Pepi I Meryre

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search

Pepi I Meryre (2332 - 2283 TCN) là vị pharaon thứ ba của Vương triều thứ 6 của Ai Cập cổ đại thời Cổ vương quốc. Pepi là con trai của pharaon TetiIput. Ông lên ngôi sau khi pharaon Userkare qua đời. Ông cai trị được 49 năm rồi mất, con trai là Merenre I lên ngôi. Pepi I là chủ nhân của một kim tự tháp ở Nam Saqqara (nay đã sụp đổ).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Pepi là con trai của Teti và Iput, con gái của Unas, vị pharaon cuối cùng của vương triều trước. Ông đã phải nhờ đến sự ủng hộ của các thế lực cát cứ hùng mạnh ở Thượng Ai cập để lật đổ tên cướp ngôi Userkare, kẻ đã giết hại cha của ông và giành lại ngai vàng cho chủ nhân đích thực của nó. Những thế lực này sẽ vẫn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến triều đình của ông sau này.

Hai người vợ quan trọng nhất của ông và là các bà mẹ của hai người kế vị của ông (Merenre Nemtyemsaf IPepi II) là Ankhesenpepi IAnkhesenpepi II. Những người vợ khác được biết đến bao gồm Meryetites IV, NebwenetInenek-Inti, họ được chôn trong các kim tự tháp liền kề với của Pepi, và Mehaa, người được biết đến trong lăng mộ của Hornetjerkhet con trai bà, ngoài ra còn có một nữ hoàng tên là Nedjeftet, được đề cập tới trên những mảnh phù điêu vỡ. Ông cũng đã có một con trai tên là Teti-Ankh và hai con gái, Iput và Neith, cả hai đã trở thành vợ của Pepi II.[2]

Triều đại[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại của Pepi I đã được ghi dấu ấn bởi sự bành trướng mạnh mẽ tới Nubia, mở rộng giao thương tới các khu vực xa xôi như Liban và bờ biển Somalia, nhưng cũng còn bởi quyền lực đang ngày càng tăng lên của giai cấp quý tộc. Một trong những vị quan của nhà vua tên là Weni đã chiến đấu ở châu Á thay mặt cho ông. Khu phức hợp tang lễ của Pepi, Mennefer Pepy , cuối cùng đã trở thành tên cho toàn bộ thành phố Memphis dưới vương triều thứ 18.[3]

Người ta thường cho rằng sự suy yếu của Cổ vương quốc bắt đầu xuất hiện dưới thời Pepi, với việc các nomarch (người đại diện cho nhà vua ở các vùng đất) đã trở nên hùng mạnh hơn và có nhiều ảnh hưởng hơn. Pepi I đã kết hôn với 2 chị em -Ankhesenpepi I và II - họ là con gái của Khui, một quý tộc từ Abydos với Quý Bà Nebet, bà ta đã được phong làm tể tướng của thượng Ai Cập.[4] Pepi còn phong cho em trai của họ là Djau làm tể tướng sau này. Cả hai chị em đều có ảnh hưởng sâu rộng và con của họ sau này đều trở thành pharaon.

Độ dài triều đại[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc bình lễ vật của Pepi I. Nó dường như đã được sử dụng để kỷ niệm lễ hội Heb Sed của vị vua này

Một phân tích được thực hiện đối với văn kiện Biên niên sử trên tấm bia đá Nam Saqqara bị hư hại của vương triều thứ Sáu đã xác định cho ông một triều đại khoảng 48-49 năm nhưng điều này không được xác nhận bởi bản danh sách vua Turin mà dường như ấn định cho ông là 44 năm, theo như phân tích của nhà Ai Cập học người Đan Mạch Kym Ryholt đối với cuộn giấy cói này[5].Đã có một số nghi ngờ về việc liệu rằng phương pháp kiểm kê gia súc theo kỳ hạn đã được tiến hành hai năm một lần một cách chặt chẽ hay mang tính bất thường nhiều hơn. Tình huống thứ hai dường như là trường hợp được nêu đến trong dòng chữ khắc nổi tiếng Năm sau lần kiểm kê thứ 18, ngày 27 tháng thứ 3 của Shemu đến từ Wadi Hammamat No. 74-75, mà đề cập đến "lễ hội Heb Sed lần đầu tiên" trong năm đó cho Pepi. [6]Cũng như là một Năm sau lần kiểm kê thứ 18, ngày thứ 5 tháng thứ 4 của Shemu trên hình vẽ số 106 ở Sinai được nhà Ai Cập học người Pháp Michel Baud chú giải trong một cuốn sách vào năm 2006 về niên đại của Ai Cập [7]. Đây sẽ là năm thứ 36 nếu phương pháp với kỳ hạn hai năm một lần được sử dụng. Thông tin này rất quan trọng bởi vì lễ hội Heb Sed luôn được tổ chức vào năm trị vì thứ 30 của nhà vua. Nếu Pepi I sử dụng phương pháp kiểm kê cứ mỗi hai năm một lần dưới triều đại của mình, thì những chữ khắc Hed Sed này thay vào đó phải có niên đại là vào năm sau lần kiểm kê thứ 15. Điều này có thể gợi ý rằng việc kiểm kê gia súc dưới thời vương triều thứ 6 đã không diễn ra thường xuyên hai năm một lần. Tuy nhiên, Michel Baud nhấn mạnh rằng năm thứ 18 vẫn được bảo quản trong tấm bia đá Nam Saqqara và viết rằng:

Bình đựng thuốc mỡ kỷ niệm lễ hội Sed đầu tiên của Pepi I, Musée du Louvre. Dòng chữ khắc đọc là : Vua của Thượng và Hạ Ai Cập Meryre, mong cho Ngài được ban cho cuộc sống mãi mãi. Nhân dịp lễ hội Sed lần thứ nhất.[8]
"Ở giữa sự đề cập đến lần kiểm kê thứ 18 [ở đây] và cách thức của thông điệp kế tiếp thuộc về lần kiểm kê thứ 19, kết thúc danh sách D, khoảng trống sẵn có dành cho lần kiểm kê thứ 18+ mà dự kiến là chỉ bằng một nửa so với kích thước tiêu chuẩn của ô [năm kiểm kê] theo lý thuyết. Thật khó để tin rằng một khoảng trống chật hẹp như vậy lại tương ứng với lễ kỷ niệm 30 năm, mà rõ ràng là có tầm quan trọng đáng kể cho vị vua này (và tất cả các vị vua khác) "[9].

Baud lưu ý rằng có một xu hướng trong giai đoạn cai trị của vị vua này đó là việc đề cập đến lễ kỷ niệm đầu tiên được lặp đi lặp lại nhiều lần trong những năm tiếp theo sau lễ kỷ niệm - mà có liên quan đến hoạt động xây dựng nhộn nhịp tại khu phức hợp tang lễ của nhà vua cho đến tận cuối triều đại của Pepi I vào lúc niên đại cao nhất của vị pharaon này - Năm của lần kiểm kê thứ 25, tháng thứ nhất của Akhet, ngày [bị mất] - xuất hiện trên bản khắc Hatnub số 3 [10]; Lần kiểm kê thứ 25 cuối cùng của vị vua này cũng đã liên kết một cách nổi bật với lễ kỉ niệm hoàng gia đầu tiên của Pepi I [9]. Bia đá Nam Saqqara đã xác nhận rằng năm trị vì cuối cùng của Pepi I là năm diễn ra lần kiểm kê thứ 25 của ông.

Do đó, việc nhắc đến lễ kỉ niệm lần đầu tiên của Pepi I mà được tổ chức vào năm diễn ra lần kiểm kê gia súc thứ 18 của ông có thể chỉ là một phần của xu hướng hoàng gia này nhằm để nhấn mạnh vào những năm tiếp theo sau khi lễ kỷ niệm đầu tiên của vua được tổ chức, cả Michel Baud và F. Raffaele đều lưu ý rằng ô năm dài nhất trên bia đá Nam Saqqara xuất hiện "tại đoạn đầu của danh sách D. Một cách tình cờ, ô [năm] này hoàn toàn phù hợp với năm 30/31, nếu một hệ thống đếm số cứ mỗi hai năm một cách chính xác được cho là" dưới thời của Pepi I [9](nghĩa là lần thứ 15). Do đó, những lần kiểm kê gần như có thể là hai năm một lần trong suốt thời trị vì của Pepi I và việc nhắc đến năm trị vì cuối cùng của ông - lần kiểm kê thứ 25 - ngụ ý rằng ông đã trị vì suốt 49 năm.

Công trình kỷ niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tượng đồng nhỏ hơn của Merenre hoặc Pepi I

Hai bức tượng đồng của Pepi I và con trai ông Merenre đã được tìm thấy tại Hierakonpolis; người ta cho rằng chúng mô tả một cách tượng trưng hai vị vua "đang giẫm chân lên Chín cây cung", một sự mô tả mang tính cách điệu về việc Ai Cập chinh phục các dân tộc ngoại quốc [3]. Những bức tượng hiếm có này được tìm thấy tại một trong những kho chứa ngầm dưới lòng đất của ngôi đền Nekhen "cùng với bức tượng của vua Khasekhemwy (vương triều thứ hai) và một con sư tử con bằng đất nung được tạo ra trong thời kỳ Thinite". [11] Các bức tượng này đã được tháo rời và nhét vào bên trong lẫn nhau, chúng được bịt kín bằng một lớp đồng mỏng có khắc tên và tước hiệu của Pepi I "vào ngày đầu tiên của lễ kỉ niệm" hoặc ngày lễ Heb Sed [12]. Trong khi danh tính của nhân vật trưởng thành lớn hơn được tiết lộ là Pepi I thông qua dòng chữ khắc, danh tính của bức tượng nhỏ hơn và trẻ hơn vẫn chưa được giải quyết. [12]Giả thuyết phổ biến nhất đó là bức tượng nhỏ hơn là của Merenre.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1] VIth Dynasty
  2. ^ Bản mẫu:Dodson, pp.72-72
  3. ^ a ă Grimal, p.84
  4. ^ Kanawati,p173
  5. ^ Kim SB Ryholt, 'The Turin King-List' in The Political Situation in Egypt during the Second Intermediate Period, CNI Publications, (Museum Tusculanum Press: 1997), pp.13-14
  6. ^ Anthony Spalinger, Dated Texts of the Old Kingdom, SAK 21: 1994, p.303
  7. ^ Michel Baud, The Relative Chronology of Dynasties 6 and 8 in Erik Hornung, Rolf Krauss & David Warburton (editors), Ancient Egyptian Chronology (Handbook of Oriental Studies), Brill, 2006., p.148
  8. ^ Nigel C. Strudwick, Ronald J. Leprohon: Texts from the Pyramid Age, ISBN 9004130489.
  9. ^ a ă â Baud, p.150
  10. ^ Spalinger, p.304
  11. ^ Alessandro Bongioanni & Maria Croce (ed.), The Treasures of Ancient Egypt: From the Egyptian Museum in Cairo, Universe Publishing, a division of Ruzzoli Publications Inc., 2001. p.84
  12. ^ a ă Bongioanni & Croce, p.84

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]