Quyền tự quyết

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Quyền của một dân tộc tự quyết định là một nguyên tắc chung trong luật pháp quốc tế hiện đại (thường được coi là quy tắc jus cogens ), ràng buộc, như vậy, trên Liên Hợp Quốc như là sự giải thích có thẩm quyền các tiêu chuẩn của Hiến chương. [1][2] Nó tuyên bố rằng một dân tộc, dựa trên tôn trọng nguyên tắc bình đẳng quyền và bình đẳng công bằng của cơ hội, có quyền tự do lựa chọn chủ quyền của họ và tình trạng chính trị quốc tế mà không có sự can thiệp.[3]

Khái niệm này lần đầu tiên được thể hiện trong những năm 1860, và lan truyền nhanh chóng sau đó. [4][5] Trong và sau Thế chiến thứ nhất, nguyên tắc được khuyến khích bởi cả Vladimir LeninTổng thống Mỹ Woodrow Wilson.[4][5] Sau khi công bố điểm mười bốn của mình vào ngày 8 tháng 1 năm 1918, ngày 11 tháng 2 năm 1918, Wilson tuyên bố: "các nguyện vọng quốc gia phải được tôn trọng, người dân bây giờ có thể bị chi phối và cai trị chỉ bởi sự đồng ý của họ." Quyền tự quyết không chỉ là một cụm từ; nguyên tắc bắt buộc của hành động. "[6]

Trong thế chiến II, nguyên tắc được đưa vào Hiến chương Đại Tây Dương, được ký vào ngày 14 tháng 8 năm 1941, bởi Franklin D. Roosevelt, Tổng thống Hoa Kỳ, và Winston Churchill, Thủ tướng Anh, người đã cam kết Tám điểm chính của Hiến chương. .[7] Nó được công nhận là một quyền hợp pháp quốc tế sau khi nó được liệt kê rõ ràng như là một quyền trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc.[8]

Nguyên tắc không nêu rõ quyết định được đưa ra như thế nào, cũng không phải kết quả là gì, cho dù đó là độc lập, liên bang, bảo vệ, một số hình thức tự chủ hoặc đồng hóa đầy đủ. [9] Nó cũng không nêu rõ sự phân biệt giữa các dân tộc - cũng như những gì tạo nên một con người. Có các định nghĩa mâu thuẫn và tiêu chí pháp lý để xác định nhóm nào có thể yêu cầu quyền tự quyết định một cách hợp pháp. [10]

Bằng cách mở rộng, thuật ngữ tự quyết định có nghĩa là sự lựa chọn tự do của một hành vi của riêng mình mà không có sự ép buộc bên ngoài.[11]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ See: United Nations General Assembly Resolution 1514 in Wikisource states
  2. ^ McWhinney, Edward (2007). Self-Determination of Peoples and Plural-Ethnic States in Contemporary International Law: Failed States, Nation-Building and the Alternative, Federal Option. Martinus Nijhoff Publishers. tr. 8. ISBN 9004158359. 
  3. ^ See: Chapter I - Purposes and Principles of Charter of the United Nations
  4. ^ a ă Jörg Fisch (9 tháng 12 năm 2015). A History of the Self-Determination of Peoples: The Domestication of an Illusion. Cambridge University Press. tr. 118. ISBN 978-1-107-03796-0. 
  5. ^ a ă http://etheses.lse.ac.uk/923/1/Knudsen_Moments_of_Self-determination.pdf
  6. ^ “President Wilson's Address to Congress, Analyzing German and Austrian Peace Utterances (Delivered to Congress in Joint Session on February 11, 1918)”. gwpda.org. 11 tháng 2 năm 1918. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2014. 
  7. ^ Xem: Khoản 3 của Hiến chương Đại Tây Dương quy định: "Thứ ba, họ tôn trọng quyền của tất cả các dân tộc chọn hình thức chính phủ mà họ sẽ sống và họ muốn thấy quyền chủ quyền và chính phủ tự phục hồi cho những người đã bị buộc phải tước đoạt chúng "sau đó trở thành một trong tám điểm chính yếu của Hiến chương tất cả mọi người có quyền tự quyết định.
  8. ^ “Self-Determination” (bằng tiếng Anh). doi:10.1093/law:epil/9780199231690/law-9780199231690-e873. 
  9. ^ “United Nations Trust Territories that have achieved self-determination”. Un.org. 14 tháng 12 năm 1960. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2012. 
  10. ^ Betty Miller Unterberger, "Self-Determination", Encyclopedia of American Foreign Policy, 2002.
  11. ^ “Merriam-Webster online dictionary”. Merriam-webster.com. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2012.