Pinedjem I

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Pinedjem I là một Đại tư tế của Amun và đã cai trị miền nam Ai Cập song song với vua Smendes (Vương triều thứ 21)[1] trong khoảng năm 1070 đến năm 1030 TCN[2].

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Pinedjem I là con của Đại tư tế Piankh[2]; mẹ của ông có thể là Nodjmet. Ông có 3 anh em trai (Heqanefer, Heqamaat, Ankhefenmut) và 1 chị em gái (Faienmut). Các bà vợ và những người con của họ:

  • Duathathor-Henuttawy, Chánh cung, được cho là một người con gái của pharaon Ramesses XI. Xác ướp của công chúa được tìm thấy tại ngôi mộ DB320.
    • Psusennes I, vị quân vương thứ ba của Vương triều thứ 21 tại Tanis.
    • Mutnedjmet, Chính cung của Psusennes I, có thể là mẹ của pharaon Amenemope[3].
    • Henuttawy B, danh hiệu "Nữ ca kĩ của Amun", được chôn cất tại ngôi mộ MMA 60[4].
    • Maatkare Mutemhat, danh hiệu "Người vợ thần thánh của Amun", xác ướp được chôn cùng với mẹ[5][6].
    • Masaharta (?), thừa tước "Đại tư tế của Amun" của Pinedjem I, chôn tại ngôi mộ DB320[7][8].
    • Djedkhonsuefankh (?)[8], chỉ biết qua cỗ quan tài của con trai (đã thất lạc)[9]. Trên đó có mang khung tên của Pinedjem (cũng có thể là Pinedjem II[10]). Cai trị sau Masaharta, được 1 năm thì mất, có lẽ do trọng thương[9][11][12].
    • Menkheperre (?), kế vị Djedkhonsuefankh[8][9].
  • Isetemkheb A, tên được nhắc đến trên một viên gạch cùng với chồng[6][13].
  • Tentnabekhenu, chỉ được biết qua một số ít các vật dụng tang lễ của con gái bà[3][14].
    • Nauny, được cho là con gái của Pinedjem I vì công chúa được chôn tại TT358 (mộ của Ahmose-Meritamun), gần ngôi mộ MMA 60 của Henuttawy B và Djedmutesankh (vợ của Djedkhonsuefankh ?), con gái và con dâu của Pinedjem I. Nauny mất ở độ tuổi 70[14].
Tượng lớn của Ramesses II, về sau bị Pinedjem I chiếm đoạt

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng cổ bằng vàng của Pinedjem I
Một bức tượng shabti của Pinedjem I

Theo những giả thuyết sau này, Đại tư tế Piankh mất khi Pinedjem I còn khá nhỏ để kế vị ông, vì thế mà Herihor đã lên làm Đại tư tế. Sau khi Herihor qua đời, Pinedjem đã lấy lại danh hiệu[15]. Tuy nhiên, cũng có thể Herihor mới là người tiền vị của Piankh[16].

Trong thời gian cai trị của mình, Pinedjem I tăng cường quyền kiểm soát của mình đối với cả Trung và Thượng Ai Cập. Ông đã kết hôn với con gái của pharaon Ramesses XI để xây dựng mối quan hệ với hoàng gia. Khoảng năm thứ 16 của vua Smendes, Pinedjem chính thức xưng vương[17][18].

Pinedjem I cũng đã quấn lại băng vải của một số xác ướp hoàng gia thuộc Vương triều thứ 17 đến 20 và cho tái chôn cất tại ngôi mộ DB320, cũng là nơi mà xác ướp của Pinedjem được tìm thấy. Ông cũng đã cho trùng tu và bổ sung thêm nhiều đền đài dọc hai bên bờ sông Nin tại Thebes. Pinedjem cũng đã chiếm đoạt một bức tượng khổng lồ được dựng dưới thời Ramesses II tại đền Karnak. Dưới chân tượng là một công chúa Bintanath, cũng được đổi thành tên của Maatkare[19][20].

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Aidan Dodson (2012), Afterglow of Empire: Egypt from the Fall of the New Kingdom to the Saite Renaissance, Đại học Hoa Kỳ tại Cairo ISBN 978-9774165313
  • Aidan Dodson & Dyan Hilton (2004), The Complete Royal Families of Ancient Egypt, Thames & Hudson ISBN 0-500-05128-3
  • Beatrice L. Goff (2014), Symbols of Ancient Egypt in the Late Period, Nhà xuất bản Walter de Gruyter GmbH & Co KG ISBN 978-3110801804

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ralph Ellis (2010), Solomon, Pharaoh of Egypt: The capital city of the United Monarchy was Tanis in Egypt, Nhà xuất bản Edfu Books, tr.295 ISBN 978-1905815234
  2. ^ a ă Michael Rice (2002), Pinudjem - Who's who in ancient Egypt, Nhà xuất bản Routledge, tr.154 ISBN 978-1134734207
  3. ^ a ă Dodson & Hilton, sđd, tr.207
  4. ^ Dodson & Hilton, sđd, tr.205
  5. ^ Dodson (2012), sđd, tr.54-55 link
  6. ^ a ă Dodson & Hilton, sđd, tr.206
  7. ^ Françoise Dunand & Roger Lichtenberg (2006), "Masaharta" - Mummies and Death in Egypt, Nhà xuất bản Đại học Cornell, tr.197 ISBN 978-0801444722
  8. ^ a ă â Dodson & Hilton, sđd, tr.202
  9. ^ a ă â Dodson (2012), sđd, tr.57 link
  10. ^ Andrzej Niwiński (1984), Three More Remarks in the Discussion of the History of the Twenty-First Dynasty, BES 6, tr.81-88
  11. ^ Aidan Dodson (2000), Monarchs of the Nile, Nhà xuất bản American University in Cairo Press, tr.156 ISBN 978-9774246005
  12. ^ Kenneth Kitchen (1996), The Third Intermediate Period in Egypt (1100–650 BC), Warminster: Aris & Phillips Limited, tr.260 ISBN 978-0856682988
  13. ^ Dodson (2012), sđd, tr.46 link
  14. ^ a ă “Princess Nany”. sites.google.com. 
  15. ^ Karl Jansen-Winkeln (1992), Das Ende des Neuen Reiches, ZAS 119, tr.22-37
  16. ^ Goff, sđd, tr.52-53 link
  17. ^ Goff, sđd, tr.57 link
  18. ^ John H. Taylor, "Nodjmet, Payankh and Herihor: The Early Twenty-First Dynasty Reconsidered", trong: C.J. Eyre (1998), Proceedings of the Seventh International Congress of Egyptologists, 3–9 September 1995, Leuven, tr.1143-1155
  19. ^ John H. Taylor (1996), Unwrapping a Mummy: The Life, Death, and Embalming of Horemkenesi, Nhà xuất bản Đại học Texas, tr.33-34 ISBN 978-0292781412
  20. ^ Robert Kriech Ritner (2009), The Libyan Anarchy: Inscriptions from Egypt's Third Intermediate Period, Nhà xuất bản Society of Biblical Lit, tr.113-116 ISBN 978-1589831742