Ramesses VI

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Ramesses VI Nebmaatre-Meryamun (đôi khi được viết là Ramses hoặc Rameses, còn được biết đến với tên gọi khi là hoàng tử của ông là Amenherkhepshef C[note 1]) là vị vua thứ Năm thuộc Vương triều thứ Hai Mươi của Ai Cập. Ông đã trị vì trong khoảng 8 năm vào giai đoạn giữa tới cuối thế kỷ thứ 12 TCN và là một người con trai của Ramesses III với nữ hoàng Iset Ta-Hemdjert. Khi là một hoàng tử, ông được biết đến với tên gọi Ramesses Amunherkhepeshef và giữ tước hiệu người ký lục hoàng gia và tướng kỵ binh. Ông được kế vị bởi người con trai của ông với nữ hoàng Nubkhesbed, Ramesses VII Itamun.

Sau cái chết của vị pharaon đương triều, Ramesses V, con trai người anh cả của Ramesses VI, Ramesses IV, Ramesses VI đã lên ngôi. Trong hai năm đầu tiên sau lễ đăng quang của mình, Ramesses VI đã chặn đứng được những cuộc đột kích thường xuyên của người Libya hoặc những kẻ cướp người Ai Cập ở Thượng Ai Cập và chôn cất vị tiên vương của ông trong một ngôi mộ chưa được biết đến thuộc khu nghĩa trang Thebes. Ramesses VI đã chiếm đoạt KV9, một ngôi mộ ở thung lũng các vị Vua được dự kiến dành cho Ramesses V, ông đã mở rộng và tái trang trí lại cho bản thân mình. Các túp lều của những người thợ thủ công ở gần lối vào của KV9 đã che đậy lối vào ngôi mộ của Tutankhamun, và bảo vệ nó khỏi một làn sóng của những kẻ cướp mộ mà đã diễn ra trong vòng chưa đầy 20 năm sau khi Ramesses VI qua đời. Ramesses VI có thể đã lên kế hoạch và xây dựng thêm 6 ngôi mộ nữa ở thung lũng các Hoàng hậu, không có ngôi mộ nào trong số đó được biết đến ngày nay.

Ai Cập đã đánh mất quyền kiểm soát các thành trì cuối cùng của nó ở Canaan vào khoảng thời gian dưới triều đại của Ramesses VI. Mặc dù người Ai Cập tiếp tục chiếm đóng Nubia, việc để mất các vùng lãnh thổ ở Châu Á đã gây nên căng thẳng đối với nền kinh tế yếu kém của Ai Cập và lạm phát. Cùng với việc các dự án xây dựng ngày càng khó khăn hơn trong việc tài trợ, Ramesses VI đã chiếm đoạt các công trình tưởng niệm của cha ông mình bằng cách khắc đồ hình của ông lên trên của họ. Ông còn lấy làm kiêu hãnh vì đã "[phủ kín] tất cả các vùng đất với những công trình tưởng niệm vĩ đại bằng tên của ta [...] đã xây dựng để tỏ lòng tôn kín những vị cha của ta các vị thần".

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ramesses VI là con trai của Ramesses III với hoàng hậu Iset Ta-Hemdjert (do khung tên của Ramesses VI được phát hiện trên rầm cửa mộ của hoàng hậu). Ông cũng là anh em trai của Ramesses IVRamesses VIII; là chú của Ramesses V (con của Ramesses IV). Khi còn là một hoàng tử, ông có tên là Amunherkhepeshef. Người vợ duy nhất được biết đến của ông là hoàng hậu Nubkhesbed. Cả hai có với nhau 4 người con:

Các nhà khoa học James Harris, Edward F. WenteKenneth Kitchen cho rằng Ramesses IX cũng là một người con của Ramesses VI. Tuy nhiên Aidan DodsonDyan Hilton lại không đồng ý điều này. Họ cho rằng Ramesses IX là con của Montuherkhopshef, một người con trai khác của Ramesses III.

Ngôi mộ của ông là một ngôi mộ lớn nằm cạnh mộ của Tutankhamun và đã được khai quật. Ông qua đời năm 1137 TCN và con trai ông, Ramesses VII lên kế ngôi.

Thời gian cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Người đầu tiên đưa ra giả thuyết nghi ngờ rằng Ramesses VI vẫn còn tại vì vào năm thứ 8 của mình là nhà Ai Cập học người Hà Lan Jac. J. Janssen. Ông ta đã dựa trên Ostracon IFAO 1425, trong đó đề cập đến các khoản vay của một con bò trong năm thứ 8 của một vị vua mà chỉ có thể là Ramesses VI.[4] Năm trị vì thứ 8 của ông dường như cũng được chứng thực nhờ tranh tường Theban 1860a. Trong quá khứ, niên đại của tranh tường này đã được gán cho vào thời Ramesses X,[5] nhưng cách giải thích này đã bị loại bỏ và sự gán ghép nó với Ramesses VI dường như đến nay là giải pháp tốt nhất.[6] Sự quan tâm của Raphael Ventura đối với việc tái dựng lại cuộn giấy Papyrus Turin 1907+1908 vốn bị hư hại, dường như cũng đã giúp phát hiện thấy rằng Ramesses VI đã có một vương triều kéo dài đủ 8 năm.[7][8] Các ấn phẩm học thuật mới nhất về niên đại của Ai Cập trong năm 2006 cũng đã coi vương triều Ramesses VI kéo dài 8 năm, dựa trên các nguồn nói trên.[9] Ramesses VI có lẽ còn sống thêm khoảng hai tháng ngắn ngủi nữa vào năm thứ 9 vương triều của ông trước khi ông qua đời và được kế vị bởi người con trai Ramesses VII.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Ushabti của Ramesses VI ở Bảo tàng Anh Quốc

Nền tài chính và chính trị của Ai cập tiếp tục suy giảm dưới triều đaị của Ramses VI. Ông là vị vua cuối cùng của Tân vương quốc Ai Cập mà tên tuổi còn được chứng thực ở Sinai.[10] Tại Thebes, quyền lực của đại tư tế Amun Ramessesnakht đã tiếp tục tăng lên với sự xa hoa của nhà vua bất chấp thực tế rằng Isis, con gái Ramesses VI đã liên kết với các linh mục Amun "trong vai trò người vợ của Amun hoặc Divine Adoratice".[11]

Ngay sau khi an táng, hầm mộ của ông đã bị đột nhập và cướp phá bởi những kẻ cướp mộ, chúng đã lấy đi bàn tay và bàn chân của ông cùng với nhiều trang sức.[8] Một kiểm tra y tế xác ướp của ông (được tìm thấy ở KV35 năm 1898) cho thấy thiệt hại nghiêm trọng cho cơ thể của ông với nhiều vết thương ở đầu của ông này và cơ thể ông đã bị rìu xẻ thành nhiều mảnh. Những tổn thương này là do những kẻ cướp mộ, chúng cướp phá cơ thể của vị vua để lấy đồ trang sức của ông.

Chú thích, tham khảo, nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The "C" in this name is not part of Ramesses VI's original Egyptian name, rather it is a denomination added in modern Egyptology to distinguish him from other people of the same name: Amenherkhepshef A, a son of Ramesses II, Amenherkhepshef B, a son of Ramesses III, and Amenherkhepshef D a son of Ramesses VI.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Clayton 1994, tr. 167.
  2. ^ a ă â b Leprohon 2013, tr. 199.
  3. ^ a ă Amer 1985, tr. 67.
  4. ^ Janssen, GM 29 (1978), 45-46
  5. ^ Bierbrier, JEA 58 (1972), 195-199.
  6. ^ L. Bell, Serapis 6 (1980), pp.7-16
  7. ^ Raphael Ventura, More Chronological Evidence from Turin Papyrus Cat.1907+1908, JNES 42, No.4 (1983), pp.271-277
  8. ^ a ă Clayton, p.168
  9. ^ Erik Hornung, Rolf Krauss & David Warburton (editors), Handbook of Ancient Egyptian Chronology (Handbook of Oriental Studies), Brill: 2006, p.475
  10. ^ Nicolas Grimal, A History of Ancient Egypt, (Blackwell Books: 1992), p.288
  11. ^ Grimal, p.288

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Amer, Amin A. M. A. (1985). “Reflections on the reign of Ramesses VI”. The Journal of Egyptian Archaeology 71: 66–70. JSTOR 3821712. 
Bács, Tamás A. (1995). “A Note on the Divine Adoratrix Isis, daughter of Ramesses VI”. Göttinger Miszellen 148: 7–11. 
Bell, Lanny David (1980). “Only one High Priest Ramessenakht and the second prophet Nesamun his younger son”. Serapis 6: 7–16. 
Bianchi, Robert Steven (2004). Daily life of the Nubians. Greenwood Press "Daily life through history" series. Westport, Conn.: Greenwood Press. ISBN 978-0-31-332501-4. 
Bierbrier, M.L. (1972). “A Second High Priest Ramessesnakht?”. The Journal of Egyptian Archaeology 58: 195–199. JSTOR 3856249. 
Brand, Peter (2010). “Usurpation of Monuments”. Trong Grajetzki, Wolfram; Wendrich, Willeke. UCLA Encyclopedia of Egyptology. Los Angeles: University of California Los Angeles. 
Breasted, James Henry (1948). Bronze base of a statue of Ramses VI discovered at Megiddo. Chicago: University of Chicago Press. OCLC 83774290. 
Brescinani, Edda; Donadoni, Sergio; Guidotti, Maria-Cristina; Leospo, Enrichetta; Leclant, Jean (1993). L'Egypte antique illustrée de Champollion et Rosellini (bằng tiếng Pháp). Paris: Citadelles Mazenod. 
Brock, Edwin C. (1999). “Funerary texts”. Trong Bard, Kathryn; Shubert, Stephen Blake. Encyclopedia of the archaeology of ancient Egypt. London; New York: Routledge. tr. 382–385. ISBN 978-0-203-98283-9. 
Brugsch, Heinrich Karl (1859). Histoire d'Égypte dès les premiers temps de son existence jusqu'à nos jours (bằng tiếng Pháp). Leipzig: J. C. Hinrichs. OCLC 23425377. 
Burke, Aaron A.; Peilstöcker, Martin; Karoll, Amy; Pierce, George A.; Kowalski, Krister; Ben-Marzouk, Nadia; Damm, Jacob C.; Danielson, Andrew J.; Fessler, Heidi D.; Kaufman, Brett; Pierce, Krystal V.L.; Höflmayer, Felix; Damiata, Brian N.; Dee, Michael (2017). “Excavations of the New Kingdom Fortress in Jaffa, 2011–2014: Traces of Resistance to Egyptian Rule in Canaan”. American Journal of Archaeology 121 (1): 85–133. JSTOR 10.3764/aja.121.1.0085. doi:10.3764/aja.121.1.0085. 
Černý, Jaroslav (1975). “Egypt: from the death of Ramesses III to the end of the Twenty-First Dynasty”. Trong Edwards, Iorwerth Eiddon Stephen; Gadd, Cyril John; Hammond, Nicholas Geoffrey Lemprière và đồng nghiệp. The Cambridge Ancient History II part 2. The Middle East and the Aegean Region c. 1380—1000 B.C. (ấn bản 3). Cambridge: Cambridge university press. tr. 606–657. ISBN 978-0-52-108691-2. 
Clayton, Peter (1994). Chronicle of the Pharaohs. London: Thames & Hudson. ISBN 978-0-500-05074-3. 
Cohen, Susan (2016). “History of Egypt in Palestine”. Trong Grajetzki, Wolfram; Wendrich, Willeke. UCLA Encyclopedia of Egyptology. Los Angeles: University of California Los Angeles. 
Collier, Mark; Dodson, Aidan; Hamernik, Gottfried (2010). P. BM 10052, Anthony Harris and Queen Tyti. Journal of Egyptian Archaeology 96. tr. 242–247. 
Demas, Martha; Neville, Agnew biên tập (11 tháng 11 năm 2018). Valley of the Queens Assessment Report: A Collaborative Project of the Getty Conservation Institute and the Supreme Council of Antiquities, Egypt. Vol. 1, Conservation and Management Planning. Los Angeles: Getty Conservation Institute. ISBN 978-1-93-743336-9. 
Demas, Martha; Neville, Agnew biên tập (11 tháng 11 năm 2018). Valley of the Queens Assessment Report: A Collaborative Project of the Getty Conservation Institute and the Supreme Council of Antiquities, Egypt. Vol. 2, Assessment of 18th, 19th, and 20th Dynasty Tombs. Los Angeles: Getty Conservation Institute. ISBN 978-1-93-743336-9. 
Dodson, Aidan (1999). “Tutankhamen, tomb of”. Trong Bard, Kathryn; Shubert, Stephen Blake. Encyclopedia of the archaeology of ancient Egypt. London; New York: Routledge. tr. 1044–1048. ISBN 978-0-203-98283-9. 
Dodson, Aidan; Hilton, Dyan (2004). The Complete Royal Families of Ancient Egypt. London: Thames & Hudson Ltd. ISBN 978-0-500-05128-3. 
de Morgan, Jacques (1893). Catalogue des monuments et inscriptions de l'Égypte antique / Sér. 1, Haute Égypte. 1, De la frontière de la Nubie à Kom Ombos. Leipzig: Direction Générale du Service des Antiquités. OCLC 312439542. 
Grandet, Pierre (2014). “Early to Mid-20th Dynasty”. Trong Grajetzki, Wolfram; Wendrich, Willeke. UCLA Encyclopedia of Egyptology. Los Angeles: University of California Los Angeles. 
Grimal, Nicolas (1992). A History of Ancient Egypt. Translated by Ian Shaw. Hoboken, New Jersey: Wiley-Blackwell publishing. ISBN 978-0-631-19396-8. 
Harris, James E; Wente, Edward Frank (1980). An x-ray atlas of the royal mummies. Chicago: University of Chicago Press. OCLC 9399981. 
Hayes, William (1978). The Scepter of Egypt: A Background for the Study of the Egyptian Antiquities in The Metropolitan Museum of Art. Vol. 2, The Hyksos Period and the New Kingdom (1675–1080 B.C.). New York: Metropolitan Museum of Art. OCLC 7427345. 
Hornung, Erik; Krauss, Rolf; Warburton, David biên tập (2012). Ancient Egyptian Chronology. Handbook of Oriental Studies. Leiden, Boston: Brill. ISBN 978-90-04-11385-5. ISSN 0169-9423. 
Hovestreydt, Willem (1997). “A Letter to the King Relating to the Foundation of a Statue (P. Turin 1879 vso.)”. Lingua Aegyptia (Hamburg: Widmaier Verlag) 5: 107–121. 
Janssen, Jac J. (1975). Commodity prices from the Ramessid period: an economic study of the village of Necropolis workmen at Thebes. Leiden: E. J. Brill. ISBN 978-9-00-404211-7. .
Janssen, Jac J. (1978). “Year 8 of Ramesses VI Attested”. Göttinger Miszellen 29. 
Janssen, Jac J. (1997). Village varia. Ten studies on the history and administration of Deir el-Medina. Egyptologische uitgaven 11. Leiden: Nederlands Inst. voor het Nabije Oosten. ISBN 978-9-06-258211-2. 
Kitchen, Kenneth Anderson (1972). “Ramesses VII and the Twentieth Dynasty”. The Journal of Egyptian Archaeology 58: 182–194. JSTOR 3856248. 
Kitchen, Kenneth Anderson (1982). “The Twentieth Dynasty Revisited”. The Journal of Egyptian Archaeology 68: 116–125. JSTOR 3821630. 
Kitchen, Kenneth Anderson (1983). Ramesside inscriptions: historical and biographical. Vol. VI. [Ramesses IV to XI and Contemporaries]. Oxford: B.H. Blackwell. OCLC 866782570. 
Leblanc, Christian (1999). “Thebes, Valley of the Queens”. Trong Bard, Kathryn; Shubert, Stephen Blake. Encyclopedia of the archaeology of ancient Egypt. London; New York: Routledge. tr. 1020–1023. ISBN 978-0-203-98283-9. 
Legrain, Georges (1909). Catalogue Général des antiquités égyptiennes du musée du Caire. Nos: 42192-42250. Statues et statuettes de rois et de particuliers. Tome second (PDF) (bằng tiếng Pháp). Le Caire: Institut français d'archéologie orientale. OCLC 729119833. 
Leprohon, Ronald J. (2013). The great name: ancient Egyptian royal titulary. Writings from the ancient world, no. 33. Atlanta: Society of Biblical Literature. ISBN 978-1-58983-736-2. 
Lobban, Richard Andrew Jr. (2004). Historical dictionary of ancient and medieval Nubia. Historical dictionaries of ancient civilizations and historical eras 10. Lanham, Md.: Scarecrow Press. ISBN 978-0-81-084784-2. 
Loret, Victor (1899). “Le tombeau d'Aménophis II et la cachette royale de Biban el-Molouk”. Bulletin de l'Institut Egyptien (bằng tiếng Pháp) 3. Le Caire. tr. 98–112. OCLC 469908038. 
Mazar, Amihai (1990). Freedman, D.N., biên tập. Archaeology of the Land of the Bible 10,000–586 BCE. Anchor Bible reference library (ấn bản 1). New Haven, Conn.; London: Yale University Press. ISBN 978-0-30-014179-5. 
Mumford, G. J. (1999). “Serabit el-Khadim”. Trong Bard, Kathryn; Shubert, Stephen Blake. Encyclopedia of the archaeology of ancient Egypt. London; New York: Routledge. tr. 881–885. ISBN 978-0-203-98283-9. 
Murnane, Wiliam J. (1971). “The "King Ramesses" of the Medinet Habu Procession of Princes”. Journal of the American Research Center in Egypt 9: 121–131. JSTOR 40001059. 
Murnane, Wiliam J. (1999). “Thebes, royal funerary temples”. Trong Bard, Kathryn; Shubert, Stephen Blake. Encyclopedia of the archaeology of ancient Egypt. London; New York: Routledge. tr. 995–1000. ISBN 978-0-203-98283-9. 
Nasrawi, Salah (22 tháng 3 năm 2004). “Pharaoh's sarcophagus reassembled at last”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2018. 
Peden, Alexander (1989). “The usurped stela of Ramesses V”. Göttinger Miszellen: Beiträge zur ägyptologischen Diskussion 110: 41–46. 
Peden, Alexander J. (11 tháng 11 năm 2018). The graffiti of Pharaonic Egypt: scope and roles of informal writings (c 3100-332 B.C.). Probleme der Ägyptologie 17. Leiden; Boston; Köln: Brill. ISBN 978-9-00-412112-6. 
Peden, Alexander J. (11 tháng 11 năm 2018). “Where Did Ramesses VI Bury his Nephew?”. Göttinger Miszellen 181: 83–88. ISSN 0344-385X. 
Polz, Daniel (1998). “The Ramsesnakht Dynasty and the Fall of the New Kingdom: A New Monument in Thebes”. Studien zur Altägyptischen Kultur (Hamburg: Helmut Buske Verlag GmbH) 25: 257–293. JSTOR 25152764. 
“Ramses VI”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2018. 
Rice, Michael (1999). Who is who in Ancient Egypt. Routledge London & New York. ISBN 978-0-203-44328-6. 
Saleh, Abdel-Aziz (1981). Excavations at Heliopolis Ancient Egyptian Ounû. vol. I, (The Site of Tell el-Hisn-Matarîyah). Cairo: Cairo University Faculty of Archaeology. OCLC 493125900. 
Seele, Keith Cedric (1960). “Ramesses VI and the Medinet Habu Procession of the Princes”. Journal of Near Eastern Studies 19 (3): 184–204. JSTOR 543775. 
Shaw, Ian (2000). “Chronology”. Trong Shaw, Ian. The Oxford History of Ancient Egypt. Oxford: Oxford University Press. tr. 480–489. ISBN 978-0-19-815034-3. 
Ussishkin, David (1995). “The Destruction of Megiddo at the End of the Late Bronze Age and Its Historical Significance”. Tel Aviv 22 (2): 265–307. 
van Dijk, Jacobus (2000). “The Amarna Period and the Later New Kingdom (c.1352–1069 BC)”. Trong Shaw, Ian. The Oxford History of Ancient Egypt. Oxford: Oxford University Press. tr. 265–489. ISBN 978-0-19-815034-3. 
Ventura, Raphael (1983). “More Chronological Evidence from Turin Papyrus Cat.1907+1908”. Journal of Near Eastern Studies (Chicago: The University of Chicago Press) 42 (4): 271–277. JSTOR 544539. 
Vinson, Steve (2001). “Ramses VI”. Trong Redford, Donald B. The Oxford Encyclopedia of Ancient Egypt, Volume 3. Oxford: Oxford University Press. tr. 120–121. ISBN 978-0-19-510234-5. 
von Beckerath, Jürgen (1971). “Ein Denkmal zur Genealogie der XX. Dynastie”. Zeitschrift für Ägyptische Sprache und Altertumskunde (bằng tiếng Đức) 79 (1): 7–12. ISSN 0044-216X. 
von Beckerath, Jürgen (1984). “Drei Thronbesteigungsdaten der XX. Dynastie”. Göttinger Miszellen (bằng tiếng Đức) 79: 7–10. 
von Beckerath, Jürgen (1999). Handbuch der ägyptischen Königsnamen. Münchner ägyptologische Studien (bằng tiếng Đức) 49. Mainz: Philip von Zabern. tr. 190. ISBN 978-3-8053-2591-2. 
Weeks, Kent R. (1999). “Thebes, Valley of the Kings”. Trong Bard, Kathryn; Shubert, Stephen Blake. Encyclopedia of the archaeology of ancient Egypt. London; New York: Routledge. tr. 1013–1018. ISBN 978-0-203-98283-9. 
Wente, Edward Frank; Van Siclen, Charles Cornell III (1977). “A Chronology of the New Kingdom”. Trong Johnson, J. H.; Wente, E. F. Studies in Honor of George R. Hughes, January 12, 1977. Studies in Ancient Oriental Civilization (SAOC) 39. Chicago: The Oriental Institute. tr. 217–262. ISBN 0-918986-01-X. 
Yurco, Frank J. (1999). “Deir el-Medina”. Trong Bard, Kathryn; Shubert, Stephen Blake. Encyclopedia of the archaeology of ancient Egypt. London; New York: Routledge. tr. 292–295. ISBN 978-0-203-98283-9. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền vị
Ramesses V
Pharaon của Ai Cập
Vương triều thứ 20
Kế vị
Ramesses VII