Chiến tranh Boer thứ hai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Chiến tranh Boer thứ hai
Một phần của Các cuộc chiến Boer
Boers at Spion Kop, 1900 - Project Gutenberg eText 16462.jpg
Quân Boer tại Spionkop
.
Thời gian tháng 10 11, 1899 – tháng 5 31, 1902 (1899-10-11 – 1902-05-31)
(2 năm, 7 tháng, 2 tuần và 6 ngày)
Địa điểm Nam Phi (ngày nay là Nam PhiSwaziland)[1]
Kết quả Anh chiến thắng [2][[#cite_note-FOOTNOTEHaydon1964<sup_class="noprint_Inline-Template_"_style="white-space:nowrap;">&#91;<i>[[Wikipedia:Chú_thích_nguồn_gốc|<span_title="Wikipedia:Chú_thích_nguồn_gốc'"`UNIQ--nowiki-00000002-QINU`"'_(February_2017)">cần&nbsp;số&nbsp;trang</span>]]</i>&#93;</sup>-3|[3]]]
Thay đổi lãnh thổ Anh quản lý Nhà nước tự do Orange và Transvaal theo Hiệp ước Vereeniging
Tham chiến
 Canada
Raj thuộc Anh Ấn Độ
New Zealand New Zealand
Bản mẫu:Country data British Ceylon
Bản mẫu:Country data Orange Free State

Bản mẫu:Country data South African Republic
Afrikaner Vryheidsvlag.svg Cape Boers

Chỉ huy
Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland Lord Salisbury
Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland Joseph Chamberlain
Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland Lord Milner
Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland Lord Roberts
Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland Sir Redvers Buller
Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland Lord Kitchener
Canada Sir Wilfrid Laurier
Úc Sir Edmund Barton
Bản mẫu:Country data South African Republic Paul Kruger
Bản mẫu:Country data South African Republic Louis Botha
Bản mẫu:Country data South African Republic Schalk W. Burger
Bản mẫu:Country data South African Republic Koos de la Rey
Bản mẫu:Country data Orange Free State Martinus Steyn
Bản mẫu:Country data Orange Free State Christiaan de Wet
Bản mẫu:Country data South African Republic Piet Cronjé (POW)
Bản mẫu:Country data South African Republic Piet Joubert
Lực lượng
Quân chính quy Anh:
347.000
Lực lượng thuộc địa:
103.000–153.000
Lực lượng hỗ trợ Nam Phi da đen:
100.000 [1]
Boer Commandos:
Boer Transvaal
25.000
Free State Boers
15.000
Boer Cape
Lực lượng hỗ trợ Boer da đen:
10.000 [2]
Tình nguyện viên nước ngoài:
5.400+[4]
Tổn thất
Quân nhân thương vong:
22.092 người chết[c]
934 mất tích[cần dẫn nguồn]
22.828 người bị thương[cần dẫn nguồn]
Quân nhân thương vong:
6.189 người chết [d]
24.000 tù binh Boer bị chuyển ra nước ngoài;
[4]
21.256 bitter-enders đầu hàng vào cuối chiến tranh;[5]

Thương vong thường dân: 46.370 người, trong đó có 26.370 phụ nữ và trẻ em người Boer chết trong các trại tập trung,[6] cùng với 20.000+ người Phi da đen[6] trong số 115.000 người tập trung ở các trại tập trung riêng biệt[cần dẫn nguồn]

.

Chiến tranh Boer thứ hai (tiếng Hà Lan: Tweede Boerenoorlog, tiếng Afrikaans: Tweede Vryheidsoorlog, "Chiến tranh tự do thứ nhì"), được biết đến nhiều hơn với tên gọi Chiến tranh Boer, Chiến tranh Anh-Boer, Chiến tranh Nam Phi hoặc Chiến tranh Nam Phi Anh-Boer, bắt đầu vào ngày 11 tháng 10 năm 1899 và kết thúc vào ngày 31 tháng 5 năm 1902. Anh đánh bại hai nhà nước Boer ở Nam Phi: Cộng hòa Nam Phi (Cộng hòa Transvaal) và Nhà nước Tự do Orange. Anh được sự hỗ trợ của Thuộc địa Cape, Thuộc địa Natal và một số đồng minh châu Phi. Các nỗ lực chiến tranh của Anh được hỗ trợ thêm bởi các tình nguyện viên từ đế quốc Anh, bao gồm Nam Phi, thuộc địa của Úc, Canada, Ấn Độ và New Zealand. Tất cả các nước khác đều có tính trung lập, nhưng ý kiến ​​của họ phần lớn là thù địch với Anh Quốc. Bên trong Anh Quốc và Đế quốc của cũng có sự phản đối đáng kể đối với Chiến tranh Boer thứ hai. Nước Anh quá tự tin và không có sự chuẩn bị trước.[7] Người Boers đã được trang bị vũ khí và tấn công đầu tiên, bao vây Ladysmith, Kimberley, và Mafeking vào đầu năm 1900, và chiến thắng các trận đánh quan trọng tại Colenso, Magersfontein và Stormberg. Bị chao đảo, Anh Quốc mang một số lượng lớn lính và chiến đấu trở lại. Tướng Redvers Buller được thay thế bởi Lord Roberts và Lord Kitchener. Họ đã giải tỏa ba thành phố bị bao vây và xâm chiếm hai nước cộng hòa Boer vào cuối năm 1900. Các cuộc hành quân của quân đội Anh đã quá áp đảo đến mức Boers không chống lại những trận đánh được tổ chức để bảo vệ quê hương của họ. Nước Anh nhanh chóng nắm quyền kiểm soát toàn bộ Nhà nước Tự do Tự do và Transvaal, khi mà giới lãnh đạo dân sự đã trốn tránh hoặc lưu vong. Theo thuật ngữ thông thường, chiến tranh đã kết thúc. Anh chính thức sáp nhập hai nước vào năm 1900, và gọi đó là cuộc bầu cử kaki để cung cấp cho chính phủ thêm sáu năm nữa quyền lực tại London.

Tuy nhiên, người Boer từ chối đầu hàng. Họ quay trở lại chiến tranh du kích dưới các tướng mới là Louis Botha, Jan Smuts, Christiaan de Wet và Koos de la Rey. Hai năm nữa các cuộc tấn công bất ngờ và nhanh chóng thoát ra sau. Là du kích mà không có đồng phục, máy bay Boer dễ dàng pha trộn vào đất nông nghiệp, nơi cung cấp nơi ẩn náu, nguồn cung cấp, và ngựa. Giải pháp của Anh là thiết lập các khu nhà phức tạp, các điểm mạnh và hàng rào hàng rào kẽm, chia cắt toàn bộ lãnh thổ bị chinh phục. Các nông dân dân sự đã được di dời vào các trại tập trung, nơi tỷ lệ rất lớn đã chết vì bệnh tật, đặc biệt là trẻ em, những người hầu như thiếu các cơ hội miễn dịch. Sau đó các đơn vị bộ binh của Anh Quốc đã theo dõi hệ thống các đơn vị du kích Boer có tính di động cao. Cuộc chiến ở giai đoạn này là những cuộc hành quân nhỏ và chỉ có vài người bị thương (chiến tranh đã chấm dứt trong các điều khoản đầu hàng và của Anh tại Hiệp ước Vereeniging tháng 5 năm 1902). Anh đã thắng được các lãnh tụ Boer, những người đến lúc đó đã hỗ trợ đầy đủ cho hệ thống chính trị mới. Cả hai nước cộng hòa này đều được thành lập vào Liên minh Nam Phi vào năm 1910, do người Boer kiểm soát.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The Rhodesia Regiment, drawing most of its personnel from the Southern Rhodesia Volunteers, served in the war, contributing around 1,000 men Keppel-Jones 1983, tr. 590–59.
  2. ^ Số lượng lớn tình nguyện viên đến từ Hà Lan, Đức và Thụy Điển-Na Uy. Các lực lượng nhỏ hơn đến từ các quốc gia Ireland, Úc, Ý, Vương quốc Lập hiến Ba Lan, Pháp, Bỉ, Đế chế Nga, Hoa Kỳ, Đan Mạch và Áo-Hung.
  3. ^ 5,774 chết trong chiến trận; 2.108 người chết vì bị thương; 14.210 chết vì bệnh tật Eveleigh Nash 1914, tr. 309. 14.658 chết vì bệnh; 75.430 người trở về bị bệnh hoặc bị thương Wessels 2011, tr. 79.
  4. ^ 6,189 died of which: 3,990 killed in battle; 157 chết trong tai nạn; 924 người bị thương và bị bệnh; 1.118 chết khi là tù binh.Wessels 2011, tr. 79.
  1. ^ Jones 1999.
  2. ^ Grattan 2009, tr. 147–58.
  3. [[#cite_ref-FOOTNOTEHaydon1964<sup_class="noprint_Inline-Template_"_style="white-space:nowrap;">&#91;<i>[[Wikipedia:Chú_thích_nguồn_gốc|<span_title="Wikipedia:Chú_thích_nguồn_gốc'"`UNIQ--nowiki-00000002-QINU`"'_(February_2017)">cần&nbsp;số&nbsp;trang</span>]]</i>&#93;</sup>_3-0|^]] Haydon 1964, tr. [cần số trang].
  4. ^ a ă EB editors 2011.
  5. ^ Wessels 2011, tr. 79.
  6. ^ a ă Britain's Vietnam.
  7. ^ Millard, Candice (2016). Hero of the Empire: The Boer War, a daring escape, and the making of Winston Churchill. New York: Doubleday. ISBN 9780385535731. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2017. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]