Raneb

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Raneb
Nebre
Tiên vương:
Hotepsekhemwy
Pharaông của Ai Cập
triều đại thứ hai
Kế vị:
Nynetjer
Raneb-Stela_MetropolitanMuseum.png
Niên đại 39 năm
Cha có thể là Hotepsekhemwy


Raneb là vị vua trong triều đại thứ hai của Ai Cập. Năm cai trị của ông không được biết chính xác: Danh sách vua Turin không cho biết năm của ông vì bị đục phá mất; Manetho cho rằng ông cai trị 39 năm[1]. Các nhà Ai Cập học hiện đại xác định ông chỉ cai trị khoảng 14 năm: Theo tác giả khác nhau, Nebra cai trị Ai Cập c. 2850 TCN[2], từ năm 2820 trước Công nguyên đến năm 2790 trước Công nguyên (Donald B. Redford), 2800 TCN đến 2785 TCN (Jürgen von Beckerath) hoặc 2765 TCN đến 2750 TCN (J. Malek)[3].

Ông lên ngôi sau khi tiên vương băng hà. Ông được gọi bằng nhiều tên khác nhau, thông dụng nhất là tên Raneb (nghĩa là "thần Ra là chúa của tôi")[4]. Dưới thời ông, người Ai Cập cổ hoạt động tôn giáo rất mạnh. Các tôn giáo thờ nhiều thần xuất hiện nhiều nhưng tụ chung lại là thờ các vị thần chủ Horus và Seth - nhà vua cũng tự nhận mình là đai diện của cặp vị thần Horus - Seth (Mặt trời chưa là một vị thần độc lập)[5]. Ngoài ra, họ cũng thờ nữ thần Bastet. Manetho cũng tuyên bố rằng ông đã du nhập việc thờ phượng dê (mendes) thiêng liêng.[6]. Cũng trong thời gian ở ngôi, ông xúc tiến xây dựng lăng mộ cho cha mình. Năm 2012, nhà khảo cổ Pierre Tallet và Damien Leisnay tìm thấy ở phía nam bán đảo Sinai ba tấm đá khắc tên Raneb. Mỗi tấm đá được tìm ở ba nơi gọi là "wadi" (Wadi Abu Madawi, Wadi Abu Koua và Wadi Ameyra) chạy dọc suốt từ bán đảo Sinai vào thẳng nội địa, nơi có mỏ đồng và lam ngọc[7]... điều này suy ra rằng, người Ai Cập thời Raneb đã khai thác mỏ đồng và lam ngọc ở sâu trong nội địa (có lẽ là Thượng Ai Cập, gần Nubia)

Nguồn gốc và sự chứng thực[sửa | sửa mã nguồn]

Ý nghĩa của tên Nebra là điều quan tâm của nhiều nhà khoa học. Người ta tìm ra bằng chứng, chứng minh có một giáo phái tộn thờ thần Mặt Trời đã xuất hiện trong thời đại này (sự cân bằng giữa Horus và Seth). Theo đó, các vua tự xem mình là đại diện của cặp thần thánh nổi tiếng này. Giáo phái này được xác lập vào đầu vương triều 3, chính thức trở thành 1 tôn giáo dưới thời nhà vua Radjedef, người cai trị thứ ba của triều đại thứ 4. Theo bằng chứng này, tên Nebra có nghĩa là "Chúa tể của mặt trời (của Horus)"[8]

Tên Raneb xuất hiện tên một số hiện vật bằng đá như tàu đá, thạch cao, tuyết anh và đá cẩm thạch. Các chữ khắc trên đá mô tả các đền thờ tôn giáo; ví dụ miếng gỗ lát trong đó khắc hình thần Ka và các vị thần khác như Bastet, Neith và Seth; cùng các hoạt động và nghi lễ tôn giáo. Điều thú vị là, tên của Raneb hoặc cùng với người tiền nhiệm của ông Hotepsekhemwy hoặc với người kế nhiệm ông, Nynetjer. Tên Raneb không bao giờ xuất hiện một mình[9]. Rất nhiều con dấu mang tên ông (tìm thấy trong Kim Tự Tháp Unas). Ngôi mộ lớn ở Saqqara, người ta tìm thấy hàng chục con dấu với tên Hotepsekhemwy và vì lý do này nó được tranh luận, liệu các ngôi mộ thuộc về Raneb hoặc người tiền nhiệm của ông Hotepsekhemwy[10].

Năm 2012, Pierre Tallet và Damien Leisnay báo cáo ba tấm đá khắc chữ với tên Horus Raneb được tìm thấy ở phía nam của bán đảo Sinai. Mỗi bản khắc đá được tìm thấy trong một wadi khác nhau: Wadi Abu Madawi, Wadi Abu Koua và Wadi Ameyra. Những nơi mà tên Raneb được hiển thị nằm dọc theo một lộ trình rất cũ được sử dụng cho các cuộc thám hiểm từ bờ biển phía tây của đảo Sinai vào nội địa của nó, nơi các mỏ đồng và xanh ngọc tồn tại. Dọc theo wadis, tên của các vị vua tiền triều đại đến pharaoh của triều đại thứ 4 được đặt tại cùng một nơi[11].

Triều đại[sửa | sửa mã nguồn]

Ít ai được biết về triều đại của Nebra. Việc phát hiện ra làm đệm lót mang tên Nebra cùng với niêm phong: Hotepsekhemwy tại Saqqara cho thấy Nebra tiến hành việc chôn cất Hotepsekhemwy và là người kế vị trực tiếp của vua Hotepsekhemwy này. Điều này được xác nhận bởi một bức tượng và một bát đá - cả hai mang Hotepsekhemwy và Nebra ở kề nhau. Vài dấu khắc nổi khác cho thấy một sự kiện diễn ra rất đình đám, như lễ dựng các "trụ cột Horus" và có nghi lễ thờ nữ thần Bastet.

Ông qua đời, nhưng được chôn ở đâu thì không rõ. Người ta tìm thấy nhiều vật dụng khắc tên ông ở lăng mộ Unas[12]. Sau khi qua đời, ông được chôn cất trong khu lăng ở Saqqarah. Ở lăng ông, các nhà khảo cổ tìm thấy các bản khắc tàu đá có tên vua. Họ cũng tìm ra các bát (có lẽ để ăn uống của vua) ở Saqqarah, Gizah và Abydos có khắc các chữ liên quan đến miêu tả các vị thần như Bastet, Neith và Seth và các hoạt động nghi lễ tôn giáo. Các con dấu của Raneb được tìm thấy rất nhiều trong lăng mộ; mỗi con dấu thường khắc hai tên Raneb hoặc cùng với người tiền nhiệm của ông Hotepsekhemwy hoặc với người kế nhiệm ông Nynetjer. Tên Raneb không bao giờ xuất hiện một mình[13].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ William Gillian Waddell: Manetho (The Loeb classical Library, Volume 350). Harvard University Press, Cambridge (Mass.) 2004 (Reprint), ISBN 0-674-99385-3, page 37–41
  2. ^ ML Bierbrier, Historical dictionary of ancient Egypt , ML Bierbrier, Scarecrow Press, 2008
  3. ^ “Egyptian Pharaohs: Early Dynastic Period: Dynasty 2: Raneb”. 
  4. ^ Jochem Kahl: Ra is my Lord. Searching for the Rise of the Sun God at the Dawn of Egyptian History. Harrassowitz, Wiesbaden 2007, ISBN 3-447-05540-5. page 4–14.
  5. ^ Jochem Kahl: Ra is my Lord. Searching for the Rise of the Sun God at the Dawn of Egyptian History. Harrassowitz, Wiesbaden 2007, ISBN 3-447-05540-5. page 4–14.
  6. ^ An introduction to the history and culture of Pharaonic Egypt.
  7. ^ Pierre Tallet, Damien Laisnay: Iry-Hor et Narmer au Sud-Sinaï (Ouadi 'Ameyra), un complément à la chronologie des expéditios minière égyptiene. In: Bulletin de l'Institut Français D'Archéologie Orientale (BIFAO) , vol. 112, 2012, p. 389-398.
  8. ^ Jochem Kahl: Ra is my Lord. Searching for the Rise of the Sun God at the Dawn of Egyptian History. Harrassowitz, Wiesbaden 2007, ISBN 3-447-05540-5.page 4–14.
  9. ^ Toby AH Wilkinson: Early Dynastic Egypt. Routledge, London/New York 1999, ISBN 0-415-18633-1, p.87
  10. ^ Eva-Maria Engel: Die Siegelabrollungen von Hetepsechemui und Raneb aus Saqqara. Trong: Ernst Czerny, Irmgard Hein: Timelines - Các nghiên cứu trong danh dự của Manfred Bietak (. = Orientalia Lovaniensia Analecta (OLA), vol 149.). Leuven, Paris / Dudley 2006, p. 28-29, hình. 6-9.
  11. ^ Pierre Tallet, Damien Laisnay: Iry-Hor et Narmer au Sud-Sinai (Ouadi 'Ameyra), un bổ sung à la chronologie des expéditios minière égyptiene Trong:. Bulletin de l'Institut Français D'Archéologie Orientale (BIFAO), vol. 112, 2012, p. 389-398.
  12. ^ Wolfgang Helck: Wirtschaftsgeschichte des alten Ägypten im 3. und 2. Jahrtausend vor Chr Brill, Leiden năm 1975,. ISBN 90-04-04269-5, trang 21-32.
  13. ^ Toby AH Wilkinson: Early Dynastic Egypt. Routledge, London/New York 1999, ISBN 0-415-18633-1, p. 87