Neferirkare Kakai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Neferirkare Kakai là vị pharaon thứ ba thuộc Vương triều thứ 5 của Ai Cập cổ đại. Ông đã kế vị vua cha là Sahure và sau đó được kế vị bởi người con trai là Neferefre. Tên prenomen của ông, Neferirkare, có nghĩa "Đẹp thay khi là linh hồn của Ra"[2] Tên Horus của ông là Userkhau,[3]; tên Horus vàng của ông là Sekhemunebu và tên Nebti là Khaiemnebty.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Trước kia một số nhà Ai Cập học cho rằng ông là con trai của Userkaf với Khentkaus I.[4] Tuy nhiên, ngày nay điều này được xem là không còn chính xác: những bức phù điêu từ con đường đắp của Sahure cho thấy rằng cha của ông chính là Sahure và mẹ của ông có lẽ là Nữ hoàng Meretnebty[5]. Một giả thuyết khác còn cho rằng Neferirkare có thể chính là hoàng tử Ranefer khi ông còn trẻ, và có một người anh em sinh đôi tên là Netjerirenre, sau này ông ta có thể đã trở thành pharaon với tên gọi là Shepseskare[6].

Neferirkare đã cưới nữ hoàng Khentkaus II và có hai người con trai với bà, cả hai vị hoàng tử này sau đó đều đã trở thành pharaon: Ranefer - với tên gọi là Neferefre và Niuserre[4].

Triều đại[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay có ít thông tin được biết đến về triều đại của ông. Bản tóm tắt của Manetho ghi lại rằng Neferirkare trị vì trong 20 năm nhưng trên tấm bia đá Palermo chỉ còn lưu giữ lại năm diễn ra lần kiểm kê gia súc thứ năm của ông (năm thứ 9 nếu như nó được tiến hành hai năm một lần).[7] Những năm tiếp theo của ông đã không còn nữa. Tuy nhiên, nhà Ai Cập học người Czech Miroslav Verner lại cho rằng triều đại của ông không thể kéo dài đến 20 năm bởi vì phức hợp kim tự tháp tại Abusir của Neferirkare vẫn chưa được hoàn thiện.

Bởi vì biên niên sử được ghi lại trên tấm bia đá Palermo kết thúc vào khoảng dưới triều đại của Neferirkare, cho nên một số học giả đã đưa ra giả thuyết cho rằng nó có thể đã được biên soạn trong suốt triều đại của ông. Tuy nhiên, bằng chứng nằm ở phía bên kia của bia đá này lại ngụ ý rằng văn kiện trên còn bao gồm cả các triều đại của những vị vua sau này thuộc thời kỳ Cổ Vương quốc. Do đó, có thể Biên niên sử này đã được biên soạn dưới triều đại của Nyuserre Ini, vị vua đã có một triều đại lâu dài và là vị vua thứ ba kế vị Neferirkare, sau những triều đại ngắn ngủi của ShepseskareNeferefre.

Một chiếu chỉ về việc miễn đi phu cho toàn thể những người phục vụ trong một ngôi đền cho thấy rằng tất cả mọi người đều phải đóng thuế và điều này là một điều luật chung.

Ngôi đền tang lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Dựa vào quy mô to lớn của khu phức hợp tang lễ tại Abusir, chúng ta biết được rằng ông là một vị vua quan trọng, tuy nhiên do những thông tin về triều đại của ông trên tấm bia đá Palermo đã bị mất cho nên triều đại của ông hiện vẫn chưa được biết rõ. Kim tự tháp của Neferirkare Kakai (nơi chôn cất của nhà vua) ban đầu được thiết kế như là một kim tự tháp bậc thang với 6 bậc và có chiều cao là 52 m, nhưng sau đó nó đã được biến đổi để trở thành một kim tự tháp điển hình và đạt đến độ cao 72 m. Khu phức hợp tang lễ của nó thì lại chưa được hoàn thành, và chỉ có một phần của ngôi đền tang lễ thấp hơn đã được hoàn thành trước, do đó người ta cho rằng dự án này đã bị hủy bỏ.

Tính cách[sửa | sửa mã nguồn]

Có một điều đáng chú ý về triều đại của Neferirkare đó là có một số lượng đáng kể những ghi chép đương thời còn sót lại đã mô tả ông như là một vị vua nhân từ và tử tế. Khi Rawer, một nhà quý tộc già cả và còn là một triều thần, đã vô tình bị chiếc quyền trượng của nhà vua đụng vào trong một nghi lễ tôn giáo - một tình huống nguy hiểm có thể khiến cho viên đại thần này bị xử tử hoặc bị miễn quan bởi vì Pharaon luôn được coi như một vị thần sống vào thời kỳ Cổ vương quốc- Neferirkare đã nhanh chóng xá tội cho Rawer và ra lệnh không được trừng phạt viên đại thần này vì tai nạn trên[8].

Tương tự như vậy, Neferirkare đã ban cho vị tư tế của Ptah là Ptahshepses một vinh dự chưa từng có đó là được hôn lên chân của ông.[9] Và khi viên tể tướng Washptah bị một cơn đột quỵ ngay trong buổi thiết triều, nhà vua đã nhanh chóng triệu tập các quan thái y của hoàng cung để chữa trị cho viên tể tướng của mình. Khi Weshptah qua đời, Neferirkare được thuật lại là quá đau buồn và đã lui về tẩm cung của ông để than khóc cho người bạn đã khuất của mình. Nhà vua đã ra lệnh rằng lễ tẩy uế thân xác của Weshptah phải được tiến hành dưới sự chứng kiến của ông và cho chế tác một chiếc quan tài bằng gỗ mun dành cho viên tể tướng quá cố.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Shaw, Ian biên tập (2000). The Oxford History of Ancient Egypt. Oxford University Press. tr. 480. ISBN 0-19-815034-2. 
  2. ^ Peter Clayton, Chronicles of the pharaon s, Thames & Hudson Ltd, 1994. p.61
  3. ^ I. E. S. Edwards, ed., The Cambridge Ancient History, part Two, ISBN 0521077195
  4. ^ a ă Aidan Dodson & Dyan Hilton, The Complete Royal Families of Ancient Egypt, Thames & Hudson (2004)
  5. ^ El-Awady, T., Abusir XVI. The Pyramid Causeway. History and Decoration Program In The Old Kingdom, Charles University in Prague, Prague (2009), 246f., 170f. idem. in Art and Archaeology: ‘King Sahura with the precious trees from Punt in a unique scene!’, in Bárta, M. (ed.), Art and Archaeology of the Old Kingdom, Czech Institute of Egyptology, Prague (2005), pp. 37–44; idem. in Abusir and Saqqara 2005: ‘The royal family of Sahura: New evidence’, in Bárta, M., Coppens, F. & Krejčí, J. (eds.), Abusir and Saqqara in the Year 2005, Czech Institute of Egyptology, Prague (2006), pp. 205–232.
  6. ^ New Archaeological Discoveries in the Abusir Pyramid Field - by Miroslav Verner: Sahure's Causeway (2007)
  7. ^ Miroslav Verner, Archaeological Remarks on the 4th and 5th Dynasty Chronology, Archiv Orientální, Volume 69: 2001, p.393
  8. ^ Erik Hornung, "The Pharaoh" in Sergio Donadoni's The Egyptians, University of Chicago Press, 1997, p.288
  9. ^ Miroslav Verner, The Pyramids, Grove Press. New York, 2001, p.269