Sneferu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Sneferu (cũng còn gọi là Snefru hoặc Snofru), còn được biết đến với tên Soris theo tiếng Hy Lạp (bởi Manetho), là vị vua đã sáng lập nên vương triều thứ 4 thuộc thời kỳ Cổ vương quốc. Hiện nay có nhiều ước tính khác nhau về thời gian trị vì của ông, ví dụ như Lịch sử Oxford về Ai Cập cổ đại đưa ra giả thuyết về một triều đại bắt đầu từ khoảng năm 2613 TCN đến năm 2589 TCN,[4] một triều đại kéo dài 24 năm, trong khi Rolf Krauss đề xuất một triều đại kéo dài 30 năm,[5] và Stadelmann cho rằng triều đại của ông kéo dài 48 năm.[6] Ông đã cho xây dựng ít nhất ba kim tự tháp mà vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay và tạo ra những thay đổi quan trọng trong việc thiết kế và xây dựng kim tự tháp ở Ai Cập cổ đại.

Độ dài triều đại[sửa | sửa mã nguồn]

Các dự án xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Các di tích nổi tiếng mà Sneferu còn lưu lại cho hậu thế là hai Kim Tự Tháp ở vùng Dahshur: Kim tự tháp Đỏ, Kim Tự Tháp BentKim Tự Tháp Meidum. Thời Sneferu được coi là đỉnh cao trong nghệ thuật xây dựng ở Ai Cập cổ đại với hàng loạt Kim tự tháp lớn nhỏ khác nhau, trong đó Kim tự tháp Khufu được xem là đỉnh cao của uy quyền và sự huy hoàng của vương quốc Ai Cập thời Cổ Vương quốc.

Sứ mệnh đầu tiên là xây dựng Kim Tự Tháp Meidum. Mặc dù không ít các tranh luận của các học giả xung quanh tuyên bố của nhà vua yêu cầu phải đặt tên Kim Tự Tháp theo tên mình, nhưng có tài liệu cho rằng Kim Tự Tháp này là sự kế thừa hình dáng, kích thước Kim Tự Tháp (lăng mộ vua) của các Pharaoh trước, tiêu biểu là Huni.

Cấu trúc bằng đá khổng lồ cho thấy sự chuyển tiếp về mặt kiến trúc giữa Kim Tự Tháp của Huni (vương triều III) với Sneferu. Một số cuộc khảo sát khảo cổ của kim tự tháp cho thấy nó được hình thành như một cấu trúc bảy bậc, được xây dựng theo cách tương tự như khu phức hợp lăng mộ Djoser ở Saqqara. Sau đó, người ta sửa đổi bằng cách thêm nền móng, mai nhận các mặt của đá vôi để tạo góc cạnh rõ nét[7]. Từ lối vào Kim Tự Tháp ở hướng Bắc với việc nhìn thấy hai buồng ngầm và một hầm mộ, người ta suy đoán buồng hầm mộ Vua (hay "buồng chôn cất") được xây cất trong phần thân chính mặt dù nằm sát mặt đất[8].

Ở Kim Tự Tháp Bent, còn được gọi là Kim tự tháp Rhomboidal (Kim Tự Tháp "hình thoi" - Kim Tự Tháp Cong), kỹ thuật xây dựng đạt đến bước tiến mới. Những người thợ đã chỉnh góc nghiên từ 55° xuống còn 43° ở các tầng trên của Kim Tự Tháp. Có thể ban đầu Kim Tự Tháp không được thiết kế theo kiểu này, do cấu trúc địa tầng không ổn định nên người ta quyết định xây dựng bằng cách đặt các khối đá nằm ngang, khối này chồng lên khối kia theo kiểu nghiên góc 5-10°, đánh dấu sự từ bỏ khái niệm kim tự tháp bậc thang[9]. Kim Tự Tháp có hai lối vào: một ở phía bắc và một ở phía nam. Các buồng dưới lòng đất lớn hơn nhiều, và phân biệt bởi các bức tường và trần nhà với các hệ thống đường chéo phức tạp bao quanh.

Với Kim Tự Tháp cuối cùng là Kim tự tháp Đỏ. Mặc dù các phòng trong lăng mộ đều có cả, nhưng không có đường đi lên nào được khai quật, cũng không có bằng chứng về lối vào phía tây hoặc đường hẻm chéo. Hầm mộ của Sneferu vẫn còn là ẩn số, khi chưa tìm ra được phòng chôn cất thi hài nhà vua.

Quan hệ ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Để cho phép Sneferu thực hiện những dự án xây dựng khổng lồ như vậy, ông cần phải có nguồn vật liệu lớn và một lượng nhân công khổng lồ. Các cuộc chinh phục của Sneferu vào Libya và Nubia đã phục vụ hai mục đích: Mục tiêu đầu tiên là thiết lập một lực lượng lao động rộng lớn, và mục tiêu thứ hai là tiếp cận với các nguyên liệu thô và các sản phẩm đặc biệt có ở các nước này[10]. Trong bia đá Palermo có trích dẫn:

"Sneferu, năm...

Việc xây dựng các tàu thuyền Tuataua mer wood

Của một trăm công suất, và 60 tàu thuyền hoàng gia của mười sáu năng lực.

Raid trong vùng đất của người da đen, và đưa bảy ngàn

Tù nhân, đàn ông và đàn bà, và hai mươi ngàn gia súc, cừu, Dê...

Việc đưa bốn mươi chiếc tàu gỗ tuyết tùng (hoặc có thể là "nặng bằng tuyết tùng Gỗ ")..."

Theo văn bản này, Sneferu đã có thể chiếm được số lượng lớn người từ các quốc gia khác, làm cho họ trở thành tù nhân của mình và sau đó thêm họ vào lực lượng lao động của mình. Trong cuộc đột nhập vào Nubia và Libya, ông cũng đã bắt gia súc để nuôi dưỡng lực lượng lao động khổng lồ của mình. Những cuộc xâm lược như vậy phải thật tàn phá đối với quần thể các quốc gia bị đột nhập, và các đề xuất rằng các chiến dịch vào Nubia có thể góp phần vào việc phổ biến văn hóa Ai Cập vào khu vực đó. Các nỗ lực quân sự của Sneferu ở Libya đã dẫn đến việc bắt giữ 11.000 tù nhân và 13.100 đầu gia súc[11]. Bên cạnh việc nhập khẩu gỗ tuyết tùng rộng rãi (có thể là từ Li-băng) được mô tả ở trên, có bằng chứng về hoạt động trong các mỏ khai thác ngọc lam trên bán đảo Sinai[12]. Cũng có những dự án khai thác mỏ quy mô lớn để cung cấp cho Sneferu đá ông cần cho các kim tự tháp của ông.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thomas Schneider: Lexikon der Pharaonen. Albatros, Düsseldorf 2002, ISBN 3-491-96053-3, page 278–279
  2. ^ A. Dodson & D. Hilton, The Complete Royal Families of Ancient Egypt, Thames and Hudson Ltd: London, 2004.
  3. ^ Alan H. Gardiner: The royal canon of Turin
  4. ^ Jaromir Malek in The Oxford History of Ancient Egypt, p.87
  5. ^ Krauss, R. (1996). “The length of Sneferu's reign and how long it took to build the 'Red Pyramid'”. Journal of Egyptian Archaeology 82: 43–50. JSTOR 3822113. 
  6. ^ Rainer Stadelmann: Beiträge zur Geschichte des Alten Reiches: Die Länge der Regierung des Snofru. In: Mitteilungen des Deutschen Archäologischen Institutes Kairo (MDAIK), Vol. 43. von Zabern, Mainz 1987, ISSN 0342-1279, p. 229–240.
  7. ^ Bard, A. Kathryn. An Introduction to the Archaeology of Ancient Egypt. Blackwell Publishing Ltd: Malden, 2008, p. 134
  8. ^ Lepre, JP The Egyptian Pyramids, A Comprehensive Illustrated Reference. McFarland & Company: London, 1990, p. 51
  9. ^ Bard, A. Kathryn. Sách đã dẫn, p. 135
  10. ^ An Introduction to the Archaeology of Ancient Egypt, p. 144
  11. ^ Ian Shaw, The Oxford History of Ancient Egypt. Oxford University Press: Oxford, 2000, p. 107
  12. ^ Aidan Dodson & Dylan Hilton, The Complete Royal Families of Ancient Egypt, Thames and Hudson Ltd: London, 2004, p. 50