Neferhotep I

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Khasekhemre Neferhotep I là một trong những pharaoh cầm quyền hùng mạnh nhất của Vương triều thứ 13. Ông đã trị vì trong khoảng 11 năm vài tháng, được cho là khá dài đối với các vị vua thời đó[1][2].

Tượng của Neferhotep I được tìm thấy tại một nhà thờ ở Karnak

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Neferhotep I xuất thân trong một gia đình không mang dòng máu hoàng gia tại vùng Thebes[3][4]. Ông nội ông, Nehy, vốn là một chỉ huy của quân đội. Nehy lấy vợ là Senebtisi và chỉ có một người con trai duy nhất là Haankhef. Haankhef lấy Kemi và sinh được 3 mặt con, đều trở thành vua: Neferhotep I, SihathorSobekhotep IV[2].

Thay vì giấu đi nguồn gốc xuất thân của mình, cả ba anh em Neferhotep I lại khẳng định điều này thông qua những tấm bia và những kỷ vật hình bọ hung. Theo các nhà nghiên cứu, có thể là họ muốn tách biệt ra khỏi những vị vua tiền nhiệm, nhưng đó chỉ là phỏng đoán[2].

Nữ thần Anuket ban sự sống cho Neferhotep (đảo Sehel)

Vợ của Neferhotep I tên là Senebsen. Ông có ít nhất 2 người con, được đặt theo tên của cha mẹ ông, là Haankhef và Kemi[2][5]. Một vị hoàng tử chết yểu là Wahneferhotep có thể là con ông, vì trên quan tài nhỏ đó có đề cập đến một cái Neferhotep[6].

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Sihathor đã đồng cai trị trong một vài tháng cuối cùng trị vì của Neferhotep[7]. Ông chưa bao giờ có được một triều đại độc lập cho mình do đã chết trước Neferhotep. Sau đó, có thể Neferhotep đã chia sẻ ngai vàng với người em còn lại, tức Sobekhotep IV. Có 2 bản khắc tại đảo Sehel được cho là minh chứng cho điều này[7]. Một bản khắc khác tại Wadi Hammamat cho thấy 2 khung vỏ đạn chứa tên của Neferhotep I và Sobekhotep IV được đặt ngang hàng kế nhau[1][8]. Vài nhà khảo cổ nghĩ rằng cả 2 vua đã đồng cai trị trong một thời gian ngắn, nhưng Kim Ryholt phủ nhận điều này. Ông cho rằng, Sobekhotep cho làm như vậy để tưởng nhớ người anh của mình[2].

Theo các nhà nghiên cứu, các mốc trị vì của ông có thể là:

Bản khắc trên đá tại Konosso cho thấy 3 vị thần Satis, MinMontu (trái qua) cùng khung tên của nhà vua

Công trình[sửa | sửa mã nguồn]

Neferhotep I được biết đến qua rất nhiều kỷ vật được tìm thấy khá rộng rãi trên toàn Ai Cập[14][15]: 1 kỷ vật bọ hung tìm thấy tại vùng Tell el-Yahudiya[16] và 60 con bọ hung khác tại nhiều nơi[6][17][18][19]; 2 con ấn hình trụ[20], 1 bức tượng tại Elephantine[21]; 11 bản khắc trên đá ghi tên các thành viên trong gia đình ông và 2 vị quan: thủ quỹ Senebi và tổng quản cấp cao Nebankh[2] tại Wadi el Shatt el-Rigal[22], đảo Sehel[23], Konosso[24] và Philae[24][25]; 2 tấm bia đá tại Abydos[11][26]; 2 nhà thờ tại Karnak[27]; 2 bức tượng của thần SobekHorus được nhà vua cho dựng tại Faiyum[1].

Tên của ông cũng xuất hiện trong danh sách các vua Karnak (mục thứ 34)[28]vua Turin (cột 6, dòng 25).

Lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Hai ngôi mộ mang số hiệu S9 và S10 tại vùng Abydos được cho là thuộc về của 3 anh em nhà vua. Ngôi mộ S9 là của Neferhotep, trong khi S10 là của Sobekhotep IV[29][30]. Theo nhà khảo cổ Josef Wegner, Sihathor được chôn trong một ngôi mộ chưa được hoàn thành, nằm phía đông mộ S9 và đông bắc mộ S10[31].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Darrell D. Baker: The Encyclopedia of the Pharaohs: Volume I - Predynastic to the Twentieth Dynasty 3300–1069 BC, Stacey International, 2008, tr. 252–254, ISBN 978-1-905299-37-9
  2. ^ a ă â b c d đ K.S.B. Ryholt: The Political Situation in Egypt during the Second Intermediate Period, c.1800–1550 BC, Carsten Niebuhr Institute Publications, vol. 20. Copenhagen: Museum Tusculanum Press, 1997, available here, tr.231-232
  3. ^ Michael Rice: Who is who in Ancient Egypt, Routledge London & New York 1999, ISBN 0-203-44328-4, tr.131
  4. ^ Pascal Vernus: "Sur deux inscriptions du Moyen Empire (Urk. VII, 36; Caire JE. 51911)", Bulletin de la Société d'Égyptologie, Genève (BSEG) 13, 1989, tr. 173–181, available online.
  5. ^ Labib Habachi: New Light on the Neferhotep I Family, as Revealed by Their Inscriptions in the Cataract Areain: Mélange Dunham, Londres 1981, tr. 77–81
  6. ^ a ă William C. Hayes: The Scepter of Egypt: A Background for the Study of the Egyptian Antiquities in The Metropolitan Museum of Art. Vol. 1, From the Earliest Times to the End of the Middle Kingdom, MET Publications 1978, available online, tr. 342–344 & tr. 349–350
  7. ^ a ă Wolfram Grajetzki: The Middle Kingdom of Ancient Egypt, London 2006 ISBN 978-0-7156-3435-6, tr.71-73
  8. ^ F. Debono: Expedition archeologique royale au desert oriental (Kef-Kosseir), ASAE 51 (1951): 1-33.
  9. ^ Redford, Donald B., ed. (2001). "Egyptian King List". The Oxford Encyclopedia of Ancient Egypt, Volume 2. Oxford University Press. tr. 626–628. ISBN 978-0-19-510234-5
  10. ^ Nicolas Grimal: A History of Ancient Egypt, Wiley-Blackwell 1994, tr.184, ISBN 978-0-631-19396-8
  11. ^ a ă Gae Callender: The Middle Kingdom Renaissance (c. 2055–1650 BC) in Ian Shaw (editor): The Oxford History of Ancient Egypt, Oxford University Press (2004), ISBN 978-0-19-280458-7
  12. ^ Erik Hornung (editor), Rolf Krauss (editor), David A. Warburton (editor): Ancient Egyptian Chronology, Handbook of Oriental Studies, Brill 2012, available online copyright-free, tr. 176 & 492
  13. ^ Thomas Schneider: Lexikon der Pharaonen, Patmos 2002, ISBN 978-3-491-96053-4
  14. ^ “Jewellery from at Buhen (tr.192, 201, 234)”. 
  15. ^ Seal impression of Neferhotep I at Mirgissa. Dows Dunham, George Andrew Reisner, Noel F Wheeler: Uronarti, Shalfak, Mirgissa, Boston Museum of Fine Arts 1967, tr.163, 172
  16. ^ Percy E. Newberry: Scarabs an introduction to the study of Egyptian seals and signet rings, with forty-four plates and one hundred and sixteen illustrations in the text, 1906, available online copyright-free, tr.122.
  17. ^ Olga Tufnell: Studies on Scarab Seals, vol. II, Aris & Philips, Warminster, 1984, tr.142 và 180
  18. ^ Two seals of Neferhotep I: [1] & [2].
  19. ^ Two scarabs of Neferhotep I: [1] and [2
  20. ^ Jean Yoyotte: Le Soukhos de la Maréotide et d'autres cultes régionaux du Dieu-Crocodile d'après les cylindres du Moyen Empire, Bulletin de l'Institut Français d'Archeologie Orientale (BIFAO) 56, 1957, tr. 81–95 available online
  21. ^ Labib Habachi, Gerhard Haeny et Friedrich Junge: Elephantine IV: The Sanctuary of Heqaib, Philippe von Zabern, Mainz, 1985, tr. 115
  22. ^ Flinders Petrie: A season in Egypt, 1888
  23. ^ Robert Delia: New Rock Inscriptions of Senwosret III, Neferhotep I, Penpata, and Others at the First Cataract, Bulletin of the Egyptological Seminar (BES) 1992, vol.11, 1991, tr. 5–22
  24. ^ a ă Karl Richard Lepsius: Denkmäler aus Ägypten und Äthiopien, 1849, Tafel II, Band IV, available online
  25. ^ Jacques de Morgan, U. Bouriant, Georges Legrain, Gustave Jéquier, Alessandro Barsanti: Catalogue des monuments et inscriptions de l'Égypte antique, Tome, 1894
  26. ^ Stela Cairo JE 35256, description and analysis in Anthony Leahy: A Protective Measure at Abydos in the Thirteenth Dynasty, Journal of Egyptian archaeology A. 1989, vol. 75, tr. 41–60
  27. ^ Auguste Mariette-Bey: Karnak. Étude topographique et archéologique avec un appendice comprenant les principaux textes hiéroglyphiques découverts ou recueillis pendant les fouilles exécutées a Karnak, Leipzig, 1875, available online
  28. ^ Karnak king list (en.wiki)
  29. ^ Wegner, Josef W. (2015). "A royal necropolis at south Abydos: New Light on Egypt's Second Intermediate Period". Near Eastern Archaeology. 78 (2): 68–78
  30. ^ Wegner, J.; Cahail, K. (2015). "Royal Funerary Equipment of a King Sobekhotep at South Abydos: Evidence for the Tombs of Sobekhotep IV and Neferhotep I?". JARCE. 15: 123–164.
  31. ^ Josef W. Wegner, lecture at the University of Chicago Oriental Institute. On Youtube The Pharaohs of Anubis-Mountain, ngày 28 tháng 10 năm 2015