Scorpion II

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Scorpion II
Tiên vương:
Ka?
Pharaông của Ai Cập
Tiền triều đại
Kế vị:
Narmer?


Scorpion, cũng được gọi là Vua Scorpion (Vua Bò Cạp) hay Scorpion II, là một trong hai vị vua mang tên Scorpion ở vùng Thượng Ai Cập, vào thời Tiền triều đại Ai Cập.

Tên và chức danh[sửa | sửa mã nguồn]

Tên và chức danh của vị vua này không được biết đầy đủ. Theo nhận định của nhiều học giả (T. Wilkinson, Renée Friedman, Bruce Trigger), thời Scorpion II là thời kỳ Ai Cập bị chia thành nhiều vương quốc nhỏ và họ đánh nhau liên tục trong nhiều năm.

Bằng chứng duy nhất chứng minh sự có mặt của vua Scorpion II là Scorpion Macehead, được James E. Quibell và Frederick W. Green tìm thấy trong một ngôi đền tại Nekhen (Hierakonpolis) vào các năm 1897–1898[1]. Đây có lẽ là bức phù điêu, mô tả vị vua này đang cày ruộng (ông ta có chiếc cuốc đang cày ruộng, phía sau là người hầu đang gieo hạt)[2]. Các phiến đá được khai quật tại Tarkhan và Minshat Abu Omar, miêu tả vua (dưới dạng con bò cạp) đang chiến đấu với kẻ thù. Một cuộc khai quật nữa ở ghềnh thứ hai của sông Nile, cách không xa Nasser-reservoire tại Gebel Sheikh Suliman (Sudan), tìm thấy một phiến đá mô tả con bò cạp đang bước qua xác kẻ thù bị giết chết. Cái chết của họ (kẻ thù) được mô tả là bị trúng tên, cơ thể bị dốc ngược (hướng chân lên trời); hai người nữa còn cầm cung bắn tên. Vì nhận diện những người chết này đang cầm cung và có lông đà điểu mà người ta xác định đó là người Nubia. Các con bò cạp sau chiến thắng đã tiến hành "hiến tế" kẻ thù người Nubia, bằng chứng là còn lại một con dao, một sợi dây - có lẽ để siết cổ kẻ thù (hay trói lại) rồi giết chết. Toàn bộ khung cảnh được hiểu như là vua Scorpion II ăn mừng chiến thắng của mình chống lại các người Nubians thù địch[3]. Biểu tượng "con bò cạp" trên cái cày (có chỗ ghi là chùy) đại diện cho quyền lực của vua.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời vua Scorpion II, các bảng Hunters Palette, các Palette Libya và Narmer Palette, cho thấy một nền nông nghiệp sơ khai được hình thành. Trong bảng, người ta thấy sông, cây cỏ và muôn thú; hệ thống kênh tưới nước ở Ai Cập cổ. Người Ai cập thời kỳ này thờ đa thần, nhưng họ lại thờ các vị thần quan trọng như: Horus, Seth, Min, Nemty, Nekhbet, Bat and Wepwawet. Họ cũng có thờ con vật, nhiều nhất là con rắn cổ beo; hai con chó Palette...... Một điểm mới là đã "xuất hiện sinh vật có cánh" mà người Ai Cập cổ gọi là "Chimeras có cánh", có tên là Sefer - đại diện cho quyền lực và bao lực, mà nhiều học giả nghi rằng nó có nguồn gốc từ Lưỡng Hà. Một bằng chứng nữa chứng minh ảnh hưởng của Lưỡng Hà qua Ai Cập, là hình một chiến binh chiến đấu hai con sư tử với hai bàn tay trần của mìn. Ngay cả nhà vua cũng nuôi 2 con sư tử ở hai bên hông, 2 con nhỏ đặt ở lòng bàn tay. Ở tại Minshat Abu Omar, Hierakonpolis và Naqada; người ta nhận thấy kiến ​​trúc ngôi mộ và các mặt hàng được giao dịch (chẳng hạn như các công cụ, vòng cổ hạt và con dấu xi lanh) chứng minh một ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu rộng đáng ngạc nhiên của văn hóa Lưỡng Hà và tôn giáo của thời kỳ đầu người Ai Cập. Các ngôi mộ được xây dựng với kết cấu rất phức tạp và ổn định đã được sao chép rõ ràng từ các tòa nhà Lưỡng Hà. Thậm chí, một số học giả đang cho rằng các thủ lĩnh cai trị Ai Cập, có lẽ xuất thân từ vùng đất Lưỡng Hà[4].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "The Narmer Palette", The Ancient Egypt, retrieved ngày 19 tháng 9 năm 2007
  2. ^ Krzysztof Marek Ciałowicz: La Naissance d'un Royaume:. L'Egypte des la periode prédynastique à la fin de la Ière Dynastie Inst. Archeologii Uniw. Jagiellońskiego, Kraków 2001, ISBN 83-7188-483-4, p. 97 & 98.
  3. ^ Werner Kaiser, Günter Dreyer: Umm el-Qaab: Nachuntersuchungen im frühzeitlichen Königsfriedhof. 2. Vorbericht. Trong: MDAIK Nr. 38. von Zabern, Mainz 1982, ISBN 3-8053-0552-4, p.70.
  4. ^ Krzysztof Marek Ciałowicz: La Naissance d'un Royaume:. L'Egypte des la periode prédynastique à la fin de la Ière Dynastie Inst. Archeologii Uniw. Jagiellońskiego, Kraków 2001, ISBN 83-7188-483-4, p. 97 & 98.