Neferhotep I

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Khasekhemre Neferhotep I là một vị pharaon Ai Cập thuộc giai đoạn giữa của vương triều thứ 13, ông đã trị vì trong giai đoạn nửa sau của thế kỷ thứ 18 TCN[2] trong một thời kỳ được nhắc đến như là giai đoạn cuối thời kỳ Trung Vương quốc hoặc đầu thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai, tùy thuộc vào học giả. Ông là một trong những vị vua được chứng thực tốt nhất của vương triều thứ 13, Neferhotep I đã cai trị trong 11 năm.

Ông là cháu nội của một thị dân không thuộc hoàng tộc đến từ một gia đình ở Thebes cùng với một truyền thống quân sự, mối quan hệ của Neferhotep I với vị tiên vương của ông là Sobekhotep III lại không rõ ràng và có thể ông đã cướp ngôi. Neferhotep I có thể đã sống cùng thời với các vị vua Zimri-Lim của MariHammurabi của Babylon. Ít điều được biết đến về các hoạt động của ông trong suốt triều đại kéo dài một thập kỷ của ông và nguồn văn kiện quan trọng nhất còn sót lại từ triều đại của ông đó là một tấm bia đến từ Abydos thuật lại việc tạo nên một bức tượng của thần Osiris và quyết định của Neferhotep rằng nó được tạo ra "do chỉ thị bởi các vị thần vào buổi đầu của thời đại".[6]

Vào cuối triều đại của mình, Neferhotep I đã chia sẻ ngai vàng với người em trai Sihathor, một giai đoạn đồng nhiếp chính đã kéo dài một vài tháng đến một năm.[11] Sihathor đã sớm qua đời trước Neferhotep, ông sau đó có thể đã bổ nhiệm một người em trai khác là Sobekhotep IV làm đồng nhiếp chính. Trong bất cứ trường hợp nào, Sobekhotep IV đã kế vị Neferhotep I ngay sau đó, và đã cai trị toàn bộ Ai Cập suốt gần 1 thập kỷ. Triều đại của hai anh em họ đã đánh dấu giai đoạn đỉnh cao của vương triều thứ 13.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Các Con dấu hình bọ hung thuộc về "Người giữ ấn hoàng gia, cha của vị thần Haankhef", cha của Neferhotep I và "thành viên của tầng lớp ưu tú, người con gái của đức vua Kema", người con gái của Neferhotep I.[12]

Dòng dõi[sửa | sửa mã nguồn]

Neferhotep I dường như đến từ một gia đình không thuộc hoàng gia ở Thebes cùng với một truyền thống quân sự.[6] Ông nội của ông, Nehy, giữ tước hiệu "Chỉ huy của một trung đoàn thị trấn". Nehy đã cưới một người phụ nữ tên là Senebtysy. Không có gì được biết đến về bà ngoại trừ việc bà nắm giữ tước hiệu phổ biến "Công nương của ngôi nhà". Người con trai duy nhất được biết đến của họ có tên là Haankhef.[2]

Haankhef luôn luôn xuất hiện trong các nguồn với vai trò là "Cha của vị thần" và "Người giữ ấn hoàng gia" và người vợ của ông ta Kemi là "người mẹ của đức vua", điều này chỉ ra rằng không ai trong số họ có gốc gác hoàng gia. Mối quan hệ cha con giữa Neferhotep và Haankhef được xác nhận một cách trực tiếp thông qua một số các con dấu bọ hung đến từ El-Lahun mà tại đó Haankhef được nói là cha của Neferhotep.[2] Haankhef cũng được ghi lại rõ ràng là cha của Neferhotep I trong cuộn giấy cói Turin, một bản danh sách vua được biên soạn vào giai đoạn đầu thời đại Ramesses và giữ vai trò là nguồn sử liệu chính cho các vị vua thuộc giai đoạn này. Đây là một sự kiện cực kỳ hiếm hoi vì cuộn giấy cói Turin thường chỉ ghi lại tên của các pharaon trong khi những người không thuộc hoàng gia bị loại khỏi bản danh sách này. Ngoài Haankhef, ngoại lệ duy nhất khác cho quy tắc này chính là cha của Sobekhotep II.[2]

Các nhà Ai Cập học lưu ý rằng thay vì giấu đi dòng dõi không thuộc hoàng gia của mình, Neferhotep I, vị tiên vương của ông Sobekhotep III, và vị vua kế vị ông Sobekhotep IV, đã công bố chúng rõ ràng trên những tấm bia và các con dấu bọ hung của họ.[2] Điều này lại mâu thuẫn với phương pháp truyền thống của người Ai Cập, mà tại đó tính hợp pháp của vị vua mới dựa chủ yếu vào mối quan hệ cha con của ông ta. Những sự công bố về dòng dõi không thuộc hoàng gia này có thể được thực hiện để vạch rõ ranh giới giữa các vị vua trên với những vị tiên vương của họ, đặc biệt là Seth Meribre, người có các công trình kỷ niệm bị chiếm đoạt và xóa bỏ.[2] Lý do cho điều này hiện vẫn chưa được biết.[2]

Hậu duệ và sự kế vị[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ thần Anuket ban sự sống cho Neferhotep (đảo Sehel)

Những dòng chữ khắc đến từ Aswan cho biết rằng Neferhotep I đã có ít nhất hai người con tên là Haankhef và Kemi giống với cha mẹ của ông, họ là con của ông với một người phụ nữ có tên là Senebsen.[2][13] Ông có thể có một người con khác tên là Wahneferhotep.[14] Bất chấp điều này, Neferhotep I đã bổ nhiệm người em trai Sihathor làm đồng nhiếp chính trong những tháng cuối thuộc triều đại của ông và khi cả Sihathor và Neferhotep I qua đời vào khoảng cùng một thời điểm, họ đã được kế vị bởi một người em trai khác, Sobekhotep IV.[2][15]

Sobekhotep IV, với triều đại của ông ta đánh dấu giai đoạn đỉnh cao của vương triều thứ 13, đề cập đến trên một tấm bia (Cairo JE 51911) mà được đặt tại ngôi đền AmunKarnak rằng ông ta được sinh ra ở Thebes:[16]

Đức vua của ta [đã đến] thành phố Miền Nam bởi vì ta đã muốn nhìn thấy vị thần oai nghiêm; đó là thành phố của ta nơi mà ta được sinh ra. ... Ta đã nhìn thấy sự mãnh liệt trong vẻ uy nghiêm của ngài(tức là Amun) ở mọi ngày hội khi ta là một đứa trẻ vẫn còn chưa hiểu biết.

Tương tự như vậy, Neferhotep I có thể cũng đã được sinh ra ở Thebes; mặc dù kinh đô của Ai Cập dưới thời vương triều thứ 13 vẫn là Itjtawy ở phía Bắc, gần ngôi làng el-Lisht ngày nay.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng thực[sửa | sửa mã nguồn]

Con dấu bọ hung đọc là "Người con trai của Re, Neferhotep, sinh ra bởi người mẹ hoàng gia, Kemi".[12]
Hiện vật

Neferhotep I được biết đến từ một số lượng hiện vật tương đối lớn được tìm thấy trên một khu vực rộng lớn từ Byblos về phía Bắc cho tới các pháo đài của người Ai Cập ở Buhen[17]Mirgissa[18] ở Hạ Nubia về phía Nam[3] xuyên suốt tất cả các vùng của Ai Cập, đặc biệt là ở phần phía Nam của Thượng Ai Cập.[3] Sự chứng thực duy nhất được biết đến ở Hạ Ai Cập là một đồ vật hình bọ hung đến từ Tell el-Yahudiya.[2][19] Những sự chứng thực khác bao gồm trên 60 con dấu hình bọ hung,[14][20][21][22] 2 con dấu hình trụ lăn,[23][24] một bức tượng đến từ Elephantine,[25] và 11 bản khắc đá đến từ Wadi el Shatt el-Rigal,[26] đảo Sehel,[27][28][29] Konosso[27][29]Philae.[15][29] Những bản khắc này ghi lại các thành viên trong gia đình của Neferhotep cũng như hai vị quan chức cấp cao phụng sự ông là "Người hiểu biết của hoàng gia Nebankh" và "Quan quốc khố Senebi".[2] Hai tấm bia đá được biết đến từ Abydos, một trong số đó chiếm đoạt từ vua Wegaf và có niên đại vào năm trị vì thứ 4 của ông ta, cấm không được xây dựng các ngôi mộ trên con đường thiêng liêng rước Wepwawet.[7][30] Hai ngôi đền chứa hai bức tượng của Neferhotep cũng như là một chiếc bệ có mang các đồ hình của Neferhotep và Sobekhotep IV đã được phát hiện ở Karnak.[2][31] Ngoài ra còn có một vài chứng thực nữa đến từ vùng đất Faiyum vốn là nơi đặt kinh đô của Ai Cập vào thời điểm đó, đặc biệt là một bức tượng của nhà vua hiến dâng cho thần SobekHorus của Shedet, ngày nay đang trưng bày tại Bảo tàng khảo cổ học Bologna.[3]

Các bản Danh sách vua

Ngoài những chứng thực cùng thời kể trên, Neferhotep còn được ghi lại trong mục thứ 34 của bản danh sach vua Karnak[32] cũng như là cột thứ 7, hàng thứ 25 của cuộn giấy cói Turin.[3][33] Bản danh sách vua Turin còn ghi lại một triều đại kéo dài 11 năm và 1 tới 4 tháng dành cho Neferhotep, triều đại lâu dài thứ hai hoặc thứ ba sau Merneferre Ay (23 năm) và Sobekhotep IV (9–12 năm).[2]

Niên đại[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng nhiếp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Sihathor đã đồng cai trị trong một vài tháng cuối cùng trị vì của Neferhotep[34]. Ông chưa bao giờ có được một triều đại độc lập cho mình do đã chết trước Neferhotep. Sau đó, có thể Neferhotep đã chia sẻ ngai vàng với người em còn lại, tức Sobekhotep IV. Có 2 bản khắc tại đảo Sehel được cho là minh chứng cho điều này[34]. Một bản khắc khác tại Wadi Hammamat cho thấy 2 khung vỏ đạn chứa tên của Neferhotep I và Sobekhotep IV được đặt ngang hàng kế nhau[35][36]. Vài nhà khảo cổ nghĩ rằng cả 2 vua đã đồng cai trị trong một thời gian ngắn, nhưng Kim Ryholt phủ nhận điều này. Ông cho rằng, Sobekhotep cho làm như vậy để tưởng nhớ người anh của mình[37].

Theo các nhà nghiên cứu, các mốc trị vì của ông có thể là:

Bản khắc trên đá tại Konosso cho thấy 3 vị thần Satis, MinMontu (trái qua) cùng khung tên của nhà vua

Công trình[sửa | sửa mã nguồn]

Neferhotep I được biết đến qua rất nhiều kỷ vật được tìm thấy khá rộng rãi trên toàn Ai Cập[43][44]: 1 kỷ vật bọ hung tìm thấy tại vùng Tell el-Yahudiya[45] và 60 con bọ hung khác tại nhiều nơi[46][47][48][49]; 2 con ấn hình trụ[50], 1 bức tượng tại Elephantine[51]; 11 bản khắc trên đá ghi tên các thành viên trong gia đình ông và 2 vị quan: thủ quỹ Senebi và tổng quản cấp cao Nebankh[37] tại Wadi el Shatt el-Rigal[52], đảo Sehel[53], Konosso[54] và Philae[54][55]; 2 tấm bia đá tại Abydos[40][56]; 2 nhà thờ tại Karnak[57]; 2 bức tượng của thần SobekHorus được nhà vua cho dựng tại Faiyum[35].

Tên của ông cũng xuất hiện trong danh sách các vua Karnak (mục thứ 34)[58]vua Turin (cột 6, dòng 25).

Lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Hai ngôi mộ mang số hiệu S9 và S10 tại vùng Abydos được cho là thuộc về của 3 anh em nhà vua. Ngôi mộ S9 là của Neferhotep, trong khi S10 là của Sobekhotep IV[59][60]. Theo nhà khảo cổ Josef Wegner, Sihathor được chôn trong một ngôi mộ chưa được hoàn thành, nằm phía đông mộ S9 và đông bắc mộ S10[61].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ S. Pernigotti: La statuaria egiziana nel Museo Civico Archeologico di Bologna, Bologna 1980, 29–30, pl.27–29.
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m K.S.B. Ryholt: The Political Situation in Egypt during the Second Intermediate Period, c.1800–1550 BC, Carsten Niebuhr Institute Publications, vol. 20. Copenhagen: Museum Tusculanum Press, 1997, excerpts available online here.
  3. ^ a ă â b c Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên encyclo
  4. ^ Redford, Donald B. biên tập (2001). “Egyptian King List”. The Oxford Encyclopedia of Ancient Egypt, Volume 2. Oxford University Press. tr. 626–628. ISBN 978-0-19-510234-5. 
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên grimal
  6. ^ a ă â Michael Rice: Who is who in Ancient Egypt, Routledge London & New York 1999, ISBN 0-203-44328-4, see p. 131
  7. ^ a ă Gae Callender: The Middle Kingdom Renaissance (c. 2055–1650 BC) in Ian Shaw (editor): The Oxford History of Ancient Egypt, Oxford University Press (2004), ISBN 978-0-19-280458-7
  8. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên hornung
  9. ^ Thomas Schneider: Lexikon der Pharaonen, Patmos 2002, ISBN 978-3-491-96053-4
  10. ^ Alan H. Gardiner: The royal canon of Turin, Griffith Institute new edition (1988) ISBN 978-0900416484
  11. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên graj1
  12. ^ a ă Flinders Petrie, Scarabs and cylinders with names (1917), available copyright-free here, pl. XVIII
  13. ^ Labib Habachi: New Light on the Neferhotep I Family, as Revealed by Their Inscriptions in the Cataract Area in: Mélange Dunham, Londres 1981, pp. 77–81
  14. ^ a ă William C. Hayes: The Scepter of Egypt: A Background for the Study of the Egyptian Antiquities in The Metropolitan Museum of Art. Vol. 1, From the Earliest Times to the End of the Middle Kingdom, MET Publications 1978, available online, see p. 342–344 and p. 349–350
  15. ^ a ă Michel Dewachter: Le roi Sahathor et la famille de Neferhotep I, Revue d'égyptologie, ISSN 0035-1849 (1976) vol.28, p. 66–73
  16. ^ Pascal Vernus: "Sur deux inscriptions du Moyen Empire (Urk. VII, 36 ; Caire JE. 51911)", Bulletin de la Société d'Égyptologie, Genève (BSEG) 13, 1989, p. 173–181, available online.
  17. ^ Jewellery from at Buhen, now in the University of Pennsylvania Museum of Archaeology and Anthropology E 10755, initially attributed to Amenemhat III, then reattributed to Neferhotep I. Reference: David Randall-MacIver, Sir Leonard Woolley: Buhen, Philadelphia: University Museum 1911, available online p. 192, 201, 234, pl. 74
  18. ^ Seal impression of Neferhotep I at Mirgissa. Reference: Dows Dunham, George Andrew Reisner, Noel F Wheeler: Uronarti, Shalfak, Mirgissa, Boston Museum of Fine Arts 1967, p. 163 and 172
  19. ^ Percy E. Newberry: Scarabs an introduction to the study of Egyptian seals and signet rings, with forty-four plates and one hundred and sixteen illustrations in the text, 1906, available online copyright-free see plate X no 5, and page 122.
  20. ^ Olga Tufnell: Studies on Scarab Seals, vol. II, Aris & Philips, Warminster, 1984, pp. 142, 180 [2nd, 4th–9th, 11th–13th], see also seals No. 1788, 1803, 2898–2899, 3110–3116, 3118–3130.
  21. ^ Two seals of Neferhotep I in the Petrie Museum on Digital Egypt. See also on the online catalog of the museum here and here.
  22. ^ Two scarabs of Neferhotep I in the Metropolitan Museum of Art: [1] and [2]
  23. ^ Jean Yoyotte: Le Soukhos de la Maréotide et d'autres cultes régionaux du Dieu-Crocodile d'après les cylindres du Moyen Empire, Bulletin de l'Institut Français d'Archeologie Orientale (BIFAO) 56, 1957, p. 81–95 available online Lưu trữ 2014-10-06 tại Wayback Machine. see p. 86 1.o
  24. ^ Flinders Petrie: Buttons and Design Scarabs, 1925, pl. XXIV and XXVI
  25. ^ Labib Habachi, Gerhard Haeny et Friedrich Junge: Elephantine IV : The Sanctuary of Heqaib, Philippe von Zabern, Mainz, 1985, p. 115, pl. 201–202 [a-b].
  26. ^ Flinders Petrie: A season in Egypt, 1888, XV [479]
  27. ^ a ă Karl Richard Lepsius: Denkmäler aus Ägypten und Äthiopien , 1849, Tafel II, Band IV, available online see p. 151 plates g and h
  28. ^ Robert Delia: New Rock Inscriptions of Senwosret III, Neferhotep I, Penpata, and Others at the First Cataract, Bulletin of the Egyptological Seminar (BES) 1992, vol.11 1991, p. 5–22
  29. ^ a ă â Jacques de Morgan, U. Bouriant, Georges Legrain, Gustave Jéquier, Alessandro Barsanti: Catalogue des monuments et inscriptions de l'Égypte antique, Tome I 1894
  30. ^ Stela Cairo JE 35256, description and analysis in Anthony Leahy: A Protective Measure at Abydos in the Thirteenth Dynasty, Journal of Egyptian archaeology A. 1989, vol. 75, pp. 41–60
  31. ^ Auguste Mariette-Bey: Karnak. Étude topographique et archéologique avec un appendice comprenant les principaux textes hiéroglyphiques découverts ou recueillis pendant les fouilles exécutées a Karnak, Leipzig, 1875, available online see p. 45 pl. 8.
  32. ^ Entry 37th in the numbering followed by Baker in his encyclopedia of the pharaohs
  33. ^ Following Kim Ryholt's reconstruction of the Turin canon. This corresponds to the 6th column, 25th row in Alan H. Gardiner and Jürgen von Beckerath's reading of the canon.
  34. ^ a ă Wolfram Grajetzki: The Middle Kingdom of Ancient Egypt, London 2006 ISBN 978-0-7156-3435-6, tr.71-73
  35. ^ a ă Darrell D. Baker: The Encyclopedia of the Pharaohs: Volume I - Predynastic to the Twentieth Dynasty 3300–1069 BC, Stacey International, 2008, tr. 252–254, ISBN 978-1-905299-37-9
  36. ^ F. Debono: Expedition archeologique royale au desert oriental (Kef-Kosseir), ASAE 51 (1951): 1-33.
  37. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :0
  38. ^ Redford, Donald B., ed. (2001). "Egyptian King List". The Oxford Encyclopedia of Ancient Egypt, Volume 2. Oxford University Press. tr. 626–628. ISBN 978-0-19-510234-5
  39. ^ Nicolas Grimal: A History of Ancient Egypt, Wiley-Blackwell 1994, tr.184, ISBN 978-0-631-19396-8
  40. ^ a ă Gae Callender: The Middle Kingdom Renaissance (c. 2055–1650 BC) in Ian Shaw (editor): The Oxford History of Ancient Egypt, Oxford University Press (2004), ISBN 978-0-19-280458-7
  41. ^ Erik Hornung (editor), Rolf Krauss (editor), David A. Warburton (editor): Ancient Egyptian Chronology, Handbook of Oriental Studies, Brill 2012, available online copyright-free, tr. 176 & 492
  42. ^ Thomas Schneider: Lexikon der Pharaonen, Patmos 2002, ISBN 978-3-491-96053-4
  43. ^ “Jewellery from at Buhen (tr.192, 201, 234)”. 
  44. ^ Seal impression of Neferhotep I at Mirgissa. Dows Dunham, George Andrew Reisner, Noel F Wheeler: Uronarti, Shalfak, Mirgissa, Boston Museum of Fine Arts 1967, tr.163, 172
  45. ^ Percy E. Newberry: Scarabs an introduction to the study of Egyptian seals and signet rings, with forty-four plates and one hundred and sixteen illustrations in the text, 1906, available online copyright-free, tr.122.
  46. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :1
  47. ^ Olga Tufnell: Studies on Scarab Seals, vol. II, Aris & Philips, Warminster, 1984, tr.142 và 180
  48. ^ Two seals of Neferhotep I: [1] & [2].
  49. ^ Two scarabs of Neferhotep I: [1] and [2
  50. ^ Jean Yoyotte: Le Soukhos de la Maréotide et d'autres cultes régionaux du Dieu-Crocodile d'après les cylindres du Moyen Empire, Bulletin de l'Institut Français d'Archeologie Orientale (BIFAO) 56, 1957, tr. 81–95 available online
  51. ^ Labib Habachi, Gerhard Haeny et Friedrich Junge: Elephantine IV: The Sanctuary of Heqaib, Philippe von Zabern, Mainz, 1985, tr. 115
  52. ^ Flinders Petrie: A season in Egypt, 1888
  53. ^ Robert Delia: New Rock Inscriptions of Senwosret III, Neferhotep I, Penpata, and Others at the First Cataract, Bulletin of the Egyptological Seminar (BES) 1992, vol.11, 1991, tr. 5–22
  54. ^ a ă Karl Richard Lepsius: Denkmäler aus Ägypten und Äthiopien, 1849, Tafel II, Band IV, available online
  55. ^ Jacques de Morgan, U. Bouriant, Georges Legrain, Gustave Jéquier, Alessandro Barsanti: Catalogue des monuments et inscriptions de l'Égypte antique, Tome, 1894
  56. ^ Stela Cairo JE 35256, description and analysis in Anthony Leahy: A Protective Measure at Abydos in the Thirteenth Dynasty, Journal of Egyptian archaeology A. 1989, vol. 75, tr. 41–60
  57. ^ Auguste Mariette-Bey: Karnak. Étude topographique et archéologique avec un appendice comprenant les principaux textes hiéroglyphiques découverts ou recueillis pendant les fouilles exécutées a Karnak, Leipzig, 1875, available online
  58. ^ Karnak king list (en.wiki)
  59. ^ Wegner, Josef W. (2015). "A royal necropolis at south Abydos: New Light on Egypt's Second Intermediate Period". Near Eastern Archaeology. 78 (2): 68–78
  60. ^ Wegner, J.; Cahail, K. (2015). "Royal Funerary Equipment of a King Sobekhotep at South Abydos: Evidence for the Tombs of Sobekhotep IV and Neferhotep I?". JARCE. 15: 123–164.
  61. ^ Josef W. Wegner, lecture at the University of Chicago Oriental Institute. On Youtube The Pharaohs of Anubis-Mountain, ngày 28 tháng 10 năm 2015
Tiền vị
Sobekhotep III
Pharaon của Ai Cập
Vương triều thứ Mười Ba của Ai Cập
Kế vị
Sobekhotep IV