Narmer

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Narmer là một vị vua Ai Cập cổ đại trong giai đoạn Sơ kỳ triều đại.[1] Ông có lẽ là người đã kế vị vua Scorpion IIhoặc Ka và còn được coi là người đã thống nhất Ai Cập và sáng lập nên triều đại đầu tiên, do đó cũng là vị vua đầu tiên của một vương quốc Ai Cập thống nhất.

Danh tính của Narmer hiện vẫn đang được tranh luận, mặc dù hầu hết các nhà Ai Cập học ngày nay đã [2][3][4][5] đồng nhất Narmer với vị pharaoh thuộc triều đại đầu tiên, Menes, người cũng được ghi nhận là đã thống nhất Ai Cập, và là pharaoh đầu tiên. Kết luận này được dựa trên tấm bảng đá Narmer mà trên đó cho thấy Narmer là người đã thống nhất Ai Cập và hai con dấu nghĩa địa từ nghĩa địa Abydos cho thấy ông là vị vua đầu tiên của triều đại thứ nhất.

Niên đại xấp xỉ của Narmer / Menes được ước tính là vào thế kỷ 31 hoặc thế kỷ thứ 32 TCN, mặc dù vậy các tài liệu Ai Cập học gần đây lại ước tính nó nằm trong khoảng từ thế kỷ 34 đến thế kỷ thứ 30 trước Công Nguyên.[6]

Triều đại[sửa | sửa mã nguồn]

Tấm bảng đá Narmer nổi tiếng, được James E. Quibell phát hiện vào năm 1898 tại Hierakonpolis,[7]đã cho thấy Narmer mang biểu tượng của cả ThượngHạ Ai Cập, dẫn đến giả thuyết cho rằng ông là người đã thống nhất hai vương quốc.[8]Kể từ khi nó được phát hiện, đã có tranh luận xung quanh vấn đề đó là liêu tấm bảng đá Narmer tái hiện lại một sự kiện lịch sử [8][9] hoặc đơn giản nó chỉ hoàn toàn mang tính biểu tượng.[10][11] Tuy nhiên, vào năm 1993, Günter Dreyer đã phát hiện tại Abydos một nhãn ghi năm của Narmer miêu tả sự kiện tương tự như trên tấm bảng Narmer và điều đó cho thấy rõ ràng rằng Bảng đá Narmer đã miêu tả một sự kiện lịch sử thực tế.[12]

Một số nhà Ai Cập học cho rằng Menes cũng chinh là Hor-Aha và rằng ông ta đã thừa hưởng một vương quốc Ai Cập đã được thống nhất bởi ​​Narmer;[13]Những người khác lại cho rằng Narmer đã bắt đầu quá trình thống nhất đất nước nhưng đã không thành công hay mới chỉ thành công một phần, và đã được Menes hoàn tất.

Một giả thuyết khác có thể nữa đó là Narmer là người kế vị trực tiếp của vị vua đã cố gắng để thống nhất Ai Cập (có lẽ là Vua Bò cạp, vì tên của ông ta cũng được tìm thấy trên một đầu chùy được phát hiện ở Hierakonpolis), nhưng ông đã chấp nhận và sử dụng biểu tượng của sự thống nhất đó mà có lẽ đã được sử dụng từ triều đại trước.[14]

Hai dấu ấn triện nghĩa địa bằng bùn có ghi danh sách các vị vua được tìm thấy gần đây trong các ngôi mộ của DenQa'a (ở Abydos) đều cho thấy Narmer là người đã sáng lập nên triều đại đầu tiên, theo sau ông là vua Hor-Aha. Dấu ấn triện của Qa'a cho thấy toàn bộ cả tám vị vua của triều đại đầu tiên theo một trình tự chính xác bắt đầu với Narmer.[15] Menes không được đề cập trong cả hai danh sách các vị vua, bởi vì vào thời điểm đó tên gọi thường được sử dụng trên các tượng đài là tên Horus, trong khi Menes là một tên riêng.[16]

Vợ của ông được cho là Neithhotep (nghĩa là: "thần Neith được hài lòng"), một công chúa của Hạ Ai Cập. Những dòng chữ khắc mang tên bà đã được tìm thấy trong các ngôi mộ thuộc về những vị vua kế vị trực tiếp của Narmer là Hor-AhaDjer, ngụ ý rằng bà là mẹ của Hor-Aha.[17]

Lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Hai căn phòng chôn cất B17 và B18 thuộc ngôi mộ của Narmer.

Ngôi mộ của Narmer bao gồm hai gian phòng (B17 và B18) được tìm thấy ở khu vực Umm el-Qa'ab của Abydos. Nó nằm bên cạnh ngôi mộ của Ka, vị vua đã cai trị Thượng Ai Cập ngay trước triều đại của ông.[18]

Narmer cũng còn được chứng thực ở khắp Ai Cập và tại miền Nam Canaan. Tại Ai Cập, serekh của ông đã được tìm thấy tại 12 địa điểm: ba nằm ở Thượng Ai Cập (Hierakonpolis, Naqada, và Abydos), bảy thuộc Hạ Ai Cập (Tarkhan, Helwan, Zawyet el'Aryan, Tell Ibrahim Awad, Ezbet el-Tell Minshat Abu Omar, và Kafr Hassan Dawood[19]), và một ở sa mạc miền Đông (Wadi el-Qaash), và một ở sa mạc miền Tây (Ốc đảo Kharga).[a]

Trong suốt triều đại của Narmer, Ai Cập đã thực sự có một sự hiện diện về kinh tế ở miền nam Canaan. Những mảnh vỡ của bình gốm đã được phát hiện tại một số địa điểm, có thể chúng được làm ở Ai Cập và được du nhập vào Canaan hoặc có thể được thực hiện theo phong cách Ai Cập bằng các vật liệu địa phương. Việc phát hiện ra điều này đã dẫn đến kết luận cho rằng sự hiện diện của Ai Cập ở Canaan là dưới hình thức của một thuộc địa chứ không phải chỉ là kết quả của sự giao lưu thương mại.[21] Mặc dù vậy quan điểm về sự hiện diện của Ai Cập ở Canaan được giải thích như là kết quả của một cuộc xâm lược quân sự,[22] lại không được chấp nhận.[23][24] Những công sự tại Tel es-Sakan có niên đại vào thời kỳ này và gần như hoàn toàn được xây dựng theo phong cách Ai Cập có thể cho thấy giả thuyết về một sự hiện diện quân sự, chứ không phải là một cuộc xâm lược quân sự.[25]

Phạm vi ảnh hưởng của người Ai Cập ở phía nam Canaan còn được thể hiện qua sự phát hiện 33 serekhs trên những mảnh gốm vỡ tại các vùng ở Canaan có niên đại từ thời kỳ Tiền triều đại cho đến giai đoạn đầu triều đại thứ nhất.[26] Mười ba trong số này thuộc về Narmer, và đến từ sáu địa điểm khác nhau: Tel Arad, En Besor (Ein HaBesor), Tel es-Sakan, Nahal Tillah (Halif Terrace), Tel Erani, và Lod[27]. Một serekh khác ở Lod được cho là thuộc về vị vua tiền triều của Narmer, Ka [28] Đáng chú ý là chỉ có một trong số đó thuộc về vị vua kế vị của Narmer, Hor-Aha. Các serekhs còn lại thì không có tên trên đó hoặc có một cái tên không thuộc về bất cứ vị pharaoh nào đã được biết đến.[26] serekh của Narmer, cùng với của các vị vua khác thuộc thời kỳ Tiền triều đại và triều đại thứ nhất, đã được tìm thấy tại Wadi Ameyra ở miền nam Sinai, tại đây có các dòng chữ được khắc để nhằm kỷ niệm các cuộc khai phá mỏ của người Ai Cập tại khu vực này.[29]

Sau khoảng 200 năm có mặt ở khu vực Canaan,[30]sự hiện diện của người Ai Cập đạt tới đỉnh cao dưới triều đại của Narmer và nhanh chóng suy giảm sau đó.[26]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ All but two of these serekhs are listed in Jiménez-Serrano 2007, tr. 372–73, table 9. The other two are from Tell el-Farkha[20] and Kafr Hassan Dawood.
  1. ^ Wilkinsonn 1999, tr. 67
  2. ^ Lloyd 1994, tr. 7
  3. ^ Edwards 1971, tr. 13
  4. ^ Cervelló-Autuori 2003, tr. 174
  5. ^ Heagy 2014, tr. 59–92
  6. ^ Dee et al. (2013): "recent estimates range from 3400 to 2900 BCE", based on: J. Mellaart, 1979, Egyptian and Near Eastern chronology: a dilemma?. Antiquity 53, 6–1; J. von Beckerath, 1997, Chronologie des Pharaonischen Agypten. Mainz, Germany: Verlag Philipp von Zabern; KA Kitchen, 2000, Regnal and genealogical data of ancient Egypt (absolute chronology I). In The synchronisation of civilisations in the Eastern Mediterranean in the Second illennium BC I (ed. Bietak M), pp. 39–52. Vienna, Austria: Austrian Academy of Sciences; R. Krauss and DA Warburton, 2006, 'Conclusions' in: Ancient Egyptian Chronology (eds Hornung E, Krauss R, Warburton DA), pp. 473–489. Leiden, The Netherlands: Brill; D Wengrow, 2006, The archaeology of Early Egypt. Cambridge, UK: Cambridge University Press.
  7. ^ Quibell 1898, tr. 81–84, pl. XII–XIII
  8. ^ a ă Gardiner 1961, tr. 403–4
  9. ^ Edwards 1961, tr. 41–43
  10. ^ Baines 1995, tr. 117
  11. ^ O'Connor 2011
  12. ^ Dreyer 2000, tr. 6–7
  13. ^ Midant-Reynes 2000, tr. 243–50
  14. ^ Schulman 1991–92, tr. 85
  15. ^ Cervelló-Autuori 2005, tr. 31–37
  16. ^ Seidlmayer 2010, tr. 25
  17. ^ Tyldesley 2006, tr. 26–29
  18. ^ Dreyer 1999, tr. 110–11
  19. ^ Hassan 2000, tr. 39
  20. ^ Ciałowicz 2011, tr. 63
  21. ^ Porat 1986–87, tr. 119
  22. ^ Yadin 1955, tr. 1-16
  23. ^ Campagno 2008, tr. 695–96
  24. ^ Porat 1986–87, tr. 109
  25. ^ de Miroschedji 2008, tr. 2028–29
  26. ^ a ă â Anđelković 2011, tr. 31
  27. ^ Jiménez-Serrano 2007, tr. 372–73, Table 9
  28. ^ Jiménez-Serrano 2007, tr. 370, Table 8
  29. ^ Tallet & Laisney 2012, tr. 383–389
  30. ^ Anđelković 1995, tr. 72

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Anđelković, B (1995), The Relations Between Early Bronze Age I Canaanites and Upper Egyptians, Belgrade: Faculty of Philosophy, Center for achaeological Research, ISBN 86-80269-17-4 .
  • ——— (2011), “Political Organization of Egypt in the Predynastic Period”, trong Teeter, E, Before the Pyramids, Chicago: Oriental Institute of the University of Chicago, ISBN 978-1-885923-82-0 .
  • Baines, J (1995), “Origins of Egyptian Kingship”, trong O’Connor, D; Silverman, DP, Ancient Egyptian Kingship, Leiden, New York, Cologne: EJ Brill, tr. 95–156, ISBN 90-04-10041-5 .
  • Braun, E (2011), “Early Interaction Between Peoples of the Nile Valley and the Southern Levant”, trong Teeter, E, Before the Pyramids, Chicago: Oriental Institute of the University of Chicago, ISBN 978-1-885923-82-0 .
  • Campagno, M (2008), “Ethnicity and Changing Relationships between Egyptians and South Levantines during the Early Dynastic Period”, trong Midant-Reynes; Tristant, Y, Egypt at its Origins 2, Leuven: Peeters, ISBN 978-90-429-1994-5 .
  • Cervelló-Autuori, Josep (2003), “Narmer, Menes and the seals from Abydos”, Egyptology at the dawn of the twenty-first century: proceedings of the Eighth International Congress of Egyptologists, 2000 2, Cairo: The American University in Cairo Press .
  • Cervelló-Autuori, Josep (2005), “Was King Narmer Menes?”, Archéo-Nil 15 .
  • Ciałowicz, KM (2011), “The Predynastic/Early Dynastic Period at Tell el-Farkha”, trong Teeter, E, Before the Pyramids, Chicago: Oriental Institute of the University of Chicago, tr. 55–64, ISBN 978-1-885923-82-0 .
  • Dodson, Aidan; Hilton, Dyan (2004), The Complete Royal Families of Ancient Egypt, Thames & Hudson, ISBN 0-500-05128-3 .
  • Dreyer, G (1999), “Abydos, Umm el-Qa'ab”, trong Bard, KA; Shubert, SB, Encyclopedia of the Archaeology of Ancient Egypt, New York: Routledge, ISBN 0-415-18589-0 .
  • ——— (2000), “Egypt's Earliest Event”, Egyptian Archaeology 16 
  • Edwards, IES (1971), “The early dynastic period in Egypt”, The Cambridge Ancient History 1, Cambridge: Cambridge University Press .
  • Edwards, WB (1961). Archaic Egypt: Culture and Civilization in Egypt Five Thousand Years Ago. London: Penguin Books. .
  • Gardiner, Alan (1961), Egypt of the Pharaohs, Oxford University Press .
  • Hassan, FA (2000), “Kafr Hassan Dawood”, Egyptian Archaeology 16: 37–39 .
  • Heagy, Thomas (2014), “Who was Menes?”, Archeo-Nil 24: 59–92 
  • Jiménez-Serrano (2007), Los Primeros Reyes y la Unificación de Egipto [The first kings and the unification of Egypt] (bằng tiếng Spanish), Jaen, ES: Universidad de Jaen, ISBN 978-84-8439-357-3  .
  • Kinnaer, Jacques (2004), “What is Really Known About the Narmer Palette?”, KMT: A Modern Journal of Ancient Egypt .
  • Lloyd, Alan B (1994) [1975], Herodotus: Book II, Leiden: EJ Brill, ISBN 90-04-04179-6 .
  • Levy, TE; van den Brink, ECM; Goren, Y; Alon, D (1995), “New Light on King Narmer and the Protodynastic Egyptian Presence in Canaan”, The Biblical Archaeologist 58 (1): 26–35, doi:10.2307/3210465 .
  • Midant-Reynes, B (2000), The Prehistory of Egypt .
  • de Miroschedji, P (2004), “Sakan, Tell Es-”, trong Stern, E; Geva, H; Paris, A, The new Encyclopedia of Archaeological Excavations in the Holy Land, Supplementary Volume 5 .
  • O'Connor, David (2011), “The Narmer Palette: A New Interpretation”, trong Teeter, E, Before the Pyramids, Chicago: Oriental Institute of the University of Chicago, ISBN 978-1-885923-82-0 .
  • Porat, N (1986–87), “Local Industry of Egyptian Pottery in Southern Palestine during the Early Bronze Period”, Bulletin of the Egyptological Seminar 8 .
  • Quibell, JE (1898). “Slate Palette from Hierakonpolis”. Zeitschrift für ägyptische Sprache und Altertumskunde 36. .
  • Schulman, AR (1991–92), “Narmer and the Unification: A Revisionist View”, Buletin of the Egyptological Seminar 11 .
  • Seidlmayer, S (2010), “The Rise of the Egyptian State to the Second Dynasty”, trong Schulz, R; Seidel, M, Egypt: The World of the Pharaohs .
  • Shaw, Ian (2000), The Oxford History of Ancient Egypt, Oxford University Press .
  • Talllet, P; Laisney, D (2012), “Iry-Hor et Narmer au Sud-Sinaï: Un complément à la chronology des expéditions minères égyptiennes”, Bulletin de l'Institut français d'archéologie orientale 112 .
  • Tyldesley, Joyce (2006), Chronicle of the Queens of Egypt, London: Thames & Hudson .
  • Wilkinson, TAH (1999), Early Dynastic Egypt, London, New York: Routlege .
  • Yadin, Y (1955), “The Earliest record of Egypt Military Penetration into Asia?”, Israel Exploration Journal 5 (1) .