Chân lý

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Họa phẩm về nữ thần Chân Lý

Chân lý là khái niệm để chỉ những tri thức có nội dung phù hợp với thực tế khách quan; sự phù hợp đó đã được kiểm tra và chứng minh bởi thực tiễn. Nói cách khác chân lý là thực tại được nhận thức một cách đúng đắn. Tóm lại chân lý là một sự thật của loài người luôn luôn đúng và tồn tại mãi mãi theo thời gian. Tuy nhiên tri thức của con người ở một thời điểm chỉ tiệm cận chân lý chứ không phải là chân lý. Quá trình phát triển của tri thức là một quá trình tiến đến gần chân lý hơn. Sự tồn tại của chân lý và khả năng nhận thức của con người đạt đến chân lý là những vấn đề cơ bản của nhận thức luận.

Theo PlatoAristotle, những ý kiến được coi là "đúng" khi nào ý kiến đó khẳng định điều gì "có" thì thực sự "có", khẳng định "không có" thì thực sự là "không có". Còn ý kiến sẽ "sai" khi mà nêu ra "có" nhưng thực sự "không có" hoặc nêu "không có" trong khi thực sự là "có". Khi ý kiến "đúng" thì nó phải phù hợp với phương cách của sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên hay thực tại. Lúc đó ý kiến "đúng" sẽ được coi là chân lý.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Thực chất, chân lý là sự nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan của con người. Nhận thức của con người không đứng yên mà sẽ thay đổi theo thời gian để ngày càng đến gần chân lý hơn. Có những khẳng định được con người xem là "chân lý hiển nhiên" vì mọi người có thể kiểm nghiệm một cách dễ dàng bằng trực quan như "toàn thể thì lớn hơn thành phần". "Chân lý hiển nhiên" khác với tiên đề. Tiên đề là giả thuyết cơ sở ban đầu được công nhận như chân lý, làm nền tảng cho quá trình suy luận logic mà tư duy dựa vào đó để đưa ra những kết luận mới. Tiên đề thường là những tri thức có thể nhận thức bằng trực quan và được thừa nhận rộng rãi. Có những môn khoa học được xây dựng dựa trên một hệ thống tiên đề có sẵn như toán học. Tiên đề cũng tồn tại ở nhiều môn khoa học thực chứng như vật lý học, hóa học, kinh tế học...

Tính "đúng" hay "sai" của những giả thuyết nào đó có thể được kiểm chứng bằng kinh nghiệm, thực nghiệm, thí nghiệm. Con người có thể sử dụng phép quy nạp để từ những quan sát riêng lẻ rút ra được tri thức. Tuy nhiên tri thức này chỉ chứa đựng những tính chất của đối tượng mà nhận thức đang tập trung chú ý. Đây được gọi là quá trình trừu tượng hóa vì nhận thức của con người chỉ giữ lại những đặc tính quan sát được mà nó cho là quan trọng, cơ bản nhất của đối tượng đồng thời bỏ qua những đặc tính mà nó cho là ít quan trọng hoặc không thể quan sát được. Nhận thức sẽ sử dụng những đặc tính này để thay thế cho bản thân đối tượng. Khi tri thức là một sự tổng quát hóa có tính hệ thống, nghĩa là sự tổng quát hoá được thực hiện bằng những phương pháp được thừa nhận, phù hợp với giả thuyết đang được kiểm chứng và đã được kiểm nghiệm thực tế thì tri thức đó thể hiện tính chất phổ quát cho đến khi con người tìm ra bằng chứng phủ nhận tri thức đó, tri thức sẽ được coi là "đúng", là "chân lý" ở thời điểm toàn bộ quá trình nhận thức này được thực hiện. Trong quá trình nhận thức, con người càng ít bị chi phối bởi những định kiến, cảm xúc, giá trị đạo đức, những niềm tin vô căn cứ thì quá trình nhận thức càng ít bị bóp méo do đó càng đúng đắn nên càng đến gần chân lý. Thế giới khách quan phức tạp hơn khả năng nhận thức của bất cứ cá nhân nào nên không một học thuyết nào có thể được xem là chân lý. Càng có nhiều học thuyết thì tri thức của nhân loại càng tiếp cận gần hơn với chân lý. Thậm chí toàn bộ tri thức khoa học của con người cũng không thể được xem là chân lý với ý nghĩa nó phản ánh một cách chính xác, trung thực thế giới khách quan vì tri thức khoa học chỉ là những mô hình con người dựng lên để mô phỏng, giải thích thế giới khách quan bằng cách giản lược hóa thực tại.

Có những ý kiến vừa không đúng một cách hiển nhiên, vừa không kiểm chứng bằng quan sát sự kiện được. Khi đó cần tìm kiếm sự nhất trí của một nhóm người nào đó được chỉ định hoặc các nhà chuyên môn được cho là có tín nhiệm, có kiến thức, kinh nghiệm. Tuy nhiên quan điểm của số đông không thể được coi là chân lý dù cho số đông đó có là những chuyên gia. Chính vì thế quan niệm "chân lý là điều mà hầu hết mọi người cùng nghĩ như nhau" – là một định nghĩa hoàn toàn không chuẩn xác, vì đôi khi đa số hay đám đông thì vẫn mắc sai lầm. Thậm chí có những điều mà mọi người cùng đồng ý vẫn có thể không phải là chân lý, mà mới chỉ tạo ra niềm tin của đám đông rằng đó là chân lý.

Chính vì con người có lý trí và mong muốn kiếm tìm chân lý, nên đã hình thành triết học và nhiều ngành khoa học khác, càng ngày càng phát triển để loài người phát hiện, tìm hiểu, nhận biết, chứng minh, tiến gần đến và đạt được chân lý.

Phân loại chân lý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chân lý hình thức:

Là sự phù hợp giữa tư tưởng với chính tư tưởng; hay nói cách khác là sự phù hợp giữa nhận thức với chính nhận thức, bất chấp mọi đối tượng và mọi khác biệt giữa đối tượng. Như vậy ta có chân lý hình thức khi tư tưởng của ta không mâu thuẫn và ta có sai lầm hình thức khi tư tưởng của ta mâu thuẫn. Muốn có chân lý hình thức, ta chỉ cần theo các quy luật của Luận Lý học hình thức.

  • Chân lý nội dung hay còn gọi chân lý thực tại:

Là sự phù hợp giữa tư tưởng với sự vật, tức là với thực tại, với đối tượng. Trong khi chân lý hình thức thường là tính cách của câu kết luận. Thì chân lý nội dung, hay thực tại là tính cách của tiền đề cũng được, mà của kết luận cũng được, hoặc của mệnh đề tự nó đúng, không xét đến sự mạch lạc với bối cảnh trong đó có mệnh đề.

Các hình thức chân lý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chân lý khoa học:

Ngày nay mọi người đều công nhận. Trong các định luật khoa học, không có vấn đề mâu thuẫn.

  • Chân lý tuyệt đối:

Cho dù chân lý có tính cách tương đối; khi ta thừa nhận tương đối đúng đó, có nghĩa là ta đã có cái tuyệt đối thừa nhận cái tương đối.

  • Chân lý thuần lý:

Là chân lý ta biết được bằng lý trí, bằng trí tuệ. Chân lý thuần lý được phân ra làm hai loại:

a. Chân lý nhận thức: là sự phù hợp của trí tuệ với sự vật. Sự phù hợp này cốt ở phán đoán mà trí tuệ biết được. Nếu không phán đoán thì ta không có sai lầm, mà cũng không có được chân lý. Chân lý hay Sai lầm chỉ có khi ta xác nhận điều gì, tức là ta có phán đoán; và ta phán đoán đúng khi ta xác nhận là có cái gì có. Hoặc xác nhận là không có cái gì không có.

b. Chân lý hữu thể: là sự phù hợp sự vật với trí tuệ. Chẳng hạn khi ta có một hành động thật, một cảm giác thật, một ý niệm thật (chứ không phải là giả tưởng). Đây là sự phù hợp cốt ở sự vật, đúng với các tiêu chuẩn của trí tuệ.

Chân lý tối cao trong tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Một số tôn giáo, đặc biệt là nhóm Abrahamic (Do thái giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo) hay Phật giáo đã đưa ra khái niệm chân lý siêu hình như: Chân lý tối thượng, chân lý tối cao, chân lý toàn thể, chân lý của mọi chân lý, là muốn nói đến chân lý Thượng đế, Thần thánh và thiêng liêng, thuộc tính cao quý của Đấng tối cao toàn năng, Đấng thực hiện mọi phán xét thiêng liêng, toàn thể về sự sống và cái chết.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]