Apepi (Vương triều thứ 15)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Apepi hay Apopish là pharaon người Hyksos của Vương triều thứ 15. Theo danh sách các vua Turin, ông cai trị Hạ Ai Cập trong vòng 35-40 năm, cùng với KamoseThượng Ai Cập. Mặc dù triều đại của ông chỉ gói gọn ở miền bắc Ai Cập, Apepi lại chi phối đối với gần như toàn bộ Ai Cập trong suốt giai đoạn đầu triều đại của ông và tiến hành giao thương một cách hòa bình với các vị vua thuộc Vương triều thứ 17 cai trị ở miền nam[2].

Sau khi ông qua đời, Ai Cập dần thuộc quyền kiểm soát của Vương triều thứ 17[3]. Khoảng 20 năm sau cái chết của Apepi, quân Hyksos bị đánh đuổi hoàn toàn khỏi Ai Cập bởi Ahmose I.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Hai người chị/em gái của Apepi được biết đến là Tani and Ziwat. Tani được nhắc đến trên cửa của một điện thờ tại Avaris và một tấm bảng (lưu giữ tại Đức), trong khi tên của Ziwat được phát hiện trên một cung tên[4].

Hoàng tử tên Apepi, có lẽ là con ông, xuất hiện trên một con dấu, hiện lưu giữ tại Đức. Pharaon Apepi còn có một người con gái tên Herit, được biết thông qua một bình hoa của bà được tìm thấy trong ngôi mộ của người Thebes. Có thể bà đã lấy một vị vua người Thebes[2][5] hoặc đơn giản những món đồ này được xem là chiến lợi phẩm và bị đem về đây.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian cai trị của mình, Apepi đã sử dụng tới 3 tên ngai: Nebkhepeshre, AqenenreAuserre[6]. Tên Horus của ông chỉ xuất hiện trên một tấm bảng tên bằng đá granite[7] và những phiến đá được tìm thấy tại Bubastis[8]. Ông là người kế vị của pharaon Khyan và là tiền nhiệm của Khamudi - vua cuối cùng của Vương triều thứ 15[9].

Rất hiếm những tòa nhà, đền đài kỷ niệm của Apepi, ông đã chiếm đoạt nhiều công trình kỷ niệm của các tiên vương làm của riêng mình. Apepi đã khắc tên mình lên hai con nhân sư của Amenemhat II và 2 bức tượng của Imyremeshaw[10]. Ngoài ra, Apepi còn được cho là đã cướp ngôi báu của hoàng tử Yanassi, con trai của người tiền nhiệm Khyan[11].

Trong suốt thời gian làm vua, ông chỉ tôn thờ duy nhất thần Seth - vị ác thần trong thần thoại Ai Cập cổ đại[12]. Và tên của ông cũng được đặt theo Apep, con rắn của sự hỗn loạn và bóng đêm.

Một con dao găm không rõ nguồn gốc có ghi tên Nebkhepeshre Apepi và dòng chữ "Sobek yêu quý, chúa tể của Sumenu" được tìm thấy tại Thebes, Thượng Ai Cập cùng một bia đá cũng có khắc tên nhà vua tại Gebelein. Một giả thuyết cho rằng, Apepi đã cai trị một phần của Thượng Ai Cập và đã cho dựng bia đá ghi lại những hoạt động của mình tại đây. Tuy nhiên, tấm bia này không lớn khiến nhiều nhà nghiên cứu suy đoán rằng, chúng được mang về Gebelein khi quân Hyksos bại trận và không có bằng chứng nào cho thấy từng có một vị vua người Hyksos cai trị Thượng Ai Cập[13].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thomas Schneider, Erik Hornung, Rolf Krauss, David A. Warburton: Ancient Egyptian Chronology, tr.4927
  2. ^ a ă Nicolas Grimal, A History of Ancient Egypt. Librairie Arthéme Fayard, 1988, tr.189
  3. ^ Grimal, tr.194
  4. ^ K.S.B. Ryholt: The Political Situation in Egypt during the Second Intermediate Period, c.1800–1550 BC, Carsten Niebuhr Institute Publications, vol. 20. Copenhagen: Museum Tusculanum Press, 1997, tr.256-267
  5. ^ H. Carter: Report on the tomb of Zeser-ka-ra Amenhetep I, discovered by the Earl of Carnavon in 1914, in: Journal of Egyptian Archaeology 3 (1916), pl. XXI.1
  6. ^ Apophis: Titulary Archived
  7. ^ Lưu giữ tại Bảo tàng Cairo (Cairo CG 23073)
  8. ^ Lưu giữ tại Bảo tàng Anh (London BM 339)
  9. ^ Kings of the Second Intermediate Period
  10. ^ Grimal, tr.193
  11. ^ Ryholt, tr.256
  12. ^ "Of God and Gods", Jan Assmann, tr.47-48, University of Wisconsin Press, 2008, ISBN 978-0-299-22550-6
  13. ^ D. Polz: Die Hyksos-Blöcke aus Gebelên; zur Präsenz der Hyksos in Oberägypten, in: E. Czerny, I. Hein, H. Hunger, D. Melman, A. Schwab (editors): Timelines, Studies in Honour of Manfred Bietak, Leuven, Paris, dudley, MA, tr.244-245, ISBN 978-90-429-1730-9