Tân Vương quốc Ai Cập

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thời kỳ Tân Vương quốc của Ai Cập
Bắt đầu từ 1550 TCN – 1077 TCN
Tân Vương quốc ở mức độ lãnh rộng lớn nhất trong thế kỷ 15 trước Công nguyên.
Thủ đô
  • Thebes
    (1550 – c. 1352 TCN, Vương triều XVII và XVIII trước thời của Akhenaten)
  • Akhetaten
    (từ năm 1352 – 1336 TCN, Akhenaten thuộc Vương triều XVIII)
  • Thebes
    (1336 – 1279 TCN, Vương triều XVIII và XIX trước khi Ramesses II)
  • Pi-Ramesses
    (1279 – 1213 TCN, Ramesses II của Vương triều XIX)
  • Memphis
    (1213 – 1077 TCN, Vương triều XIX bắt đầu với Merneptah và Vương triều XX)
Ngôn ngữ Ancient Egyptian, Nubian, Canaanite
Tôn giáo
Nhà nước Quân chủ chuyên chế cổ đại
pharaon
1550 TCN – 1525 TCN Ahmose I (đầu)
1107 TCN –1077 TCN Ramesses XI (cuối)
Lịch sử
Thành lập năm 1550 TCN
Kết thúc năm 1077 TCN
Tiền vương triều Hậu vương triều
Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai của Ai Cập
Vương quốc Kerma
Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba của Ai Cập
Vương quốc Kush
Chi phái Judah
Hiện nay là một phần của Ai Cập
Sudan
Palestine
Israel
Libăng
Syria
Jordan
Thổ Nhĩ Kỳ

Tân Vương quốc Ai Cập (còn được gọi là Đế quốc Ai Cập) là một giai đoạn lịch sử của Ai cập cổ đại kéo dài từ giữa thế kỷ thứ 16 trước Công nguyên đến thế kỷ 11 trước Công nguyên, bao gồm các vương triều là Mười tám, Mười chínHai mươi. Xác định niên đại bằng phóng xạ cacbon cho thấy thời điểm chính xác bắt đầu thời kỳ Tân Vương quốc là từ khoảng năm 1570-1544 trước Công nguyên.[1] Thời kỳ Tân Vương quốc đã nối tiếp thời kỳ Chuyển tiếp thứ hai trước đó và sau đó nó được nối tiếp bởi thời kỳ Chuyển tiếp thứ ba. Đây là vương quốc thịnh vượng nhất trong lịch sử Ai Cập và đánh dấu sự đỉnh cao quyền lực của các vị pharaon.[2]

Giai đoạn sau của thời đại này, dưới sự cai trị của Vương triều thứ Mười Chín và Hai Mươi (1292-1069 TCN) còn được biết đến với tên gọi khác là Thời kỳ Ramesside. Nó được đặt tên theo tên của vua Ramesses I, người sáng lập ra vương triều thứ 19.

Có thể đây là kết quả của các quy tắc đối ngoại với Hyksos trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai của Ai Cập, Tân Vương quốc đã cố gắng nỗ lực để tạo ra một vùng đất rộng giữa Levant và Ai Cập và đạt mức độ lãnh thổ lớn nhất. Tương tự như vậy để đáp ứng sự phát triển rất thành công trong thế kỷ 17 TCN, họ đã tấn công mạnh mẽ vào Vương quốc Kush,[3] Vương quốc Kush bị tấn công, họ buộc phải mở rộng lãnh thổ xa về phía nam, vào Nubia và giữ rộng lãnh thổ ở vùng Cận Đông. Quân đội Ai Cập đã chiến đấu với người Hittite, ngày nay thuộc Syria.

Vương triều thứ Mười tám[sửa | sửa mã nguồn]

Vương triều thứ Mười tám thành lập sau khi vua Ahmose I đánh bại quân xâm lược Hyksos, khôi phục nền độc lập của Ai Cập. Nối tiếp Ahmose I, các vua Amenhotep I, Thutmose I, Thutmose II và nữ hoàng Hatshepshut liên tục cất quân đánh LevantNubia, mở rộng bờ cõi. Các vua còn đẩy mạnh phát triển thương mại quốc tế qua việc gửi sứ giả thương mại đến xứ Punt.

Ai Cập đạt được đỉnh cao về sức mạnh chính trị, quân sự dưới thời vua Thutmose III (được mệnh danh là "Napoleon của Ai Cập"). Thutmose cải tiến quân đội, nhiều lần đích thân đi đánh Canaan, Syria, MitanniNubia. Đến thời Amenhotep III, Ai Cập hòa bình và phồn thịnh chưa từng có. [4]

Một trong những vị pharaon nổi tiếng nhất Vương triều thứ 18Amenhotep IV, người đã thay đổi tên của mình thành Akhenaten trong danh dự của vị thần Aten. Akhenaten rất tín nhiệm tôn giáo của mình và độc quyền trong sự thời cúng, là trích dẫn cho lý do tại sao ông sau đó đã bị xóa tên ra khỏi lịch sử Ai cập. Dưới vương triều của mình, trong thế kỷ 14 trước Công nguyên, nền nghệ thuật của Ai cập phát triển rất mạnh và đạt được mức độ chưa từng có.

Vào cuối vương triều này, tình hình trong nước và ngoài nước đã thay đổi hoàn toàn. Được tiếp tay bởi sự lơ đễnh các vấn đề đối ngoại của Akhenaten, quân Hatti nhiều đánh phá, lán chiếm các vùng đất không được quan tâm của Ai Cập. Hatti thu được PhoeniciaCanaan để trở thành một cường quốc về chính trị, một sức mạnh mà cả hai Seti I và con trai của ông là Ramses II sẽ phải đối phó mệt nhọc trong Vương triều thứ 19.

Vương triều thứ Mười chín[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ của Ai Cập cổ đại trong vương triều thứ 19 và sự suy tàn vương quốc, khoảng thời gian của các cuộc nội chiến (1274 TCN).

Vương triều thứ Mười chín của Ai cập được thành lập bởi tể tướng Ramesses I và cha ông là Seti I, sau thời của pharaon Horemheb. vương triều này nổi tiếng với cuộc chinh phạt ở Canaan.[5]

Các pharaon trong vương triều 19 cai trị trong khoảng 118 năm: từ 1292 đến 1187 TCN. Seti I là người sáng lập ra vương triều này và được coi là đã cai trị trong 11 năm hoặc 15 năm, xác nhận bởi cả hai nhà sử học J. von Beckerath và Peter Brand, người đã viết một cuốn tiểu sử về pharaon, do đó, nó sẽ được sửa đổi bắt đầu từ 11 năm hay năm 1290-1279 trước công nguyên. Vì vậy, Seti I và người tiền nhiệm đã cai trị Ai cập giữa các năm 1292-1290 trước công nguyên. Nhiều người trong số các pharaon đã được chôn trong Thung lũng của các vị Vua.[6][7]

Vương triều thứ Hai mươi[sửa | sửa mã nguồn]

Vương triều thứ Hai mươi (ký hiệu: Triều XX) hay còn gọi là Thời đại Ramesside là một vương triều thuộc thời kỳ Tân Vương quốc. Nó được coi là Vương triều cuối cùng của thời kỳ Tân Vương quốc của Ai cập.

Các vị pharaon của vương triều thứ 20 cai trị trong khoảng 120 năm, từ năm 1187 đến 1064 trước Công nguyên.[8][9]

pharaon Setnakhte có thể đã ở tuổi thâm niên khi ông bị mất ngai vàng sau khi nữ hoàng Twosret cướp lấy. Ông đã cai trị chỉ trong khoảng 4 năm, khi ông được kế thừa, bởi vì ông là con trai của Ramesses III. Ai cập đã bị đe dọa bởi những hải nhân trong khoảng thời gian của Ramesses III nhưng ông vẫn có thể đánh bại được liên minh này. Một cuộc đảo chính đã diễn ra nhưng nó không thành công. Nhà vua có thể đã chết do những nỗ lực quá nhiều trong cuộc sống của mình, và người thừa kế hợp pháp tiếp theo sau đó là Ramesses IV.

Các ngôi mộ của những nhà cầm quyền cao cấp trong triều đình bị sự chú ý của hệ thống những tên cướp ngôi mộ hoàng gia. Nhiều người còn sống sót đã kiểm tra lại tài liệu từ thời gian này và trừng phạt vì những kẻ đã gây ra tội ác, đặc biệt là trong vương triều của vua Ramesses IXRamesses XI.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Christopher Bronk Ramsey et al., Radiocarbon-Based Chronology for Dynastic Egypt, Science ngày 18 tháng 6 năm 2010: Vol. 328. no. 5985, pp. 1554-1557.
  2. ^ Shaw, Ian biên tập (2000). The Oxford History of Ancient Egypt. Oxford University Press. tr. 481. ISBN 0-19-815034-2. 
  3. ^ Alberge, Dalya. "Tomb reveals Ancient Egypt's humiliating secret". The Times. Retrieved 2003.
  4. ^ Redmount, Carol A. "Bitter Lives: Israel in and out of Egypt." p. 89-90.
  5. ^ Kuhrt, Amélie (1997). The Ancient Near East. London: Routledge. p. 188.
  6. ^ Peter J. Brand(2000)
  7. ^ “Sites in the Valley of the Kings”. Thebanmappingproject.com. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2012.
  8. ^ Sites in the Valley of the Kings
  9. ^ Dodson and Hilton, pg 184

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]