Amenemope (Pharaon)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Pharaon Amenemope (prenome: Usermaatre) là con trai của vua Psusennes I. Tên của ông lúc sinh thời Amenemope / Amenemopet được dịch là "Amun tại lễ hội Opet"[1]. Ông đã cũng đồng trị vì trong những năm cuối vương triều của vua cha theo các bằng chứng từ một mảnh vải cuốn xác ướp. Tất cả phiên bản tác phẩm Epitome còn sót lại của Manetho ghi rằng Amenemope đã tận hưởng một vương triều dài 9 năm. Cả lăng mộ hoàng gia của Psusennes I và Amenemope đều được phát hiện còn nguyên vẹn bởi nhà Ai Cập học người Pháp Pierre Montet trong cuộc khai quật tại Tanis vào năm 1940 và chứa đựng một kho báu quý giá bao gồm những mặt nạ an tang bằng vàng, các cỗ quan tài cùng một số lượng lớn các đồ trang sức quý giá. Montet đã mở ngôi mộ của Amenemope vào tháng 4 năm 1940, chỉ một tháng trước khi quân Đức xâm lược nước Pháp trong Thế chiến II. Sau đó, tất cả các công việc khai quật phải ngừng đột ngột cho đến khi chiến tranh kết thúc. Montet chỉ tiếp tục công việc khai quật tại Tanis vào năm 1946 và sau đó công bố phát hiện của mình trong năm 1958.

Nhà Ai Cập học Kenneth Kitchen nói rằng có rất ít dấu tích được biết đến của Amenemope. Ngôi mộ của ông tại Tanis đã chỉ dài 20 feet và rộng 12–15 feet, "chỉ là một căn phòng nhỏ đơn thuần so với ngôi mộ của Psusennes I" và một vài dự án ban đầu khác của ông đó là tiếp tục trang hoàng ngôi nhà nguyện của Isis "Người tình của các Kim tự tháp ở Giza" và tiến hành bổ sung thêm cho một trong những ngôi đền ở Memphis.[2] Amenemope đã nhận được sự phục vụ từ hai Đại Tư Tế của Amun ở Thebes - Smendes II (một thời gian ngắn) và sau đó là từ Pinedjem II, em trai của Smendes.[3] Kitchen nhận xét rằng:

Mặt nạ an táng của Amenemope.
"ở Thebes, quyền lực của nhà vua là không thể tranh cãi - không ít hơn chín ngôi mộ của các giáo sĩ Thebes với các trụ chống, mặt dây chuyền hoặc các mảnh vải băng có ghi tên của Amenemope là pharaon và Pinedjem là Đại Tư Tế. Pen-nest-tawy, thuyền trưởng chiếc thuyền của Amun ở Thebes, đã sở hữu một cuốn sách của người chết có niên đại là năm thứ 5 dưới vương triều của vị vua này. "[2]

Kitchen lưu ý rằng cuộn giấy cói Brooklyn 16,205 trong đó đề cập đến "một năm 49 tiếp sau một năm 4 bây giờ phải được xác định là thời điểm của Psusennes I và Amenemope, [và] không phải là của Shoshenq IIIPami". Do phát hiện của một vị vua Tanis mới có tên Shoshenq IV trị vì tối thiểu là 10 năm, từ năm 39 của Shoshenq III tới năm 1 của Pami.[4] Vì thế, niên đại của tài liệu giấy cói này phải là năm 4 của vua Amenemope.

An táng[sửa | sửa mã nguồn]

Hầm mộ Tanis NRT III

Bốn đồ vật từ ngôi mộ hoàng gia của vua Amenemope còn mang theo tên người cha lừng lẫy của ông, Psusennes I, bao gồm một chiếc vòng cổ và một số vòng đeo tay.[5] Mặt nạ an táng của ông, bây giờ nằm ở bảo tàng Cairo của Ai Cập, mô tả nhà vua trẻ trung hơn. Không giống như Psusennes I, Amenemope được an táng với ít sự giàu có hơn với việc cỗ "quan tài bằng gỗ của ông được bao phủ bằng vàng lá thay vì bạc rắn" trong khi "ông mang mặt nạ mạ vàng chứ không phải là bằng vàng nguyên khối."[6] Ông sau này được cải táng vào trong lăng mộ người cha Psusennes I của mình dưới vương triều của vua Siamun, chính xác hơn là bên trong hầm mộ người mẹ của Amenemope, Mutnedjmet. Việc phân tích xác ướp của ông tiết lộ rằng Amenemope có khả năng qua đời vì bệnh viêm màng não vào khoảng năm mươi tuổi, và rằng ông đã phải đi khập khiễng suốt cuộc đời.[7]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Peter Clayton, Chronicle of the pharaons, Thames & Hudson Ltd, 1994. p.178
  2. ^ a ă K.A. Kitchen, The Third Intermediate Period in Egypt (c.1100-650 BC), Warminster, 3rd ed: 1996, p.272
  3. ^ Kitchen, p.271
  4. ^ Kitchen, p.xxvi
  5. ^ Edward Wente, "On the Chronology of the Twenty-First Dynasty," Journal of Near Eastern Studies 26 (1967), p.156
  6. ^ Kitchen, pp.272-273
  7. ^ Georges Goyon, La Découverte des trésors de Tanis, Éditions Perséa, 1987, pp.163-164

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]