Djehuti

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Djehuti là pharaon đầu tiên của Vương triều thứ 16, ông đã cai trị 3 năm: 1649 - 1645 TCN (theo Danh sách Vua Turin). Theo nhà Ai Cập học Kim Ryholt và Darrell Baker, ông đã được kế vị thành công bởi Sobekhotep VIII.

Vị trí của vương triều theo thời gian[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian của vương triều Djehuti vẫn còn gây tranh cãi. [[Danh sách vua Vua Turin|Danh sách vua Vua Turin]] ghi ra rất nhiều vua có tên "Sekhemre" nhưng không rõ vua nào, dẫn đến các nhà khoa học cho rằng Djehuti, tên ngai là Sekhemre Sementawy, có thể là pharaon của Vương triều XIII, XIV hoặc XVI.

Các nhà Ai Cập học Darrell Baker và Kim Ryholt tin rằng ông là một pharaon của Vương triều XVI, kiểm soát khu vực Thebes từ sau năm 1650 TCN[1]. Ngoài ra, hai nghiên cứu Claude Vandersleyen và Christina Geisen cho rằng Djehuti là pharaon cuối cùng của Vương triều thứ 18 ở Menphis[2]. Một lý thuyết cũ của von Beckenrath, được chia sẻ bởi Hans Stock, đoán rằng Djehuti là pharaon đầu tiên của Vương triều XVII, được hình thành tại Thượng Ai cập sau sự sụp đổ của Vương triều XVI đã bị quân Hyksos chinh phục thành Thebes. Lý thuyết này được chứng mình bởi sự phát hiện ra ngôi mộ của nữ hoàng của pharaon Djehuti, bà Mentuhotep, nằm ở Dra 'Abu el-Naga'[3].

Một số nhà Ai Cập học cũng đề xuất vị pharaon này đã kết hộn với cháu gái của Thừa tướng Ai Cập Ibiaw, người phục vụ cho pharaon Ibiau (thế kỷ XVIII TCN), nhưng điều này không được chứng minh rõ ràng hai pharaon Ibiau và Djehuti cùng thế hệ vì quan hệ giữa pharaon và vợ là nữ hoàng Mentuhotep chỉ là phỏng đoán[4].

Trị vì và các bằng chứng liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Djehuti được ghi nhận trên Danh sách vua Vua TurinDanh sách vua Karnak. Đất nước Ai Cập dưới thời Djehuti đã mở rộng đến 145 km (90 dặm) dọc theo thung lũng sông Nile từ Deir el-Ballas ở phía bắc tới Edfu ở phía Nam[5]. Điều này tương ứng với lãnh thổ trong khu vực ảnh hưởng của cai trị của vương triều XVI[6]. Tên và prenomen Djehuti của được biết đến từ một khối đá khắc chữ nổi, được phát hiện bởi Flinders Petrie tại Deir el-Ballas. Một phiến đá khắc chữ khác cho biết pharaon Djehuti đội thêm vương miện màu đỏ (biểu tượng của Hạ Ai Cập) - vượt xa phạm vi của mình ảnh hưởng - đã được phát hiện ở Edfu[7]. Mộ của vợ ông - hoàng hậu Mentuhotep, được tìm thấy năm 1822 và tên của bà cũng được ghi nhận trong "Sách của người chết" (Book of the Dead). Hộp mỹ phẩm của bà, cộng với các phiến đá khắc chữ ghi về công thức làm tang lễ được lưu lại trong một món quà từ các vị vua ban tặng cho quần thần[8].

Dòng ghi chú trên cũng được tìm thấy ở một Kim Tự Tháp phía nam Saqqara, có thể đã được xây dựng cho Djehuti. Tại đây, người ta tìm thấy một dòng chữ rời rạc được tìm thấy trong các kim tự tháp và đọc "Weserkha...", được hiểu là Weserkhau tức Djehuti của tên Horus vàng[9]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ KSB Ryholt, The Political Situation in Egypt during the Second Intermediate Period, c.1800–1550 BC, Carsten Niebuhr Institute Publications, vol. 20. Copenhagen: Museum Tusculanum Press, 1997, excerpts available online here
  2. ^ Christina Geisen, Zur zeitlichen Einordnung des Königs Djehuti an das Ende der 13. Dynastie, Studien zur Altägyptischen Kultur, Bd. 32, (2004), pp. 149-157
  3. ^ Christina Geisen, Sđd
  4. ^ Grajetzki, Court Officials of the Egyptian Middle Kingdom, London 2009, p. 40
  5. ^ Darrell D. Baker: The Encyclopedia of the pharaon s: Volume I - Predynastic to the Twentieth Dynasty 3300–1069 BC, Stacey International, ISBN 978-1-905299-37-9, 2008, pp. 90-91
  6. ^ Baker, Sđd
  7. ^ M. von Falck, S. Klie, A. Schulz: Neufunde ergänzen Königsnamen eines Herrschers der 2. Zwischenzeit. In: Göttinger Miszellen 87, 1985, p. 15 - 23
  8. ^ Baker, Sách đã dẫn
  9. ^ Christoffer Theis, "Zum Eigentümer der Pyramide Lepsius XLVI / SAK S 6 im Süden von Sakkara", Göttinger Miszellen 218 (2008), pp. 101–105