là giống như vua cha Amenhotep III, Akhenaten đã phong cho một người con gái của ông làm Người Vợ Hoàng Gia Vĩ đại, nhưng điều này không có nghĩa chỉ ra rằng bà ta là một người vợ của ông bởi vì đây cũng còn là một tước hiệu quan trọng mang tính nghi thức[33].

  • Meritaten được ghi lại là Người Vợ Hoàng gia Vĩ đại của Smenkhkare trong ngôi mộ của Meryre II ở Akhet-Aten. Tên của bà cũng đã được ghi lại bên cạnh tên của Vua Akhenaten và Vua Neferneferuaten cùng với tước hiệu Người Vợ Hoàng gia Vĩ đại trên một cái hộp nằm trong ngôi mộ của Tutankhamen. Những bức thư được các vị vua ngoại quốc gửi cho Akhenaten đã đề cập đến Meritaten như là 'Nữ chủ nhân của gia đình'.
  • Meketaten, người con gái thứ hai của Akhenaten. Meketaten đã qua đời trong khi sinh con và điều này đã được ghi lại trong các ngôi mộ hoàng gia của Amarna vào khoảng năm 13 hoặc 14. Bởi vì danh tính người chồng của bà vẫn chưa được biết đến, cho nên có giả thuyết cho rằng Akhenaten là cha của đứa trẻ này. Tuy nhiên, dòng chữ ghi lại huyết thống của đứa trẻ kia đã bị hư hỏng, do đó vấn đề này vẫn chưa thể được giải quyết.
  • Nhiều công trình kỷ niệm mà nguồn gốc ban đầu là dành cho Kiya, đã được khắc lại với tên của Meritaten và Ankhesenpaaten; những dòng chữ khắc được sửa lại này còn liệt kê một Meritaten-tasherit ("bé") và một Ankhesenpaaten-tisherit. Một số người cho rằng Akhenaten chính là cha của họ. Một số khác thì lại cho rằng bởi vì những người cháu nội này không được chứng thực ở bất cứ nơi nào khác, cho nên họ vốn không có thực và được tạo ra để nhằm lấp đầy chỗ trống mà ban đầu ghi lại tên những người con của Kiya.[34]

Những miêu tả về pharaon và gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tượng đá vôi của Akhenaten, Nefertiti, cùng một công chúa. Triều đại của Akhenaten. Từ Amarna, Ai Cập. Bảo tàng Khảo cổ học Ai cập của Petrie, London
Tấm thẻ Wilbour, khoảng năm 1352-1336 TCN, Bảo tàng Brooklyn, bức phù điêu này miêu tả Akhenaten cùng Nefertiti vào giai đoạn cuối triều đại của họ.

Các phong cách nghệ thuật đã phát triển rực rỡ trong suốt giai đoạn ngắn ngủi này có sự khác biệt một cách rõ ràng so với các phong cách nghệ thuật Ai Cập khác. Trong một số trường hợp, sự miêu tả trở nên tự nhiên hơn, đặc biệt là trong việc miêu tả động vật và thực vật, những người dân thường, và trong cách miêu tả hành động và cử chỉ với một ý nghĩa nào đó dành cho những người thuộc và không thuộc hoàng gia. Tuy vậy, các thành viên của triều đình mà đặc biệt là các thành viên của gia đình hoàng gia đã được miêu tả hết sức cách điệu, với những chiếc đầu dài, phần bụng lồi ra, hông to, cánh tay và chân thì lại mảnh khảnh, và những nét đặc trưng trên khuôn mặt được cường điệu hóa [35]. Đáng chú ý hơn nữa và cũng là thời kỳ duy nhất trong lịch sử nghệ thuật hoàng gia Ai Cập, gia đình của Akhenaten đã được miêu tả rõ ràng là đang thực hiện các hoạt động mang tính tự nhiên, thể hiện tình cảm đối với nhau và nắm tay nhau (trong nghệ thuật truyền thống, tính thần thánh của một vị pharaon được thể hiện thông qua sự thư thái, thậm chí bất động).

Nefertiti cũng xuất hiện trong các hoạt động thường vốn chỉ dành cho một pharaon, cả bên cạnh nhà vua và chỉ có một mình (hoặc với cùng với những người con gái), điều này cho thấy rằng bà đã có được một địa vị đặc biệt dành cho một nữ hoàng. Những miêu tả nghệ thuật thời kỳ đầu về bà thường tỏ ra khó có thể phân biệt được với những miêu tả về phu quân của bà, ngoại trừ những biểu trưng và y phục của bà, nhưng ngay sau khi chuyển đến kinh đô mới, Nefertiti bắt đầu được miêu tả với những đặc trưng riêng của mình.

Bức tượng nhỏ của Akhenaten đội vương miện chiến tranh màu xanh của Ai cập

Lý do tại sao hình dáng của Akhenaten lại được miêu tả một cách kì quặc, theo kiểu ái am ái nữ nổi bật đến như vậy, hiện vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Có giả thuyết cho rằng điều này mang mục đích về mặt tôn giáo, như là để mô phỏng lại vai trò sáng tạo của thần Aten, vị thần này được gọi là "mẹ và cha" của tất cả mọi thứ trong những lăng mộ ở Amarna. Hoặc là có giả thuyết khác cho rằng phong cách chân dung của Akhenaten (và gia đình của ông) đã phóng đại những đặc điểm thể chất khác biệt của ông. Trừ khi xác ướp của Akhenaten được xác định một cách chính xác, bằng không các giả thuyết như vậy vẫn chỉ là suy đoán. Một số học giả nhận định rằng xác ướp 61074 được tìm thấy trong ngôi mộ KV55, một ngôi mộ chưa được xây dựng xong ở Thung lũng các vị vua, chính là của Akhenaten[36]. Nếu điều này là thực hoặc xác ướp trong ngôi mộ KV55 là một người có quan hệ gần gũi về mặt huyết thống với ông, Smenkhkare, kích thước của nó có khuynh hướng ủng hộ cho giả thuyết rằng những miêu tả phóng đại về Akhenaten thực chất chính là diện mạo của ông. Mặc dù vậy, xác ướp này chỉ bao gồm những đoạn xương rời rạc, hộp sọ dài và có một cái cằm nhô lên, chân tay của xác ướp này thì nhẹ và dài. Năm 2007, Zahi Hawass và một nhóm các nhà nghiên cứu đã tiến hành chụp CT Scan đối với xác ướp 61074. Và với những đặc điểm như là phần xương sọ dài, xương má, khe hở hàm ếch cùng răng khôn mọc lệch, họ đã kết luận rằng xác ướp này là cha của Tutankhamun, và do vậy chính là Akhenaten .

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Akhenaten theo phong cách điển hình thời kỳ Amarna.

Những bức thư Amarna, một tập hợp của các thư từ ngoại giao được phát hiện tại el-Amarna (tên gọi hiện đại của thành phố Akhetaten), đã cung cấp bằng chứng quan trọng về triều đại và chính sách đối ngoại của Akhenaten. Những bức thư này bao gồm một tập hợp vô giá các bức thư được viết trên những tấm bảng bằng đất sét, chúng được gửi đến cho Akhetaten từ các vị vua chư hầu khác nhau thông qua các tiền đồn quân sự của Ai Cập và từ các vị vua ngoại quốc (được thừa nhận như là "Các vị Vua vĩ đại") của vương quốc Mitanni, Babylon, Assyria và của Hatti. Các viên thống đốc và những vị vua chư hầu của Ai Cập cũng thường xuyên viết thư để cầu xin vàng từ pharaon, và cũng than phiền rằng ông đã làm nhục và lừa dối họ.

Vào đầu triều đại của mình, Akhenaten đã mâu thuẫn với Tushratta, vua của Mitanni, vị vua này đã cầu xin sự ủng hộ từ vua cha của ông để nhằm chống lại người Hittite. Tushratta phàn nàn trong nhiều bức thư rằng Akhenaten đã gửi cho ông ta những bức tượng được mạ vàng thay vì những bức tượng được làm bằng vàng ròng; Bức thư Amarna EA 27 còn lưu giữ lời phàn nàn của Tushratta dành cho Akhenaten về tình cảnh trên:

"Ta ... đã thỉnh cầu cha của ngài Mimmureya về những bức tượng đúc bằng vàng ròng, một cái dành cho bản thân ta và một bức tượng thứ hai, một bức tượng của Tadu-Heba [Tadukhepa], con gái ta, và cha ngài nói rằng: "Đừng nói là chỉ tặng những bức tượng được đúc bằng vàng ròng. Ta sẽ tặng cho ngài một cái khác được làm từ ngọc lưu ly. Ta cũng sẽ tặng cho ngài, cùng với các bức tượng, thêm nhiều vàng và của cải [khác] vượt quá hạn mức". Bất cứ vị sứ giả nào của ta ở Ai Cập lúc đó đều đã nhìn thấy số vàng dành cho những bức tượng với đôi mắt của họ. Cha của ngài đã tự mình đúc lại các bức tượng với sự chứng kiến của các sứ giả của ta, và ngài ấy đã tạo nên chúng hoàn toàn bằng vàng ròng ...Ngài ấy còn cho họ thấy thêm nhiều vàng hơn nữa, mà đã vượt quá hạn mức những thứ mà ngài ấy đã gửi cho ta. Ngài ấy đã nói với những sứ giả của ta rằng: Nhà ngươi hãy nhìn xem, ở đây là những bức tượng, ở kia là số vàng và của cải vượt quá hạn mức mà ta gửi cho người anh em của mình. Và các sứ giả của ta đã nhìn thấy bằng chính đôi mắt của họ! Nhưng người anh em của ta [tức là Akhenaten] đã không gửi tặng những bức tượng vàng [ròng] mà cha của ngài đã định gửi tặng. Ngài đã gửi tới một bức tượng gỗ được mạ vàng.[37]

Trong khi Akhenaten chắc chắn không phải là một đồng minh thân cận của Tushratta, ông rõ ràng đã tỏ ra quan tâm đến sự mở rộng quyền lực của đế quốc Hittite dưới sự cai trị của vị vua hùng mạnh Suppiluliuma I. Người Hittite đã giành được một chiến thắng trước Mitanni và vị vua của nó là Tushratta và điều này đã phá vỡ toàn bộ cán cân quyền lực quốc tế ở khu vực Trung Đông Cổ đại tại thời điểm người Ai Cập đã thiết lập hòa bình với Mitanni; nó sẽ khiến cho một số chư hầu của Ai Cập ngả về phía người Hittite. Một nhóm các quốc gia đồng minh của Ai Cập đã cố gắng nổi dậy chống lại người Hittite và viết thư cầu xin Akhenaten gửi quân đội tới cứu viện, nhưng ông đã không đáp lại hầu hết các lời cầu xin của họ. Có các bằng chứng cho thấy rằng những lộn xộn ở biên giới phía Bắc đã gây ra sự bất ổn ở khu vực Canaan, đặc biệt trong cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa Labaya của Shechem với Abdi-Heba của Jerusalem, mà đã đòi hỏi pharaon phải can thiệp vào khu vực này bằng cách phái các đạo quân Medjay tiến về phía bắc. Akhenaten còn thẳng thừng từ chối giải nguy cho chư hầu của ông là Rib-Hadda của Byblos - vương quốc của ông ta đang bị vây hãm bởi vương quốc Amurru dưới thời trị vì của Abdi-Ashirta và sau này là Aziru, con trai của Abdi-Ashirta, bất chấp việc Rib-Hadda đã rất nhiều lần cầu cứu pharaon. Rib-Hadda đã viết tổng cộng 60 bức thư cho Akhenaten để cầu xin sự trợ giúp đến từ pharaon. Mệt mỏi vì phải nhận những bức thư liên tiếp đến từ Rib-Hadda, Akhenaten đã từng nói với Rib-Hadda rằng: "Nhà ngươi là người viết thư cho ta nhiều hơn tất cả các thị trưởng khác" hoặc là các chư hầu Ai Cập trong bức thư EA 124.[38]Rib-Hadda đã không hiểu được rằng vị vua Ai Cập sẽ không tổ chức và phái toàn bộ quân đội tiến về phía bắc chỉ để giữ nguyên vẹn hiện trạng chính trị của một số tiểu quốc nằm ở ven rìa phần lãnh thổ châu Á của Ai Cập[39]. Rib-Hadda cuối cùng sẽ phải trả giá cho điều này: ông ta đã bị trục xuất khỏi Byblos bởi một cuộc chính biến được tiến hành bởi người em trai là Ilirabih và việc này cũng đã được đề cập đến trong một bức thư. Sau khi khẩn cầu một cách vô vọng sự trợ giúp từ Akhenaten, Rib-Hadda đã quay sang cầu xin sự giúp đỡ của Aziru, kẻ thù truyền kiếp của ông ta, để nhằm giành lại ngai vàng cho bản thân mình, Aziru đã ngay lập tức đưa ông ta đến chỗ vị vua của Sidon, và gần như chắc chắn sau đó Rib-Hadda đã bị hành quyết[40].

William L. Moran [41]lưu ý rằng nội dung của hơn 380 bức thư Amarna lại trái ngược với quan điểm quy ước cho rằng Akhenaten đã bỏ qua các vùng lãnh thổ ở nước ngoài của Ai Cập và hướng sự quan tâm vào những cải cách ở trong nước của ông. Một số bức thư từ các chư hầu của Ai Cập báo tin cho vị pharaon biết được rằng họ đã làm theo những chỉ thị của ông:

Gửi tới đức vua, vị chúa tể của thần, vị thần của thần, mặt trời của thần, mặt trời từ trên trời cao: Thông điệp của Yapahu, người cai trị của Gazru, đầy tớ của ngài, cát bụi dưới chân ngài. Thần thực sự tự mình phủ phục dưới chân của đức vua, chúa tể của thần, vị thần của thần, mặt trời của thần ... 7 lần và 7 lần, trên bụng và ở trên lưng. Thần thực sự đang canh gác vùng đất của đức vua, vị chúa tể của thần, mặt trời của bầu trời, nơi thần đang ở, và tất cả những điều mà đức vua, vị chúa tể của thần, đã viết cho thần, thần thực sự đang thực hiện - tất cả mọi thứ! Vậy thần là ai, một con chó, và đâu là nhà của thần ... và bất cứ việc gì thần được sai khiến, mà là mệnh lệnh của đức vua, chúa tể của thần, mặt trời từ bầu trời, chẳng nhẽ lại không nên luôn luôn tuân theo? "(EA 378)[42]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Akhenaten”. dictionary.com. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2008. 
  2. ^ “Akhenaton”. Encyclopædia Britannica. 
  3. ^ Beckerath (1997) p.190
  4. ^ a ă Clayton (2006), p.120
  5. ^ a ă â b Dodson, Aidan, Amarna Sunset: Nefertiti, Tutankhamun, Ay, Horemheb, and the Egyptian Counter-Reformation. The American University in Cairo Press. 2009, ISBN 978-977-416-304-3, p 170
  6. ^ a ă “News from the Valley of the Kings: DNA Shows that KV55 Mummy Probably Not Akhenaten”. Kv64.info. 2 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2012. 
  7. ^ Dominic Montserrat, Akhenaten: History, Fantasy and Ancient Egypt, Psychology Press, 2003, pp 105, 111
  8. ^ “Akhenaton (king of Egypt) - Britannica Online Encyclopedia”. Britannica.com. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2012. 
  9. ^ Robert William Rogers, Cuneiform parallels to the Old Testament, Eaton & Mains, 1912, p 252
  10. ^ K.A Kitchen, On the reliability of the Old Testament, Wm. B. Eerdmans Publishing, 2003. p 486 Google Books
  11. ^ Joyce A. Tyldesley, Egypt: how a lost civilization was rediscovered, University of California Press, 2005
  12. ^ Lise Manniche, Akhenaten Colossi of Karnak (Cairo 6G: American University in Cairo Press, 2000), ix.
  13. ^ Trigger et al. (2001), pp.186-7
  14. ^ Egypt's Golden Empire: Pharaohs of the Sun (2002; New York, NY: PBS Distribution, 2009), Internet video.
  15. ^ “See the KV 55 Mummy & Tutankhamen”. Anubis4_2000.tripod.com. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2012. 
  16. ^ “Ancient DNA: Curse of the Pharaoh's DNA”. Nature 472: 404–406. doi:10.1038/472404a. 
  17. ^ NewScientist.com; January 2011; Royal Rumpus over King Tutankhamun's Ancestry
  18. ^ “King Tutankhamun’s Family and Demise”. JAMA 303: 2471. doi:10.1001/jama.2010.818. 
  19. ^ Bickerstaffe, D; The Long is dead. How Long Lived the King? in Kmt vol 22, n 2, Summer 2010
  20. ^ a ă â Aldred, Cyril, Akhenaten: King of Egypt,Thames and Hudson, 1991 (paperback), ISBN 0-500-27621-8 p 259-268
  21. ^ Reeves (2000) p.77
  22. ^ Berman (1998) p.23
  23. ^ -power-sharing-unearthed-egypt/ pharaon power-sharing unearthed in Egypt Daily News Egypt. ngày 6 tháng 2 năm 2014
  24. ^ Proof found of Amenhotep III-Akhenaten co-regency thehistoryblog.com
  25. ^ a ă Charles F. Nims, The Transition from the Traditional to the New Style of Wall Relief under Amenhotep IV, Journal of Near Eastern Studies, Vol. 32, No. 1/2 (Jan. - Apr., 1973), pp. 181-187
  26. ^ Murnane, William J., Texts from the Amarna Period in Egypt, Society of Biblical Literature, 1995 ISBN 1-55540-966-0 p 50-51
  27. ^ Dodson, Aidan, Amarna Sunset: Nefertiti, Tutankhamun, Ay, Horemheb, and the Egyptian Counter-Reformation. The American University in Cairo Press. 2009, ISBN 978-977-416-304-3 p 8, 170
  28. ^ Hornung, Erik (1 tháng 1 năm 1992). “The Rediscovery of Akhenaten and His Place in Religion”. Journal of the American Research Center in Egypt 29: 43–49. JSTOR 40000483. doi:10.2307/40000483. 
  29. ^ Allen, James P (2005). “Akhenaton”. Trong Jones, L. Encyclopedia of Religion. Macmillan Reference USA. tr. 217–221 – qua Gale Virtual Reference Library. 
  30. ^ Schemm, Paul (16 tháng 2 năm 2010). “A Frail King Tut Died From Malaria, Broken Leg”. USA Today. 
  31. ^ “The family of Akhenaton”. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2008. 
  32. ^ a ă Grajetzki, Ancient Egyptian Queens: A Hieroglyphic Dictionary, Golden House Publications, London, 2005, ISBN 978-0-9547218-9-3
  33. ^ Robins, G.; Women in Ancient Egypt, Harvard University Press (1993) p 21-27
  34. ^ Aidan Dodson & Dyan Hilton, The Complete Royal Families of Ancient Egypt, Thames & Hudson (2004), p.154
  35. ^ “The Age of Akhenaten”. 20 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017. 
  36. ^ S. McAvoy, "Mummy 61074: a Strange Case of Mistaken Identity", Antiguo Oriente 5 (2007): 183-194.
  37. ^ Moran (1992), pp.87-89
  38. ^ Moran (1992), p.203
  39. ^ Ross, Barbara (November–December 1999). “Akhenaten and Rib Hadda from Byblos”. Saudi Aramco World 50 (6): 30–35. 
  40. ^ Bryce (1998), p.186
  41. ^ Moran, (William L.) The Amarna Letters, Johns Hopkins University Press, 1992. p.xxvi
  42. ^ Moran (2003) pp.368-69

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jürgen von Beckerath, Chronologie des pharaon ischen Ägypten. Philipp von Zabern, Mainz, (1997)
  • Berman, Lawrence. 'Overview of Amenhotep III and His Reign,' and Raymond Johnson, 'Monuments and Monumental Art under Amenhotep III' in 'Amenhotep III: Perspectives on his Reign' 1998, ed: David O'Connor & Eric Cline, University of Michigan Press, ISBN 0-472-10742-9
  • Rosalie David, Handbook to Life in Ancient Egypt, Facts on File Inc., 1998
  • Edward Chaney, 'Freudian Egypt’, The London Magazine, April/May 2006, pp. 62–69.
  • Edward Chaney,‘Egypt in England and America: The Cultural Memorials of Religion, Royalty and Revolution’, in Sites of Exchange: European Crossroads and Faultlines, eds. M. Ascari and A. Corrado (Amsterdam, Rodopi, 2006), pp. 39–69.
  • Peter Clayton, Chronicle of the pharaon s, Thames and Hudson, 2006
  • Trigger, B.G, Kemp, B.G, O'Conner, D and Lloyd, A.B (2001). Ancient Egypt, A Social History. Cambridge: Cambridge University Press. 
  • William L. Moran, The Amarna Letters, Johns Hopkins University Press, 1992
  • Trevor Bryce, The Kingdom of the Hittites, Clarendon Press, 1998.
  • A.R. Schulman, "The Nubian War of Akhenaten" in L'Egyptologie en 1979: Axes prioritaires de recherchs II (Paris: 1982)
  • James H. Allen (2006). “The Amarna Succession” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2008. 
  • Nicholas Reeves, Akhenaten: Egypt's False Prophet, Thames & Hudson, 2000
  • Montserrat, Dominic (2000). Akhenaten: History, Fantasy and ancient Egypt. Routledge. OCLC 0-415-30186-6. 
  • Kozloff, Arielle (2006). “Bubonic Plague in the Reign of Amenhotep III?”. KMT 17 (3). 
  • Choi B, Pak A (2001). “Lessons for surveillance in the 21st century: a historical perspective from the past five millennia”. Soz Praventivmed 46 (6): 361–8. PMID 11851070. doi:10.1007/BF01321662. 
  • Shortridge K (1992). “Pandemic influenza: a zoonosis?”. Semin Respir Infect 7 (1): 11–25. PMID 1609163. 
  • Webby R, Webster R (2001). “Emergence of influenza A viruses”. Philos Trans R Soc Lond B Biol Sci 356 (1416): 1817–28. PMC 1088557. PMID 11779380. doi:10.1098/rstb.2001.0997. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Aldred, Cyril (1991) [1988]. Akhenaten: King of Egypt. Thames & Hudson. ISBN 0-500-27621-8. 
  • Aldred, Cyril (1973). Akhenaten and Nefertiti. London: Thames & Hudson. 
  • Aldred, Cyril (1984). The Egyptians. London: Thames & Hudson. 
  • Bilolo, Mubabinge (2004) [1988]. “Sect. I, vol. 2”. Le Créateur et la Création dans la pensée memphite et amarnienne. Approche synoptique du Document Philosophique de Memphis et du Grand Hymne Théologique d'Echnaton (bằng tiếng Pháp) . Munich-Paris: Academy of African Thought. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]