Bước tới nội dung

Ruồi giấm thường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Drosophila melanogaster
Con đực Drosophila melanogaster
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Arthropoda
Lớp (class)Insecta
Bộ (ordo)Diptera
Họ (familia)Drosophilidae
Chi (genus)Drosophila
Phân chi (subgenus)Sophophora
Nhóm loài (species group)melanogaster group
Phân nhóm loài (species subgroup)melanogaster subgroup
Phức hợp loài (species complex)melanogaster complex
Loài (species)D. melanogaster
Danh pháp hai phần
Drosophila melanogaster
Meigen, 1830[1]

Ruồi giấm thường hay Ruồi trái cây thường (Drosophila melanogaster) là một loài ruồi, thuộc họ Drosophilidae. Bắt đầu từ Charles W. Woodworth, loài này là một động vật mô hình được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu sinh học gen, sinh lý học, sinh bệnh học vi khuẩn và tiến hóa lịch sử sự sống. Nó thường được sử dụng bởi vì nó là một loài là dễ dàng để chăm sóc, sinh sản một cách nhanh chóng, và đẻ trứng nhiều.[2]

Ngoại hình

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tự nhiên, ruồi giấm có màu vàng đất, mắt màu đỏ gạch và nhiều vằn đen nằm ngang trên bụng.

Cơ thể ruồi giấm được chia làm ba phần: đầu, ngựcbụng. Đầu ruồi khá tròn, có mắt kép to và rõ. Mắt ruồi được cấu tạo từ hàng trăm mắt đơn nhỏ li ti và chiếm phần lớn bề mặt đầu. Màu đỏ gạch của mắt ruồi trong tự nhiên được cấu thành từ hai sắc tố: xanthommatin, sắc tố màu nâu có nguồn gốc từ tryptophan, và drosopterin, nhóm sắc tố màu đỏ có nguồn gốc từ guanosine triphosphate.[3] Giữa hai mắt ruồi là một cặp ăng-ten ngắn, trông như lông vũ tí hon hoặc lông chìa ra và được dùng để phát hiện mùi hương, dòng khí lưu chuyển hay rung động.[4] Họ ruồi Drosophila cũng có lông cứng - những sợi lông ngắn, cứng - phân bố trên khắp đầu và thân dùng để cảm nhận môi trường.

Tầm nhìn từ phía trước

Ngực ruồi cứng cáp, nối liền ba cặp chân và một cặp cánh. Ruồi có cánh dạng màng mỏng trong suốt với mạch cánh rõ ràng, rộng tầm 4 mm.[5] Trong tiếng Việt, mạch cánh còn có thể gọi là “gân cánh”, nhưng bộ phận này không được cấu thành từ gân. Khi không bay, cánh ruồi nằm phẳng trên lưng. Ngay đằng sau cánh có một cặp núm cân bằng (halteres), vốn được biến đổi từ cánh sau, giúp giữ thăng bằng và phương hướng khi bay.[6]

Tầm nhìn từ bên trên

Chân ruồi được cấu tạo từ năm phần: đốt háng (coxa), đốt chuyển (trochanter), đốt đùi (femur), đốt chày (tibia) và đốt bàn chân (tarsus). Đốt bàn chân lại chia ra làm năm đoạn, với đoạn cuối là chân ruồi, nơi có nhiều cấu trúc bao gồm móng vuốt và phần bám dính. Để bám dính vào bề mặt, ruồi giấm thường D. melanogaster chủ yếu dùng đệm chân, một cấu trúc dẻo kéo dài bên dưới móng vuốt, và seta - các lông cứng nhỏ xen vào đệm chân, có hình dạng giống cái sạn nấu ăn. Móng ruồi cũng có thể dùng để bám vào những bề mặt thô.[7] Ruồi đực có lược giao phối trên đoạn đầu tiên của đốt bàn chân - đây là những sợi nhỏ màu đen trông giống lông ở chân trước, dùng để bám vào con cái khi giao phối.

Hình ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Meigen JW (1830). Systematische Beschreibung der bekannten europäischen zweiflügeligen Insekten. (Volume 6) (PDF) (bằng tiếng Đức). Schulz-Wundermann. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012.
  2. James H. Sang (ngày 23 tháng 6 năm 2001). "Drosophila melanogaster: The Fruit Fly". Trong Eric C. R. Reeve (biên tập). Encyclopedia of genetics. USA: Fitzroy Dearborn Publishers, I. tr. 157. ISBN 9781884964343. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2009.
  3. "ABC transporters involved in transport of eye pigment precursors in Drosophila melanogaster". Methods in Enzymology (bằng tiếng Anh). Academic Press. ngày 1 tháng 1 năm 1998. tr. 213–224. doi:10.1016/S0076-6879(98)92017-1. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  4. Kamikouchi, Azusa; Inagaki, Hidehiko K.; Effertz, Thomas; Hendrich, Oliver; Fiala, André; Göpfert, Martin C.; Ito, Kei (tháng 3 năm 2009). "The neural basis of Drosophila gravity-sensing and hearing". Nature (bằng tiếng Anh). Quyển 458 số 7235. tr. 165–171. doi:10.1038/nature07810. ISSN 1476-4687.
  5. Stewart, Finlay J. (2010). "Modelling visual-olfactory integration in free-flying Drosophila" (bằng tiếng Anh). {{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần |magazine= (trợ giúp)
  6. Dickerson, Bradley H. (ngày 23 tháng 12 năm 2020). "Timing precision in fly flight control: integrating mechanosensory input with muscle physiology". Proceedings of the Royal Society B: Biological Sciences (bằng tiếng Anh). Quyển 287 số 1941. tr. 20201774. doi:10.1098/rspb.2020.1774. ISSN 0962-8452. PMC 7779504. PMID 33323088.
  7. Hüsken, M.; Hufnagel, K.; Mende, K.; Appel, E.; Meyer, H.; Peisker, H.; Tögel, M.; Wang, S.; Wolff, J. (ngày 1 tháng 1 năm 2015). "Adhesive pad differentiation in Drosophila melanogaster depends on the Polycomb group gene Su(z)2". Journal of Experimental Biology (bằng tiếng Anh). doi:10.1242/jeb.108332. ISSN 1477-9145.

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Model Organisms