Thanh niên xung phong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thanh niên xung phong là một lực lượng thanh niên do Đảng Đoàn Thanh vận Trung ươngBan Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam[1] thành lập vào ngày 15 tháng 7 năm 1950 để phục vụ Chiến dịch Biên Giới.[2]

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm vụ của thanh niên xung phong rất đa dạng, gồm có vận tải (đạn dược, thương binh, lương thực), mở đường, rà phá bom mìn[2], tiếp đạn, thu dọn chiến trường.[3]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 7 năm 1950, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành lập lực lượng thanh niên xung phong tập trung dài ngày phục vụ cho chiến dịch Biên giới Thu đông 1950 tại núi Hồng, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Lực lượng ban đầu có tên gọi là "Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương", gồm có 225 đội viên, do Vương Bích Vượng, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm đội trưởng.[4] Trong số 225 đội viên ban đầu, chỉ có duy nhất một đội viên nữ làm y tá tên là Lê Kim Hạnh, còn lại là đội viên nam.[3]

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh niên tham gia Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979 hoặc Chiến tranh biên giới Tây Nam do hoàn cảnh lịch sử nên không gọi là thanh niên xung phong mà gọi là thanh niên xung kích[5].

Các lần đổi tên gọi trong lịch sử:[2]

  • Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương (15/7/1950)
  • Đội Thanh niên xung phong (26/3/1953)
  • Đoàn Thanh niên xung phong Trung ương (12/1963)
  • Đội Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước (21/6/1965)
  • Lực lượng Thanh niên xung phong giải phóng miền Nam (20/4/1964)
  • Ban Thanh niên xung phong - Lao động trẻ (3/1986)

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới Đội có Liên phân đội. Một Liên phân đội gồm có các Phân đội (tiểu đội). Ở mỗi Liên phân đội đều có chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam và chi đoàn Thanh niên Cứu quốc. Ở cấp Đội có thành lập Liên chi ủy trực thuộc Đảng ủy Tổng cục Cung cấp.[3]

Độ tuổi của thành viên lúc được tuyển mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh niên xung phong thường mang quần, áo kaki, và mũ tai bèo có màu lục tối. Lưng đeo thắt lưng, chân đi giày vải hoặc dép râu[6]. Thanh niên xung phong miền nam còn mang khăn rằn quấn cổ.[7] Từ năm 2012, Lực lượng Thanh niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh có trang phục bao gồm: huy hiệu, biểu trưng, biểu tượng, biển tên, cấp hiệu, mũ mềm, quần áo ngắn tay, thắt lưng và giày vớ. Đồng phục thanh niên xung phong bao gồm: huy hiệu, mũ tai bèo, quần áo dài tay và giày vải.[8]

Giai đoạn chiến tranh Đông Dương (1950-1954)[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến công[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn khôi phục phát triển kinh tế miền Bắc Việt Nam (1955-1964)[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến công[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn chiến tranh Việt Nam (1965-1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến công[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu quả chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng người chết[sửa | sửa mã nguồn]

  • 10.000 người chết[9]

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • 46.000 người bị thương, 10.000 người bị nhiễm chất độc màu da cam.[12]
  • 4.500 nữ thanh niên xung phong cô đơn không nơi nương tựa[5]. Nhiều nữ thanh niên xung phong bị mắc bệnh hysteria (bệnh thiếu đàn ông, hay khóc cười, la hét điên loạn)[13]

Giai đoạn từ 1976 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ chính sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • 150.000 cựu thanh niên xung phong chưa được hưởng chính sách[5]: 8.779 người bị thương chưa được giải quyết chế độ thương binh; 681 người hy sinh chưa được giải quyết chế độ liệt sĩ; 10.053 người bị nhiễm chất độc màu da cam chưa được giải quyết chế độ; 6.126 người chưa được hưởng chế độ trợ cấp 1 lần; 21.623 người chưa được hưởng chế độ trợ cấp thường xuyên; 14.500 người chưa có bảo hiểm y tế; 1.900 người qua đời mà không có chế độ mai táng phí.[5]

Một số thành viên tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Các danh hiệu lực lượng thanh niên xung phong đã được trao tặng:[2]

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 20 tháng 3 năm 1951, trong chuyến thăm Liên phân đội Thanh niên xung phong 312 làm nhiệm vụ tại cầu Nà Cù (tỉnh Bắc Kạn), chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng 4 câu thơ sau này trở nên nổi tiếng là:

"Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên.”[4][10]

Khẩu hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Cao Vãng (13 tháng 7 năm 2015). “Đội Thanh niên xung phong 36 anh hùng”. Báo Nhân dân. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  2. ^ a ă â b Lê Xuân Sơn (15 tháng 7 năm 2015). “65 năm lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam”. Báo Tiền Phong. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  3. ^ a ă â Lê Xuân Quát (13 tháng 7 năm 2015). “Đội TNXP công tác Trung ương, Đội TNXP đầu tiên”. Hội Cựu thanh niên xung phong Việt Nam. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  4. ^ a ă â Ngô Trọng Cảnh (5 tháng 7 năm 2010). “Tự hào về truyền thống lực lượng thanh niên xung phong”. Báo Ninh Bình. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  5. ^ a ă â b Trần Hằng-Thu Hằng (14 tháng 7 năm 2013). “Đẩy nhanh giải quyết chế độ cho thanh niên xung phong”. Báo VOV. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  6. ^ Đoàn Xuân Hải (28 tháng 3 năm 2016). “Những mái đầu xưa giờ đã bạc”. Báo Thanh niên. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  7. ^ Mai Châm (7 tháng 4 năm 2016). “Ảnh kỷ yếu phong cách "thanh niên xung phong" của học sinh xứ Nghệ”. Báo Dân trí. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  8. ^ Thái Bình (25 tháng 9 năm 2012). “Thanh niên xung phong TP.HCM đổi trang phục mới”. Báo Tuổi trẻ. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  9. ^ a ă â Quốc Phong (28 tháng 8 năm 2014). “Sự hy sinh đang chờ được thừa nhận”. Báo VnExpress. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  10. ^ a ă Hoài Nguyễn (22 tháng 3 năm 2016). “Hình tượng thanh niên xung phong lấp lánh, diệu kỳ, để lại huyền thoại bất tử cho các thế hệ nối tiếp noi theo”. Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  11. ^ Thảo Nguyên (9 tháng 7 năm 2014). “Chuyện nữ Thanh niên xung phong thời hậu chiến”. Báo Giao thông. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  12. ^ Kim Chung (15 tháng 7 năm 2015). “Mãi ngời sáng truyền thống lực lượng Thanh niên xung phong”. Báo Tin tức TTXVN. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2017. 
  13. ^ Cao Tiến Đức – Nguyễn Lê (7 tháng 9 năm 2008). “Nỗi oan của chứng “Hysteria””. Báo Công an Nhân dân. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  14. ^ Hoàng Lam (16 tháng 7 năm 2015). “Chuyện chưa kể về hang Tám Cô”. Báo Dân trí. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Văn Đệ, Lịch sử truyền thống của lực lượng TNXP chống Mỹ cứu nước
  • Nguyễn Văn Đệ, Một thời oanh liệt của nữ TNXP
  • Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam (1944-1975), Hanoi, Nhà xuất bản QĐND, 2005
  • Văn Tùng & Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên), Lịch sử TNXP Việt Nam
  • Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên), TNXP những trang oanh liệt
  • Lê Phong Thái, Tổ chức và hoạt động của đội TNXP chống Mỹ, cứu nước cơ sở, Hà Nội, Nhà xuất bản Thanh Niên, 1967
  • Trần Hữu Đính, “Phong trào thi đua của giai cấp công nhân miền Bắc”