Sarah Bernhardt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sarah Bernhardt
Nadar 2.jpg
Chân dung Sarah Bernhardt chụp bởi Félix Nadar
Tên khai sinh Henriette Rosine Bernard
Sinh 22 tháng 10 năm 1844[1]
Paris
Mất 26 tháng 3 năm 1923
Paris

Sarah Bernhardt,tiếng Pháp: [sa.ʁa bɛʁ.nɑʁt];[2], tên thật là Henriette Rosine Bernard (khoảng 22/23 tháng 10 năm 184426 tháng 3 năm 1923), là một nữ nghệ sĩ sân khấu người Pháp.Được mệnh danh là giọng ca vàng, bà được xem như một trong những nghệ sĩ lớn nhất của thế kỷ 19 cũng như của mọi thời đại.[3][4]

Bernhardt làm nên danh tiếng của bà trong những năm 1870, vào lúc bắt đầu của thời kỳ Belle Epoque, và đã sớm nổi danh ở châu Âuchâu Mỹ. Bà đã nổi tiếng như là một nữ diễn viên ấn tượng tuyệt vời trong các vai bi kịch, khiến bà có biệt danh "The Divine Sarah". Trong sự nghiệp sau này của bà, bà đóng vai chính trong một số bộ phim đầu tiên được sản xuất.

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Sarah Bernhardt năm 1864
Sarah Bernhardt do Napoleon Sarony chụp.
Chân dung Sarah Bernhardt, William Downey chụp (khoảng 1890)

Bernhardt sinh ở Paris với tên Rosine Bernardt,[5] con gái của Julie Bernardt (1821, Amsterdam – 1876, Paris) và không có tên cha. Julie là một trong sáu người con của một thương nhân Do Thái chuyên bán kính đeo mắt, Moritz Baruch Bernardt, và mẹ là Sara Hirsch (sau này được biết đến như Janetta Hartog;. khoảng 1797-1829).[6] Năm tuần sau cái chết của người vợ đầu tiên năm 1829, cha của Julie kết hôn với Sara Kinsbergen (1809-1878). Ông đã bỏ rơi năm cô con gái của ông và một đứa con trai với vợ sau của mình vào năm 1835.[6] Julie, cùng với em gái Rosine, đi tới Paris và kiếm sống với nghề gái điếm và được gọi bằng cái tên "Youle". Julie đã có năm người con gái, trong đó có một cặp sinh đôi đã chết năm 1843 khi còn nhỏ.

Sarah Bernhardt đã đổi họ và thêm chữ "h" vào tên của cô. Hồ sơ sinh của cô bị thất lạc năm 1871 trong một đám cháy. Để chứng minh là công dân Pháp, cô đã tạo một hồ sơ sinh giả, trong đó cô khai là con gái của "Judith van Hard" và "Édouard Bernardt" ở Le Havre.[6][7]

Khi còn nhỏ cô được mẹ gởi đến Grandchamp, một trường tu viện gần Versailles.[8]

Tốt nghiệp Nhạc viện quốc gia nghệ thuật sân khấu năm 1862, Sarah Bernhardt vào nhà hát Nhà hát Pháp (Comédie-Française), đến năm 1866 bà chuyển sang nhà hát Odéon. Năm 1869, bà diễn trong vở Le Passant của François Coppée, và sau đó là thành công trong Ruy Blas năm 1872. Bà có trở lại Nhà hát Pháp và diễn trong Phèdre năm 1874 rồi Hernani năm 1877.

Năm 1880, Sarah Bernhardt rời bỏ và lập tự lập đoàn kịch của mình bắt đầu sự nghiệp ở nước ngoài. Bà đi lưu diễn ở London, CopenhagenHoa Kỳ trong hai năm 1880 và 1881, sau đó ở Nga cũng năm 1881. Ở New York, bà đã gặp Thomas Edison và ghi âm một đoạn trong vở Phèdre. Trở lại Pháp, từ năm 1893 Sarah Bernhardt điều hành Nhà hát Renaissance, sau đó là nhà hát Nations, nơi bà diễn xuất trong vở Trà hoa nữ.

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dans les nuages, Impressions d'une chaise (1878)
  • L'Aveu, drame en un acte en prose (1888)
  • Adrienne Lecouvreur, drame en six actes (1907)
  • Ma Double Vie (1907), & as My Double Life: Memoirs of Sarah Bernhardt, (1907) William Heinemann
  • Un Coeur d'Homme, pièce en quatre actes (1911)
  • Petite Idole (1920; tạm dịch Thần tượng Paris, 1921)
  • L'Art du Théâtre: la voix, le geste, la prononciation, etc. (1923; tạm dịch Nghệ thuật sân khấu, 1924)

Vai diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. '^ Cô đã rửa tội năm 1857 khi 12 tuổi, nhưng ghi nhận nhầm. Ngày sinh được tham chiếu trong giấy rửa tội lúc 12 tuổi có thể không tin cậy như một nguồn sơ cấp, và chỉ có thể được sử dụng để chứng thực bằng chứng khác. (Trong The Art of High Drama, giáo sư Ockman miêu tả việc phát hiện một "unidentified newspaper clipping" trong Bibliothèque de la Comédie Française ở Paris, trong đó bao gồm một bản sao giấy chứng nhận rửa tội nói rằng Bernhardt sinh ngày 25 tháng 9, 1844.) Tuyên bố "Bernhardt đôi khi kỷ niệm sinh nhật mình vào 23 tháng 10", mặc dù không có bằng chứng nào về tuyên bố bày. Cuốn tự truyện năm 1907 của Bernhardt, Ma double vie (My Double Life) không có nguồn tham khảo về ngày sinh của cô ta.
  2. ^ Her own pronunciation, listen e.g. to trên YouTube
  3. ^ http://www.biography.com/people/sarah-bernhardt-9210057
  4. ^ Gottlieb, Robert. “The Drama of Sarah Bernhardt”. nybooks.com. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2007. 
  5. ^ In 1859 she enrolled with that name and a birthdate of ngày 23 tháng 10 năm 1844 at the Conservatoire National; this is the only record surviving from before her birth record was lost in 1871. See "Snel, Harmen. The ancestry of Sarah Bernhardt; a myth unravelled, Amsterdam, Joods Historisch Museum, 2007, ISBN 978-90-802029-3-1, pp 9–10". Snel argues that since her birth record was still available and there was little reason to obscure the truth, "this registration can be regarded as founded on facts".
  6. ^ a ă â Snel Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “snel” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  7. ^ Sarah's fictitious father was named after her uncle Édouard Bernardt, youngest (half) brother (born c. 1826) of her mother, who was raised in a boarding school in Tours and emigrated to Chile before 1860 (see Snel, p. 82)
  8. ^ Arthur Gold; Robert Fizdale (1991). The Divine Sarah: The Life of Sarah Bernhardt. New York: Knopf. tr. 17–20. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]