Giáo dục Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giáo dục Việt Nam.png

    Hệ thống Giáo dục Việt Nam
    Giáo dục mầm non
    Giáo dục tiểu học
    Giáo dục trung học
    (Cơ sở, Phổ thông, Trung cấp)
    Giáo dục đại học
    (Cao đẳng, Đại học, Cao học)

    Giáo dục thường xuyên
    Đào tạo từ xa
    Đào tạo tại chức (vừa học vừa làm)

    Công lập
    Tư thục
    Bán công
    Dân lập

Các kỳ thi quan trọng

    Tốt nghiệp trung học phổ thông (cũ)
    Tuyển sinh đại học và cao đẳng (cũ)
    Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia

Giáo dục Việt Nam để chỉ nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ 1976 đến nay). Nền giáo dục này là một sự tiếp nối của giáo dục thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và thừa hưởng một phần di sản của giáo dục Việt Nam Cộng hòa. Khi hai miền Nam và Bắc thống nhất năm 1976 thì khuôn mẫu giáo dục ở miền Bắc tiếp cận với hệ thống giáo dục đã được thiết lập ở miền Nam; cụ thể nhất là học trình 10 năm tiểu học và trung học ở miền Bắc phải phù hợp với học trình 12 năm ở trong Nam. Hai hệ thống này song hành; Miền Bắc tiếp tục hệ 10 năm và miền Nam giữ hệ 12 năm từ năm 1976 đến năm 1981 thì cho áp dụng hệ 12 năm cho toàn quốc.[1] Năm 1975 cũng là năm giải thể tất cả những cơ sở giáo dục tư thục từng hoạt động ở miền Nam Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa.

Triết lý giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Học sinh tiểu học ở Đà Nẵng, Việt Nam.

Giáo dục Việt Nam dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chưa có lời phát biểu rõ ràng và chính thức về triết lý giáo dục của mình. Có người cho rằng Việt Nam cần thiết phải có một triết lý giáo dục và đặt vấn đề là phải chăng "giáo dục [Việt Nam] chưa có một triết lý phù hợp với nhu cầu đổi mới và hội nhập".[2]

Tháng 9 năm 2007, Học viện Quản lý Giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học "Triết lý giáo dục Việt Nam" nhằm tìm câu trả lời cho các câu hỏi: Triết lý giáo dục là gì? Việt Nam đã có triết lý giáo dục chưa? Tại sao triết lý giáo dục lại quan trọng?...[3] Ở hội nghị này, nhiều đại biểu cho rằng nền giáo dục Việt Nam từ trong truyền thống và hiện đại đều có triết lý giáo dục, thể hiện qua những câu như: "Không thầy đố mày làm nên"; "Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu mến thầy"; "Học thầy không tày học bạn"; "Tiên học lễ, hậu học văn"; "Học phải đi đôi với hành"; "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người"; "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu"; v.v... Tuy vậy, theo tường trình của Tạp chí Cộng sản, hội nghị này vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa cụ thể về triết lý giáo dục của Việt Nam.[4] Các bài tường trình của Tạp chí Cộng sản, và của tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội,[5] không nhắc đến triết lý nhân bản, dân tộc, và khai phóng từng tồn tại ở miền Nam Việt Nam từ năm 1955 đến 1975.

Mục tiêu giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Mục tiêu phấn đấu chung của cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng của Việt Nam là thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 142 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết này chỉ rõ những mục tiêu giáo dục như sau:

"... Xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật và quản lý kinh tế đông đảo vững mạnh, ngày càng hoàn chỉnh về trình độ và ngành nghề, vừa có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Đảng, với giai cấp công nhân, với dân tộc, liên hệ chặt chẽ với công nông, vừa có trình độ khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ giỏi, nắm vững những quy luật của tự nhiên và quy luật xã hội, có năng lực tổ chức và động viên quần chúng, đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học, kỹ thuật và quản lý kinh tế do thực tế nước ta đề ra và có khả năng tiến kịp trình độ khoa học, kỹ thuật tiên tiến trên thế giới."[6]

Những quy định trong hiến pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 41, Hiến pháp Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1980: "Sự nghiệp giáo dục do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước chăm lo phát triển cân đối hệ thống giáo dục: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học; phát triển các trường dạy nghề, trường vừa học vừa làm, hệ thống học tại chức; hoàn thành thanh toán nạn mù chữ, tăng cường công tác bổ túc văn hoá, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá và nghề nghiệp của toàn dân. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, gia đình và xã hội cùng với nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng."

Điều 36, Hiến pháp Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1992: "Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng. Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiêp, giáo dục đại học và sau đại học, phổ cập giáo dục tiểu học, xoá nạn mù chữ; phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác. Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác. Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn. Các đoàn thể nhân dân, trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng."

Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân[sửa | sửa mã nguồn]

Các quyết định 1981/QĐ-TTg và 1982/QĐ-TTg vào tháng 10/2016 của Thủ tướng Chính phủ đưa ra các quy định mới về khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và khung trình độ quốc gia. Bạn đọc có thể tìm hiểu trong bài về Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam.

Giáo dục mầm non[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: nhà trẻ

Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo, tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước.

Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí ttuệ,thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tố đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.

Giáo dục cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục cơ bản kéo dài 12 năm và được chia thành 3 cấp: cấp I (tiểu học), cấp II (trung học cơ sở), và cấp III (trung học phổ thông).

Tiểu học (TH)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tiểu học

Cấp tiểu học hay còn được gọi là cấp I, bắt đầu năm 6 tuổi đến hết năm 10 tuổi. Cấp I là một cấp học phổ cập, gồm có 5 trình độ, từ lớp 1 đến lớp 5. Đây là cấp học bắt buộc đối với mọi công dân. Học sinh phải học các môn sau: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, 2, và 3), Khoa học (lớp 4 và 5), Lịch sử (lớp 4 và 5), Địa lý (lớp 4 và 5), Âm nhạc, Mỹ thuật, Đạo đức, Thể dục, Tin học (tự chọn), Tiếng Anh (lớp 3, 4, 5, một số trường cho học sinh học tiếng Anh bắt đầu từ năm lớp 1, lớp 2). Để kết thúc bậc tiểu học, học sinh được xét tốt nghiệp bằng các thành tích được tích luỹ trong 5 năm.

Trung học (TrH)[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ sinh Thành phố Hồ Chí Minh trong đồng phục áo dài trắng.

Trung học cơ sở (THCS)[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp II gồm có 4 trình độ, từ lớp 6 đến lớp 9, bắt đầu từ năm 11 đến năm 14 tuổi. Đây cũng là một cấp học phổ cập, một cấp học bắt buộc để công dân có thể có một nghề nghiệp nhất định (tốt nghiệp cấp II có thể học nghề hay trung cấp chuyên nghiệp mà không cần học tiếp bậc Trung học phổ thông).

Học sinh đến trường phải học các môn sau: Toán, Vật lý, Hoá học (lớp 8 và 9), Sinh học, Công nghệ, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nga, Trung, Nhật), Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học (máy vi tính hoặc điện toán).

Ngoài ra học sinh có thêm một số tiết bắt buộc như: giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp (lớp 9),...

Học Sinh không phải thi tốt nghiệp ở bậc học này mà được xét tốt nghiệp

Cấp trung học phổ thông (THPT)[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp III gồm 3 trình độ, từ lớp 10 đến lớp 12, bắt đầu từ năm 15 tuổi đến hết năm 17 tuổi. Để tốt nghiệp cấp III, học sinh phải tham gia kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông tại Việt Nam của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.

Học sinh muốn được theo học tại các trường trung học phổ thông công lập phải dự một kỳ thi tuyển sinh sau khi học hết cấp trung học cơ sở hoặc xét tuyển theo học bạ của 4 năm học cấp II. Các kỳ thi này được tổ chức hàng năm, do Sở Giáo dục và Đào tạo các địa phương chủ trì. Ở cấp học này, học sinh cũng phải học các môn tương tự như ở cấp học trung học cơ sở, nhưng bỏ bớt hai môn năng khiếu là Âm nhạcMỹ thuật. Tuy nhiên, học sinh trung học phổ thông vẫn được tham gia một số hoạt động khác như hướng nghiệp, dạy nghề...

Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai là một trong những trường THPT hàng đầu tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Giáo dục chuyên biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Trung học phổ thông chuyên, năng khiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1966, hệ thống trung học phổ thông chuyên được lập ra, bắt đầu với những lớp chuyên Toán tại các trường đại học lớn về khoa học cơ bản, sau đó các trường chuyên được thiết lập rộng rãi tại tất cả các tỉnh thành. Mục đích ban đầu của hệ thống trường chuyên, như các nhà khoa học khởi xướng như Lê Văn Thiêm, Hoàng Tụy, Tạ Quang Bửu, Ngụy Như Kon Tum... mong đợi, là nơi phát triển các tài năng đặc biệt xuất sắc trong các lĩnh vực khoa học cơ bản.[cần dẫn nguồn]

Để được vào học tại các trường chuyên, học sinh tốt nghiệp cấp II phải thoả mãn các điều kiện về học lực, hạnh kiểm ở cấp II và đặc biệt là phải vượt qua các kỳ thi tuyển chọn đầu vào tương đối khốc liệt của các trường này.

Hệ thống trường THPT Chuyên ở Việt Nam bao gồm 2 hệ: các trường chuyên trực thuộc đại học (trước đây là các trường chuyên cấp quốc gia) và các trường chuyên của tỉnh. Hai hệ thống có một số khác biệt:

  • Phạm vi tuyển sinh:
    • Các trường chuyên thuộc đại học: tuyển sinh trong cả nước.
    • Các trường chuyên của tỉnh/thành phố: chỉ tuyển sinh trong nội hạt tỉnh/ thành phố đó (trừ một số trường hợp cá biệt)
  • Kì thi học sinh giỏi quốc gia:
    • Các trường chuyên thuộc đại học: trực tiếp tham gia kì thi HSG Quốc gia như một tỉnh/thành phố
    • Các trường chuyên tỉnh/thành phố: phải tham gia kì thi HSG cấp tỉnh/thành phố, thường là với các trường chuyên khác và trường THPT hệ thông thường trong tỉnh/thành phố

Trong thời kì đầu của hệ thống trường chuyên, khi chỉ mới hình thành một vài lớp phổ thông chuyên tại các trường đại học, mục tiêu này đã được theo sát và đạt được thành tựu khi mà phần lớn các học sinh chuyên Toán khi đó tiếp tục theo đuổi các lĩnh vực Toán học, Vật lý, Tin học (máy tính)... Đây là giai đoạn mà hệ thống trường chuyên làm đúng nhất trách nhiệm của nó. Những học sinh chuyên trong thời kì này hiện đang nắm giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt tại chốt tại các trường đại học lớn, các viện nghiên cứu của Việt Nam cũng như là những cá nhân tiêu biểu nhất của nền khoa học nước nhà.[7]

Tuy nhiên, cùng với sự mở rộng của hệ thống trường chuyên cũng như việc Việt Nam tham dự các kì Olympic khoa học quốc tế "hào hứng" hơn, mục tiêu ban đầu của hệ thống này ngày càng phai nhạt. Thành tích của các trường chuyên trong kỳ thi học sinh giỏi các cấp, kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông và kì thi tuyển sinh vào đại học và cao đẳng vẫn thường rất cao. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng lý do chính cho những thành tích này không phải là chất lượng giáo dục mà là phương pháp luyện thi. Tỉ lệ học sinh các trường chuyên tiếp tục theo đuổi khoa học hay các lĩnh vực liên quan cũng ngày càng thấp, và khiến cho giới khoa học Việt Nam không khỏi quan ngại.[8]

Trung tâm Giáo dục thường xuyên[sửa | sửa mã nguồn]

Nơi phổ cập giáo dục cho tất cả các lứa tuổi

Trường Phổ thông dân tộc nội trú[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là các trường nội trú dặc biệt, có thể là cấp II hoặc có thể là cấp III. Các trường này dành cho con em các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội nhằm bồi dưỡng nguồn nhân lực, tạo nguồn cán bộ cho các địa phương này. Học sinh được ở tại trường và được cấp kinh phí ăn, ở.

Trường giáo dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là loại hình trường đặc biệt dành cho các thanh thiếu niên phạm tội. Trong trường, các học sinh này được học văn hoá, được dạy nghề, giáo dục đạo đức để có thể ra trường, về địa phương sau một vài năm. Các năm trước, các trường loại này do Bộ Công an Việt Nam quản lý, nhưng bây giờ do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý.

Giáo dục đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Dự bị đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Cần tốt nghiệp cấp trung học phổ thông hay tương đương để có thể trở thành dự bị đại học.

Các học sinh dân tộc ít người nếu không trúng tuyển vào đại học có thể theo học tại các trường dự bị đại học. Sau một năm học tập, các học sinh này có thể chọn một trong các trường đại học trong cả nước để theo học (trừ Trường Đại học Ngoại thương và các trường thuộc ngành quân sự).

Trung cấp, dạy nghề[sửa | sửa mã nguồn]

Cần tốt nghiệp cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông hay tương đương để có thể học nghề, trung cấp.

Đây là chương trình học dạy nghề dành cho người không đủ điều kiện vào đại học hoặc cao đẳng.

Cao đẳng[sửa | sửa mã nguồn]

Cần tốt nghiệp cấp trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, học nghề hoặc tương đương để có thể học hay liên thông lên cấp cao đẳng.

Sinh viên phải tham gia kỳ thi tuyển sinh trực tiếp vào cao đẳng hoặc điểm thi vào đại học thấp hơn điểm quy định nhưng lại đủ để vào cao đẳng thì đăng ký vào học cao đẳng. Chương trình cao đẳng thông thường kéo dài 3 năm. Tuy nhiên, một số trường cao đẳng có thể kéo dài đến 3,5 năm hoặc 4 năm để phù hợp với chương trình học.

Sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế Đối ngoại Thành phố Hồ Chí Minh trước giờ học Giáo dục Quốc phòng ở quận 9.

Đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Cần tốt nghiệp Trung học phổ thông, Trung cấp chuyên nghiệp, học nghề, cao đẳng hay tương đương để có thể học hay liên thông lên Đại học Theo kết quả giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện chính sách pháp luật về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học, tính đến nay, cả nước đã có 409 trường ĐH, CĐ, trong đó có 307 trường được thành lập mới hoặc nâng cấp trong 10 năm qua. Với số trường mới này, 35 tỉnh, thành đã có thêm trường ĐH, CĐ mới; số tỉnh, thành có trường ĐH là 40, có trường CĐ là 60, có ít nhất một trường ĐH hoặc CĐ là 62. Trong số 307 trường ĐH, CĐ mới, có 245 trường được nâng cấp từ bậc học thấp hơn; 8 trường được nâng cấp từ khoa trực thuộc ĐH quốc gia, ĐH vùng, chỉ có 32 trường xây dựng hoàn toàn mới. Kết quả giám sát cho thấy, các trường ĐH được thành lập trên cơ sở nâng cấp một khoa trực thuộc ĐH quốc gia, ĐH vùng hoặc chia tách từ một trường ĐH, có ưu thế hơn trong việc chuẩn bị các điều kiện bảo đảm chất lượng, đặc biệt về đội ngũ giáo viên, năng lực tổ chức, quản lý thực hiện nhiệm vụ đào tạo. Còn các đơn vị được nâng cấp từ bậc học thấp hơn, CĐ lên ĐH và trung cấp lên CĐ lại gặp khó khăn rất lớn trong việc nâng cấp cơ sở vật chất, đội ngũ để đáp ứng yêu cầu đào tạo ở bậc học cao hơn.[9] Học sinh tốt nghiệp cấp III muốn vào các trường đại học phải tham gia kỳ thi tuyển sinh đại học. Chương trình bậc đại học của Việt Nam kéo dài từ 4 đến 6 năm; 2 năm đầu là chương trình đại học đại cương, 2 (hay 4) năm sau là chương trình chuyên ngành. Dù là ngành gì, sinh viên phải học một số tiết về quốc phòng an ninh.[10] Sau khi tốt nghiệp, sinh viên được cấp bằng đại học với các tên gọi như: cử nhân, kỹ sư, kiến trúc sư, bác sĩ, nhạc sĩ,...

Tổng số sinh viên bậc đại học hiện nay khoảng 1.700.000 người, số lượng tuyển sinh hằng năm trong những năm gần đây khoảng 500.000 người/kỳ thi. Tuy nhiên đánh giá chung chất lượng đào tạo giáo dục bậc đại học ở Việt Nam còn thấp, chưa tạo được sự đồng hướng giữa người học, người dạy, nhà đầu tư cho giáo dục, người sử dụng lao động và xã hội. Quản lý nhà nước về giáo dục đại học còn nhiều trì trệ là nguyên nhân cơ bản của việc chất lượng giáo dục đại học Việt Nam ngày càng tụt hậu trước đòi hỏi của phát triển đất nước[11]. Hiện nay, nhà nước Việt Nam đang tích cực cải cách hệ thống giáo dục đại học bằng việc trao thêm quyền cho các trường đại học. Điều 32 Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012 quy định "Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục.". Điều 36 luật này cũng quy định "Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học tổ chức biên soạn hoặc lựa chọn, duyệt giáo trình giáo dục đại học để sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập trong cơ sở giáo dục đại học trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định giáo trình do hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học thành lập.", tuy nhiên "Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn giáo trình sử dụng chung các môn lý luận chính trị, quốc phòng - an ninh để làm tài liệu giảng dạy, học tập trong các cơ sở giáo dục đại học"[12]. Các lãnh đạo hàng đầu của Chính phủ Việt Nam bày tỏ sự ủng hộ tự chủ đại học và yêu cầu thúc đẩy nhanh hơn nữa tiến trình này[13]. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng các trường đại học Việt Nam chưa đủ năng lực và thiếu sự sẵn sàng cho việc tự chủ[14][15], các điều khoản trong Luật Giáo dục Đại học cho thấy quyền tự chủ của các trường đại học khó có thể trở thành hiện thực vì có quá nhiều điểm hoàn toàn trái với tinh thần tự chủ đại học hoặc mơ hồ đến độ không thể thực thi[16].

Từ năm 2000-2007, nhiều học sinh Việt Nam đã đi du học ở các nước phát triển như: Mỹ, Anh, Úc, Pháp, Đức, Nhật... Riêng năm 2007 đã có 39.700 học sinh đi du học [17]

Tuyển sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả công dân tốt nghiệp trung học (trung học phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp) đều được tham dự kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng hằng năm, không phân biệt lứa tuổi, thành phần, tôn giáo, dân tộc và cả quốc tịch nữa. Điểm thi sẽ được công bố công khai, rộng rãi trên các trang mạng của các trường đại học. Các thí sinh nếu thấy điểm của mình có sai sót so với dự tính được quyền phúc tra xem xét lại bài. Các thí sinh nếu đạt từ điểm chuẩn của trường đi ra trở lên được mời làm các thủ tục nhập học.

Tuy nhiên, để đảm bảo công bằng, có ưu tiên bằng cách cộng vào tổng điểm thi một số điểm nhất định đối với các đối tượng sau: con Anh hùng lao động, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân; của Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; con thương binh; học sinh là người dân tộc thiểu số; học sinh tốt nghiệp trung học tại các cùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi khó khăn về kinh tế - xã hội; học sinh nông thôn. Dưới đây là các đối tượng được tuyển thẳng:

  • Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động đã tốt nghiệp trung học
  • Học sinh là thành viên đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự các kỳ thi Olympic quốc tế hàng năm
  • Học sinh đạt giải Nhất trong các cuộc thi học sinh giỏi các môn hằng năm.

Chỉ riêng đối với các trường công an, quân đội thì muốn được dự thi phải đạt các tiêu chuẩn về sức khoẻ, mức độ nhạy cảm, phản xạ, năng lực và phẩm chất đạo đức, chính trị. Ngoài ra, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cũng yêu cầu thí sinh muốn dự thi phải là đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.[18]

Giáo dục sau đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Cao học[sửa | sửa mã nguồn]

Các cá nhân sau khi tốt nghiệp đại học, có nhu cầu học cao học, vượt qua được kỳ thi tuyển sinh cao học hằng năm sẽ được tham dự các khoá đào tạo cao học. Thời gian đào tạo thường là 3 năm, có thể dài hơn hoặc ngắn hơn phụ thuộc vào quy định của chuyên ngành và của cơ sở đào tạo. Các cá nhân đi học cao học có thể theo hai diện: tự đi học thì phải trang trải toàn bộ chi phí học tập; cơ quan cử đi học thì sẽ được cơ quan chi trả chi phí học tập, tuy nhiên, các đối tượng này khi đi học phải có sự đồng ý của cơ quan cử đi học. Sau khi tốt nghiệp, các học viên cao học được cấp bằng thạc sĩ.

Nghiên cứu sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là bậc đào tạo cao nhất ở Việt Nam hiện nay. Tất cả các cá nhân tốt nghiệp từ đại học trở lên đều có quyền làm nghiên cứu sinh với điều kiện phải vượt qua kỳ thi tuyển nghiên cứu sinh hàng năm. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam có sự định thay đổi trong cách tuyển chọn nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu sinh. Thời gian làm nghiên cứu sinh thường là 4 năm với người có bằng cử nhân hay kỹ sư và 3 năm với người có bằng thạc sĩ. Tuy nhiên, thời gian làm nghiên cứu sinh còn phụ thuộc vào ngành học và loại hình học (học tập trung hay không tập trung). Sau khi hoàn thành thời gian và bảo vệ thành công luận án, các nghiên cứu sinh sẽ được cấp bằng tiến sĩ.

Các vấn đề hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ hệ thống giáo dục đại học đang phải đối mặt với nhiều khủng hoảng, như lỗi thời trong chương trình giảng dạy, giáo viên làm trung tâm trong phương pháp dạy và học, thiếu tính liên kết giữa giảng dạy và các hoạt động nghiên cứu, và sự khác biệt lớn giữa đào tạo lý thuyết và thực hành, dẫn tới việc rất nhiều sinh viên đã tốt nghiệp nhưng không có khả năng tìm được việc làm, trong khi việc thiếu những kỹ năng nghề nghiệp lạm phát tăng lên mức hai con số. Sinh viên Việt Nam thiếu kiến ​​thức mặc dù đã được dạy rất nhiều, vì thực tế mục đích chính của việc học tập chỉ nhằm vượt qua các kỳ thi. Theo khảo sát về việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp trong năm học 2009-2010 do Trung tâm Nghiên cứu chính sách - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, trong số 3000 người được hỏi, 26,2% cho biết họ vẫn thất nghiệp với đa số không thể tìm được việc làm. Trong số những người có việc làm, 61% cho biết họ thiếu kỹ năng làm việc, 42% thiếu kinh nghiệm và 32% cho rằng chuyên môn không an toàn. 

Ngoài các bằng cấp của các trường đại học nước ngoài có chất lượng và danh tiếng, bằng cấp và chứng chỉ của các trường đại học tại Việt Nam không được công nhận trên toàn thế giới.

Phương pháp giảng dạy chính trong hệ thống trường học công lập là theo định hướng của giáo viên. Thảo luận nhóm không phổ biến, học sinh tự chăm chỉ và lĩnh hội kiến thức trực tiếp và thụ động từ các thầy cô giáo. Phương pháp này là một biểu hiện dựa trên nền tảng văn hóa Nho giáo, điều này tương phản rõ nét với phương pháp sư phạm Mỹ và Anh, khi tính tương tác và các cuộc tranh luận nổi bật hơn. Vì vậy, học sinh và sinh viên luôn thiếu tư duy và sáng tạo phù hợp trong việc tiếp cận chủ đề và hiểu sâu vấn đề của bài học.

Các học sinh THCS và THPT thường tham gia ​​học các khóa học bổ sung (các lớp học thêm), có thể kéo dài tới 9 thời điểm trong một ngày. Phụ huynh cũng đăng ký cho con em mình vào các buổi dạy kèm rộng rãi (không nhầm lẫn với các trường luyện ôn thi), bởi vì các buổi dạy kèm này liên quan tới bất kể các bài kiểm tra hoặc kỳ thi sắp tới. Mức lương trung bình hàng tháng của giáo viên công lập ước tính khoảng từ 60 USD đến 100 USD, vì vậy làm việc ngoài giờ trong cơ sở tư nhân hoặc giảng dạy trong các lớp dạy thêm này sẽ bổ sung nhiều hơn cho nguồn thu nhập của giáo viên. Những học sinh không tham gia các buổi học này luôn gặp khá nhiều khó khăn, vì tài liệu và kiến thức có trong các bài kiểm tra và các kỳ thi thường chỉ được cung cấp và dạy trong các buổi dạy thêm này.

Các trường công lập đang gặp nhiều khó khăn về tài chính. Hiện tại, chỉ có các trường tiểu học được Nhà nước trợ cấp, đến 50% tổng chi phí học phí. Tỷ lệ nhập học có thể cao. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục tiểu học, đặc biệt ở các vùng nghèo, không đạt yêu cầu. Hơn nữa, tỷ lệ bỏ học sau lớp 5 cũng cao, đặc biệt là ở vùng nông thôn và miền núi, vì hầu hết học sinh không đủ tiền để học trung học hoặc đại học do nghèo đói. Đánh giá Nghiên cứu mức độ nghèo (PPA) cho thấy với nhiều hộ gia đình nghèo, lao động trẻ em được coi là có giá trị hơn việc đi học. Nghỉ học thường xuyên cũng dẫn đến lực học và kết quả học tập kém. Đối với các gia đình nghèo, cơ hội chi phí cho việc đưa con đến trường được nhìn nhận là cao và với họ, lợi ích lâu dài của giáo dục không thể lớn hơn những thiệt hại kinh tế ngắn hạn. 

Các trung tâm ngoại ngữ tư nhân giảng dạy tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai đang có nhu cầu cao tại các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Rất nhiều sinh viên đến các trung tâm này để tìm kiếm cơ hội việc làm. Những lớp học này thường được giảng dạy bởi những người nước ngoài, thường được trả từ khoảng 10 đến 20 USD mỗi giờ, tùy thuộc vào trình độ của họ, và chất lượng của trung tâm. Tiêu chuẩn thấp hơn ở một số trung tâm trả tiền thấp hơn đã dẫn đến sự gia tăng của giáo viên chất lượng chuyên môn và trình độ kém (khách du lịch được thuê để giảng dạy).

Hiện nay, ngành giáo dục đang gặp phải một vấn đề rất đáng lo ngại là sự xuống cấp trong chất lượng của đội ngũ giáo viên. Ngành sư phạm không được đầu tư và quan tâm đúng mức, đầu vào điểm chuẩn thấp[19][20][21][22], việc làm của các sinh viên ngành sư phạm sau khi ra trường không ổn định, mức lương và đãi ngộ còn thấp[23][24] trong khi áp lực công việc và cuộc sống lại quá cao[25], dẫn đến tình trạng giáo viên không thực sự chuyên tâm vào nghiên cứu giảng dạy. Rất nhiều giáo viên đã phải mở các lớp dạy thêm để kiếm thêm thu nhập[26][27], hoặc phải làm nghề tay trái khác.

Cải cách giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các cơ sở giáo dục Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Giáo dục và thi cử từ năm 1975 đến ngày nay”. Truy cập 14 tháng 8.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  2. ^ “Giáo dục: Cần một triết l‎ý”. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2010. 
  3. ^ “Triết lý giáo dục Việt Nam: 'Phải tư duy hai lần'!”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2010. 
  4. ^ “Về triết lý giáo dục Việt Nam”. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2010. 
  5. ^ “Về triết lý giáo dục và triết lý giáo dục ở Việt Nam”. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2010. 
  6. ^ Giới thiệu các ngành đào tạo đào tạo và Nội dung ôn thi vào các trường đại học. Hà Nội: Đại học và Trung học Chuyên nghiệp. 1978. tr. 13. 
  7. ^ “Đâu rồi học sinh giỏi toán "ngày xưa"?”. Vietnamnet. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2005. Truy cập 14 tháng 3.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  8. ^ “Trường chuyên, đào tạo nhân tài hay luyện gà nòi”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2007. Truy cập 14 tháng 9.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  9. ^ Vũ Vân. “40 tỉnh, thành đã có trường đại học”. Báo Hà Nội mới. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2010. Truy cập 7 tháng 4.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  10. ^ "Họ đã dạy sinh viên những gì?"
  11. ^ VnExpress - 30 năm chất lượng giáo dục đại học bị 'bỏ ngỏ' - 30 nam chat luong giao duc dai hoc bi 'bo ngo'
  12. ^ LUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC, CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
  13. ^ Thủ tướng thúc nhanh việc trao tự chủ đại học, Báo VietNamNet, 26/08/2014
  14. ^ Thiếu sẵn sàng tự chủ ĐH, Tuổi Trẻ Online, 01/08/2014
  15. ^ Tự chủ đại học - cái nhìn từ nhiều phía, Tuổi Trẻ Online, 08/01/2013
  16. ^ Tự chủ đại học ở Việt Nam: Thiếu thực chất, Vũ Thị Phương Anh, Tạp chí Tia Sáng, 22/08/2014
  17. ^ Muôn nẻo đường du học
  18. ^ “Thông báo tuyển sinh đại học thứ hai năm 2009”. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2010. 
  19. ^ “Đầu vào điểm thấp, trận chiến cam go của ngành sư phạm”. VietNamNet. Truy cập 11 tháng 8 năm 2017. 
  20. ^ “Điểm chuẩn vào các ngành sư phạm thấp: Sẽ khó có giáo viên giỏi?”. Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập 11 tháng 8 năm 2017. 
  21. ^ “Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Khuyến học Việt Nam Phạm Tất Dong: Đầu vào sư phạm thấp”. kinhtedothi.vn. Truy cập 11 tháng 8 năm 2017. 
  22. ^ “Thảm hại điểm chuẩn sư phạm: Đổi mới sẽ gặp khó!”. Báo điện tử Dân Trí. Truy cập 11 tháng 8 năm 2017. 
  23. ^ “Giáo viên không muốn lên 'sếp' vì lương thấp”. Zing.vn. Truy cập 11 tháng 8 năm 2017. 
  24. ^ “Bộ trưởng Giáo dục: Tôi day dứt vì thu nhập giáo viên thấp”. VietNamNet. Truy cập 11 tháng 8 năm 2017. 
  25. ^ “Lương giáo viên thấp quá mà áp lực lại quá cao”. Báo Lao Động. Truy cập 11 tháng 8 năm 2017. 
  26. ^ “Bùng phát dạy thêm, học thêm dịp hè”. Báo điện tử Nhân Dân. Truy cập 11 tháng 8 năm 2017. 
  27. ^ “Siết chặt tình trạng dạy thêm, học thêm ở các cấp học”. Truy cập 11 tháng 8 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]