Djehuti

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Sekhemre Sementawy Djehuti (hay Djehuty) là pharaon thứ hai của Vương triều thứ 16[1][2] trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai của Ai Cập. Người kế vị ông là Sobekhotep VIII, tuy nhiên 2 người không có bất cứ mối quan hệ nào.

Theo Kim Ryholt, tên của vua tiền nhiệm đã bị mất trong cuộn papyrus Danh sách vua Turin nên người ta vẫn lầm tưởng Djehuti là vua đầu tiên của triều đại[1]. Cũng theo Danh sách vua Turin, Djehuti đã cai trị trong khoảng 3 năm, có lẽ từ 1648 TCN - 1645 TCN.

Vương triều[sửa | sửa mã nguồn]

Vương triều của Djehuti vẫn còn gây tranh cãi. Danh sách Vua Turin có đề cập rất nhiều vị vua tên "Sekhemre [...]" nhưng không thể xác định ai là Djehuti, vì thế ông được cho là thuộc về Vương triều thứ 16 (Darrell BakerKim Ryholt), 17 (Jürgen von Beckerath)[3] hoặc 13 (Claude VandersleyenChristina Geisen)[4][5].

Theo Beckenrath, Djehuti là pharaon đầu tiên của Vương triều thứ 17, được hình thành tại Thượng Ai Cập sau sự sụp đổ của Vương triều thứ 16 đã bị quân Hyksos chinh phục thành Thebes[3]. Lý thuyết này dựa vào sự phát hiện ra ngôi mộ của hoàng hậu Mentuhotep, vợ của Djehuti, nằm ở Dra 'Abu el-Naga', một khu vực liên quan đến các vua thuộc Vương triều thứ 17. Chris Bennett lại cho rằng, không nhất thiết rằng Djehuti cũng được chôn tại đây[4].

Hoàng hậu Mentuhotep là con gái của Tể tướng Senebhenaf và phu nhân Sobekhotep[6]. Một số nhà Ai Cập học cho rằng bà là cháu nội của Tể tướng Ibiaw[7], người phục vụ dưới triều vua Wahibre Ibiau (Vương triều thứ 13), do đó họ xếp Djehuti vào các vua của Vương triều thứ 13. Tuy nhiên mối quan hệ giữa hoàng hậu Mentuhotep và Tể tướng Ibiaw chỉ là phỏng đoán, không có bằng chứng cho điều này[8][9].

Hộp mỹ phẩm của hoàng hậu Mentuhotep

Trị vì và các bằng chứng liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Djehuti được ghi nhận trên cả Danh sách vua TurinDanh sách vua Karnak. Đất nước Ai Cập dưới thời Djehuti đã mở rộng đến 145 km (90 dặm) dọc theo thung lũng sông Nile từ Deir el-Ballas ở phía bắc tới Edfu ở phía nam. Điều này tương ứng với lãnh thổ trong khu vực ảnh hưởng của sự cai trị của Vương triều thứ 16[2].

Tên riêng và tên ngai của Djehuti của được biết đến từ một khối đá khắc chữ nổi, được phát hiện bởi Flinders Petrie tại Deir el-Ballas. Một phiến đá khắc chữ khác cho thấy Djehuti đội Vương miện đỏ (biểu tượng của Hạ Ai Cập) - đã được phát hiện ở Edfu[10][4].

Mộ của vợ ông - hoàng hậu Mentuhotep, được tìm thấy năm 1822 và cỗ quan tài của bà (đã mất) được khắc những đoạn văn bản lấy từ "Sách của người chết" (Book of the Dead). Hộp mỹ phẩm của bà cũng có đề tên của vua Djehuti và mô tả những nghi thức tang lễ như là món quà của nhà vua dành cho hoàng hậu.

Kim tự tháp Nam Saqqara có thể đã được xây dựng cho Djehuti. Đây là kim tự tháp còn xây dang dở, và người ta cũng chưa biết được chủ sỏ hữu chắc chắn của kim tự tháp này. Tại đây, người ta tìm thấy một dòng chữ đọc là "Weserkha...", được hiểu là Weserkhau, tức tên Horus vàng của nhà vua[9].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă K.S.B. Ryholt, The Political Situation in Egypt during the Second Intermediate Period, c.1800–1550 BC, Carsten Niebuhr Institute Publications, vol. 20. Copenhagen: Museum Tusculanum Press, 1997, available online
  2. ^ a ă Darrell D. Baker: The Encyclopedia of the Pharaohs: Volume I - Predynastic to the Twentieth Dynasty 3300–1069 BC, Stacey International, 2008, tr. 90-91, ISBN 978-1-905299-37-9
  3. ^ a ă Jürgen von Beckerath: Handbuch der ägyptischen Königsnamen, Münchner ägyptologische Studien, Heft 49, Mainz : P. von Zabern, 1999, tr.126-127 ISBN 3-8053-2591-6
  4. ^ a ă â Christina Geisen, Zur zeitlichen Einordnung des Königs Djehuti an das Ende der 13. Dynastie, Studien zur Altägyptischen Kultur, Bd. 32, (2004), tr. 149-157
  5. ^ Claude Vandersleyen: Rahotep, Sébekemsaf 1er et Djéhouty, Rois de la 13e Dynastie. In: Revue de l'égyptologie (RdE) 44, 1993, p. 189–191.
  6. ^ Xem Senebhenaf (en.wiki)
  7. ^ Xem Ibiaw (en.wiki)
  8. ^ Labib Habachi: "The Family of Vizier Ibiˁ and His Place Among the Viziers of the Thirteenth Dynasty", in Studien zur altägyptischen Kultur 11 (1984), pp. 113-126.
  9. ^ a ă Christoffer Theis, "Zum Eigentümer der Pyramide Lepsius XLVI / SAK S 6 im Süden von Sakkara", Göttinger Miszellen 218 (2008), tr. 101–105
  10. ^ M. von Falck, S. Klie, A. Schulz: Neufunde ergänzen Königsnamen eines Herrschers der 2. Zwischenzeit. In: Göttinger Miszellen 87, 1985, tr.15–23