Paul Kruger

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Paul Kruger
KrugerPaulusJohannes.jpg
Kruger, hình chụp năm 1900
Chức vụ
Tổng thống Cộng hòa Nam Phi
Nhiệm kỳ 9 tháng 5 năm 1883 – 10 tháng 9 năm 1900
Tiền nhiệm Triumvirate
Kế nhiệm Schalk Willem Burger (acting)
Thông tin chung
Sinh 10 tháng 10, 1825(1825-10-10)
Bulhoek, Steynsburg, Thuộc địa Cape
Mất 14 tháng 7, 1904 (78 tuổi)
Clarens, Vaud, Thụy Sĩ
Tôn giáo
Con cái 17
Chữ ký Paul Kruger's signature.png

Stephanus Johannes Paulus Kruger ( /ˈkrɡər/; Tiếng Hà Lan: [ˈkryɣər]; (10 tháng 10 năm 1825 - 14 tháng 7 năm 1904) là một trong những nhân vật chính trị và quân sự nổi bật ở Nam Phi thế kỷ 19, và Tổng thống Cộng hòa Nam Phi (hay Transvaal) từ năm 1883 đến 1900. Được đặt gọi bằng tên Oom Paul (Bác Paul), ông nổi tiếng thế giới khi đối mặt với sự nghiệp Boer - của Transvaal và nước láng giềng Nhà nước tự do Cam - chống Anh trong chiến tranh Boer thứ hai năm 1899 -1902. Ông được gọi là hiện thân của Afrikanerdom, và vẫn là một nhân vật gây tranh cãi và chia rẽ; những người ngưỡng mộ tôn kính ông như là một anh hùng dân gian bi thảm, và các nhà phê bình coi ông là người bảo vệ kiên định của một nguyên nhân bất công.

Sinh ra ở rìa phía đông Cape Colony. Ông là con thứ ba và là con trai thứ hai của ông Casper Jan Hendrik Kruger, nông dân, và bà Elsie (Elisa; nhũ danh Steyn).[1] Gia đình họ là người Afrikaner nói tiếng Hà Lan hay lý lịch Boer, dòng máu Đức, Huguenot Pháp và Hà Lan.[1][2] Kruger đã tham gia vào Groot Trek (Con đường lớn) khi còn nhỏ vào cuối những năm 1830. Ông hầu như không nhận giáo dục ngoài Kinh thánh và, thông qua các diễn giải của ông về Kinh thánh, tin rằng Trái Đất bằng phẳng. Một protégé của lãnh đạo Voortrekker, Andries Pretorius, ông đã chứng kiến ​​việc ký kết Công ước Sông cát với Anh Quốc vào năm 1852 và trong thập kỷ tiếp theo đã đóng một vai trò nổi bật trong việc tạo lập Cộng hòa Nam Phi, dẫn đầu các đơn vị và giải quyết các tranh chấp giữa đối thủ Boer lãnh đạo và phe phái. Năm 1863, ông được bầu làm Tổng Tư lệnh, một vị trí ông giữ trong một thập kỷ trước khi ông từ chức ngay sau cuộc bầu cử tổng thống Thomas François Burgers.

Kruger được bổ nhiệm làm Phó tổng thống vào tháng 3 năm 1877, ngay trước khi Cộng hoà Nam Phi được Anh ký kết với tư cách là Transvaal.[3] Trong ba năm tiếp theo, ông đã lãnh hai lần xuất viện tới London để cố làm đảo lộn và trở thành nhân vật hàng đầu trong phong trào khôi phục nền độc lập của Nam Phi, lên đến đỉnh điểm trong chiến thắng của Boers trong Chiến tranh Boer năm 1880-1881. Kruger phục vụ cho đến năm 1883 với tư cách là thành viên của một bộ ba lãnh đạo, sau đó được bầu làm Tổng thống. Năm 1884, ông đứng đầu một vị trí thứ ba làm trung gian cho Công ước London, theo đó Anh Quốc công nhận Cộng hòa Nam Phi là một quốc gia hoàn toàn độc lập.

Tiếp theo làn sóng hàng ngàn người định cư Anh với đợt cơn sốt vàng Witwatersrand năm 1886, những người "uitlanders" (người ngoài cuộc) đã cung cấp hầu hết số thu thuế của Cộng hòa Nam Phi nhưng thiếu đại diện công dân; Các thành phố Boer vẫn giữ quyền kiểm soát của chính phủ. Vấn đề của Uitlander và những căng thẳng liên quan với Anh đã làm Kruger chú ý đến phần còn lại của nhiệm kỳ tổng thống của ông, và ông được tái đắc cử vào năm 1888, 1893 và 1898, và dẫn tới cuộc đột kích Jameson năm 1895-96 và cuối cùng là Chiến tranh Boer thứ hai. Kruger rời Châu Âu khi chiến tranh chống lại Boers vào năm 1900 và trải qua phần còn lại của cuộc đời lưu vong, không chịu trở về nhà sau chiến thắng của Anh. Sau khi qua đời ở Thụy Sĩ ở tuổi 78 vào năm 1904, thi thể ông được trở lại Nam Phi để làm đám tang của nhà nước, và chôn trong Hầm mộ anh hùng ở Pretoria.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]