Bước tới nội dung

Mắt người

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Mắt người là một cơ quan cảm giác đáp ứng với ánh sáng và thực hiện chức năng thị giác. Các tế bào hắc tố (tế bào que và tế bào nón) trong võng mạc cho phép con người cảm nhận ánh sáng, phân biệt màu sắc và nhận biết chiều sâu của hình ảnh. Mắt người có khả năng phân biệt khoảng 10 triệu màu sắc khác nhau[1] và có thể nhận biết được sự hiện diện của một photon đơn lẻ.[2]

Mắt người
Chi tiết
Định danh
Latinhoculus
MeSHD005123
TAA01.1.00.007
A15.2.00.001
FMA54448
Thuật ngữ giải phẫu

Mắt người không chỉ tạo ra hình ảnh mà còn nhận tín hiệu ánh sáng để điều chỉnh kích thước đồng tử, sự điều tiết và ức chế bài tiết hormone melatonin, giúp đồng bộ hóa nhịp sinh học của cơ thể.[3]

Về mặt phôi thai học, mắt bắt đầu hình thành từ tuần thứ ba của phôi kỳ dưới dạng hai túi thị nguyên thủy phát triển từ não trung gian. Trong văn học và đời sống, mắt thường được ví là "cửa sổ tâm hồn".

Giải phẫu học nhãn cầu

[sửa | sửa mã nguồn]
Mô tả cắt lớp nhãn cầu người: Ciliary body: Thể mi; Iris: Mống mắt; Pupil: Đồng tử; Cornea: Giác mạc; Lens: Thủy tinh thể; Vitreous humor: Dịch kính; Retina: Võng mạc; Optic nerve: Dây thần kinh thị giác; Blind spot: Điểm mù.

Mắt người nằm trong hai hốc mắt ở xương sọ, được bảo vệ phía trên bởi lông mày và trán, phía dưới bởi xương gò má. Bên ngoài nhãn cầu được che chở bởi hai mí mắt, lông mi và hệ thống tuyến lệ giúp giữ ẩm và làm sạch bề mặt mắt.[4]

Cấu tạo nhãn cầu gồm các lớp và thành phần chính:

  • Lớp ngoài cùng: Gồm củng mạc (tròng trắng) bao bọc phía sau và giác mạc trong suốt ở phía trước. Phủ lên củng mạc là một màng mỏng gọi là kết mạc.
  • Lớp giữa (Màng bồ đào): Gồm mống mắt (tạo nên màu mắt và đồng tử), thể mihắc mạc (chứa nhiều mạch máu nuôi dưỡng mắt).
  • Lớp trong cùng:võng mạc, nơi chứa các tế bào cảm quang. Tín hiệu thần kinh từ võng mạc tập trung tại gai thị để đi vào dây thần kinh thị giác.
  • Các môi trường trong suốt: Gồm thủy dịch (ở tiền phòng và hậu phòng), thủy tinh thể (ống kính có khả năng thay đổi độ cong để điều tiết) và dịch kính (khối gel chiếm phần lớn thể tích nhãn cầu).

Nhãn cầu di động linh hoạt nhờ hệ thống 6 cơ vận nhãn: 4 cơ trực (trên, dưới, ngoài, trong) và 2 cơ chéo (trên và dưới). Các cơ này phối hợp nhịp nhàng dưới sự điều khiển của các dây thần kinh sọ não số III, IV và VI.[4]

Quang lý học thị giác

[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động của mắt tương tự như một máy ảnh. Các tia sáng đi qua giác mạc và thủy tinh thể sẽ được hội tụ chính xác trên võng mạc (đặc biệt là tại hoàng điểm) để tạo ra hình ảnh rõ nét.

  • Ở mắt chính thị, hình ảnh hội tụ đúng trên võng mạc.
  • Ở mắt cận thị, hình ảnh hội tụ ở phía trước võng mạc do cầu mắt quá dài hoặc công suất khúc xạ quá lớn.
  • Ở mắt viễn thị, hình ảnh hội tụ ở phía sau võng mạc do cầu mắt ngắn hoặc công suất khúc xạ yếu.
  • Ở mắt loạn thị, các tia sáng không hội tụ tại một điểm mà tạo thành nhiều tiêu điểm do độ cong giác mạc không đều.

Các dấu hiệu bệnh lý nhãn khoa

[sửa | sửa mã nguồn]

Khám mắt có thể giúp bác sĩ phát hiện nhiều bệnh lý toàn thân:

  1. Judd, Deane B.; Wyszecki, Günter (1975). Color in Business, Science and Industry. Wiley-Interscience. ISBN 0-471-45212-2.
  2. CONOVER, EMILY (tháng 7 năm 2016). "Human eye spots single photons". Science News. Vol. 189. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  3. Zimmer, Carl (tháng 2 năm 2012). "Our Strange, Important, Subconscious Light Detectors". Discover Magazine. Truy cập ngày 5 năm 5 năm 2012. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |ngày truy cập= (trợ giúp)
  4. 1 2 "Đại cương về giải phẫu và sinh lý mắt". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2013.