Merneferre Ay

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Merneferre Ay, hay Aya hoặc Eje, là một vị pharaon của Vương triều thứ 13 của Ai Cập cổ đại. Triều đại của ông kéo dài hơn 23 năm, là pharaon trị vì lâu nhất của Vương triều thứ 13. Vào những năm cuối trị vì của ông, Ai Cập gần như rơi vào tình trạng đen tối[1][2].

Một số giả thuyết cho rằng ông là cha đẻ của pharaon kế nhiệm Merhotepre Ini[1]. Phối ngẫu của ông có thể là hoàng hậu Ineni, người được phong danh hiệu "Người vợ hoàng gia vĩ đại", do những con dấu hình bọ hung của bà có kiểu cách gần giống với của Ay[1].

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Trong danh sách vua Turin, tên ông nằm ở cột 8 dòng 3. Danh sách còn chỉ rõ vua tiền nhiệm và kế vị của ông là Wahibre IbiauMerhotepre Ini.

Thứ tự và niên đại của ông trong vương triều vẫn còn gây tranh cãi. Jürgen von Beckerath cho rằng Merneferre Ay là vua thứ 27 của triều đại và thời gian trị vì của ông là 13 năm[3][4]; trong khi Kim RyholtDarrell Baker xếp ông vào vị trí thứ 32 và 33[1][5]. Dẫn chứng từ cuộn giấy các vua Turin, Ryholt chỉ ra rằng, niên đại của Merneferre Ay là "23 năm, 8 tháng, 18 ngày" và ông cai trị trong khoảng 1701 - 1677 TCN[1]; 1695 - 1685 TCN (theo Gae Callender)[6] hoặc 1684 - 1661 TCN (theo Thomas Schneider)[2].

Chứng thực[sửa | sửa mã nguồn]

Có 62 con dấu hình bọ hung[7] và một con dấu hình lăng trụ có nhắc đến tên ông (cất giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Metropolitan)[8], 51 trong số này không rõ gốc gác. Các con dấu còn lại được tìm thấy tại các vùng Abydos, Coptos, Lisht, BubastisHeliopolis[1][5]. Ngoài ra người ta còn phát hiện một cái bình cầu bằng đá vỏ chai, một quả cầu để tế thần Sobek[9], một mảnh vỡ của rầm cửa (lanh-tô) bằng đá vôi tại Karnak và đỉnh chóp của một kim tự tháp[10][11].

Đỉnh của kim tự tháp được tìm thấy mô tả Merneferre Ay đang tế thần Horus, điều này chứng tỏ đã có một kim tự tháp được xây trong suốt quá trình cai trị của ông[11][12]. Hiện vẫn không rõ kim tự tháp này nằm ở đâu, theo suy đoán của một số nhà khoa học thì nó có thể nằm tại Memphis[1].

Ay[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời kỳ Vương triều thứ 18, cũng có một vị vua mang tên Ay. Tuy nhiên đây là 2 vị vua hoàn toàn độc lập với nhau.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bình cầu có khắc tên của Merneferre Ay 
Một kỷ vật hình bọ hung của Ay
(Bảo tàng Anh
Rầm cửa bằng đá vôi của Ay 

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ K.S.B. Ryholt: The Political Situation in Egypt during the Second Intermediate Period, c.1800–1550 BC, Carsten Niebuhr Institute Publications, vol. 20. Copenhagen: Museum Tusculanum Press, 1997
  2. ^ a ă Thomas Schneider in: Ancient Egyptian Chronology - Edited by Erik Hornung, Rolf Krauss, and David A. Warburton, tr.181 & 497
  3. ^ Jürgen von Beckerath: Handbuch der ägyptischen Königsnamen, Münchner ägyptologische Studien, Heft 49, Mainz: Philip von Zabern, 1999, tr.98–99, ISBN 3-8053-2591-6
  4. ^ Jürgen von Beckerath: Untersuchungen zur politischen Geschichte der Zweiten Zwischenzeit in Ägypten, Glückstadt, J.J. Augustin, 1964
  5. ^ a ă Darrell D. Baker: The Encyclopedia of the Pharaohs: Volume I - Predynastic to the Twentieth Dynasty 3300–1069 BC, Stacey International, 2008, tr.65–66, ISBN 978-1-905299-37-9
  6. ^ Gae Callender: The Middle Kingdom Renaissance (c. 2055–1650 BC) in: Ian Shaw (editor): The Oxford History of Ancient Egypt, OUP Oxford (2003), ISBN 978-0192804587
  7. ^ “Scarab-seals of Merneferre Ay”. 
  8. ^ “Cylinder Seal of King Merneferre Ay”. 
  9. ^ Gerard Godron: Deux objets du Moyen-Empire mentionnant Sobek, BIFAO 63 (1965), tr.197-200
  10. ^ Georges Legrain: Notes d'inspection - Sur le Roi Marnofirrì, in Annales du Service des antiquités de l'Egypte (ASAE) 9 (1908) available not-in-copyright here, tr. 276
  11. ^ a ă Labib Habachi: Khata'na-Qantir: Importance, ASAE 52 (1954), tr. 471–479
  12. ^ Labib Habachi: Tell el-Dab'a and Qantir, Osterreichischen Akademie der Wissenschaften (2001), tr.172–174, no. 18, ISBN 978-3-7001-2986-8


Tiền nhiệm:
Wahibre Ibiau
Pharaon của Ai Cập
Vương triều thứ 13
Kế nhiệm:
Merhotepre Ini