Chiến tranh Algérie

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến tranh Algérie
ثورة التحرير الجزائرية
Algerian war collage wikipedia.jpg
.
Thời gian 1 tháng 11, 1954 – 19 tháng 3, 1962
(7 năm, 4 tháng, 2 tuần, 4 ngày)
Địa điểm Algeria
Nguyên nhân bùng nổ Mặt trận Giải phóng Quốc gia Algérie (FLN) thực hiện vụ tấn công khủng bố Toussaint Rouge tại Algeria thuộc Pháp ngày 1/11/1954.
Kết quả Quân đội Pháp chiến thắng
FLN giành thắng lợi chính trị
Hiệp ước Évian
  • Algérie độc lập
  • Những người Pieds-Noirs hồi hương
Tham chiến
Algérie FLN (ALN)
Algérie MNA (Phong trào Quốc gia Algérie)
Flag of Parti communiste algérien.gif PCA
Pháp Đệ tứ Cộng hòa Pháp (1954–1958)
Pháp Đệ ngũ Cộng hòa Pháp (1958–1962)
Pháp FAF
(1960–61)
Oas logo public.svg OAS
(1961–62)
Chỉ huy
Saadi Yacef
Mustapha Benboulaïd  
Ferhat Abbas
Houari Boumedienne
Hocine Aït Ahmed
Ahmed Ben Bella
Krim Belkacem
Frantz Fanon
Larbi Ben M'Hidi  
Rabah Bitat
Mohamed Boudiaf
Ali La Pointe
Paul Cherrière (1954–55)
Henri Lorillot (1955–56)
Raoul Salan (1956–58)
Maurice Challe (1958–60)
Jean Crepin (1960–61)
Fernand Gambiez (1961)
Pierre Lagaillarde
Raoul Salan
Edmond Jouhaud
Jean-Jacques Susini
Said Boualam
Paul Aussaresses
Lực lượng
40.000 (xác nhận)
300.000 (ước tính)
670.000[1]
90.000 người Harki
3.000 (OAS)
Tổn thất
153.000 người chết[2][3]
không rõ số lượng bị thương
25.600 người chết
65.000 bị thương
100 chết (OAS)
2.000 bị bắt (OAS)
.
tổng số 400.000–1.500.000 người chết[4]

Chiến tranh Algérie hay còn được gọi là chiến tranh giành độc lập Algérie hoặc là cách mạng Algerie (tiếng Ả Rập: الثورة الجزائرية Ath-Thawra Al-Jazā’iriyya; tiếng Pháp: Guerre d'Algérie, "Chiến tranh Algerie") là một cuộc chiến tranh giữa Pháp và các lực lượng đòi độc lập cho Algerie, diễn ra từ 1954 đến 1962, kết quả là Algerie đã giành độc lập từ Pháp. Đây là một cuộc chiến tranh tổng hợp, là điển hình của hình thức chiến tranh du kích, khủng bố dân thường và tra tấn từ cả hai bên, và các hoạt động chống khủng bố của quân đội Pháp. Đây thực chất cũng là một cuộc nội chiến giữa những người Algerie trung thành với Pháp và những người Algerie hồi giáo muốn độc lập.[5] Bắt đầu vào ngày 1 tháng 11, 1954 với việc Mặt trận Giải phóng Quốc gia (National Liberation Front-FLN) thực hiện vụ tấn công Toussaint Rouge ("lễ Các Thánh đỏ"), cuộc chiến đã làm đệ tứ Cộng hòa Pháp (1946-1958) lung lay và cuối cùng là sụp đổ.

Bối cảnh: Algerie thuộc Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Pháp xâm lược Algerie[sửa | sửa mã nguồn]

Lấy cớ người Algerie không tôn trọng quan tổng tài Pháp, Pháp đã xâm chiếm Algiers năm 1830[6]. Cuộc xâm lược đẫm máu của Pháp được Marshall Bugeaud, sau này là toàn quyền Pháp đầu tiên ở Algerie, chỉ huy. Nhằm làm suy yếu Dey (tiếng Ả Rập: داي, tiếng Thổ: Dayı) (chế độ nhiếp chính ở Algerie thuộc Ottoman khi đó), quân Pháp đã áp dụng chính sách tiêu thổ, bao gồm cả thảm sát, cướng hiếp quy mô lớn và những tội ác khác[7]. Đồng tình với phương pháp của Bugeaud, nhà tư tưởng theo chủ nghĩa tự do Alexis de Tocqueville đã tuyên bố: "Chiến tranh ở châu Phi là một ngành khoa học. Mọi người đều quen với các nguyên tắc của nó và mọi người có thể áp dụng những nguyên tắc đó và gần như chắc chắn thành công. Một trong những đóng góp vĩ đại nhất mà Field Marshal Bugeaud đã dâng hiến cho đất nước của mình là đã mở rộng, hoàn thiện và khiến cho mọi người nhận ra ngành khoa học mới mẻ này."[7]

Năm 1834, Algerie trở thành một thuộc địa quân sự của Pháp.Năm 1848, thông qua Hiến pháp 1848 của Pháp, Algerie được tuyên bố trở thành một phần không thể tách rời của lãnh thổ Pháp và được chia thành ba tỉnh: Algiers, Oran và Constantine. Từ đó, nhiều người Pháp và nhiều người từ các nước châu Âu khác (Tây Ban Nha, Italy, Malta,...) đã đến Algerie định cư.

Giữa hai cuộc chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh thế giới thứ nhấtChiến tranh thế giới thứ hai, Algérie đóng vai trò quan trọng. Đây vốn là nơi cung cấp người và khí tài quân sự cho Pháp trong cả hai cuộc chiến. Nhiều người Algérie tham chiến cho quân đội Pháp và là lực lượng trọng điểm cho người Pháp trong nhiều trận đánh. Algérie chính là xứ Bắc Phi còn lại được giải phóng trong Thế chiến II, nhưng thay vì giấc mơ độc lập sớm, Hoa KỳAnh lại trao nó lại cho Pháp, gây nên xích mích sau này.

Tác động từ Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh Đông Dương bùng nổ đã khiến Pháp phải huy động một lực lượng lớn binh sĩ tham chiến tại Đông Dương, trong đó, Algérie và Maroc là hai quốc gia đóng góp nhiều người nhất. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian gần 10 năm tham chiến, những người lính Algérie đã bị tác động mạnh bởi tinh thần ái quốc của người dân Việt Nam, khiến nhiều binh lính Hồi giáo nảy sinh ý định nổi loạn như vậy sau khi về nước. Sự tham chiến của những binh lính Algérie cũng làm giới chức Pháp lo ngại, do thái độ gần như cộng tác với phe Việt Minh về mặt tình cảm của họ.

Tại Algérie, những diễn biến bất lợi liên tiếp của quân đội Pháp càng khiến nhiều người dân địa phương chán ghét sự cai trị của Pháp. Nhiều người thậm chí còn công khai lên tiếng ủng hộ Việt Minh và Hồ Chí Minh khi cần. Tại thủ đô Algiers, một số tu sĩ Hồi giáo (Imam) đã kêu gọi mở "trưng cầu dân ý" và đòi quyền tự trị.

Điện Biên Phủ - ngọn lửa châm ngòi chiến sự[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1954, Trận Điện Biên Phủ giữa Pháp và Việt Nam bùng nổ và kéo dài trong hai tháng đẫm máu. Mặc dù Điện Biên Phủ được xây kiên cố và được phòng thủ ngặt nghèo, tuy nhiên với việc thiếu đường tiếp liệu và thua thiệt quân số, người Pháp đã thất thủ vào ngày 7/5/1954. Sự kiện này gây ra cú sốc lớn, khi lần đầu tiên quân đội một nước thuộc địa đánh bại quân đội thực dân thiện chiến. Điều này dẫn tới Hội nghị Genève, mà tại đó, Việt Nam, cùng Lào và Campuchia, được coi như là các nước độc lập.

Tại Algérie, thất bại nhục nhã của Pháp ở Điện Biên Phủ đã làm thổi bùng sự phẫn nộ của người dân về sự cai trị của Pháp. Nhiều người Algérie lấy Việt Nam như một hình mẫu để kháng lại. Tác động của trận Điện Biên Phủ đã khiến nhiều thuộc địa Pháp tại Phi châu rập rình tham vọng độc lập, mà Algérie chịu tác động mạnh nhất. Tại Algiers, nhiều người Algérie đã kêu gọi sự ủng hộ với một nền độc lập và xóa sổ sự cai trị của Pháp tại đây.

Chính Hồ Chí Minh sau này cũng thể hiện sự ủng hộ với người dân Algérie.

Chiến sự[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 10 năm 1954, một nhóm thanh niên Hồi giáo người Algérie đã lập nên FLN, một tổ chức du kích với mục đích giành lại độc lập từ Pháp. Họ tổ chức một số cuộc nổi dậy đẫm máu trong những năm sau đó, và đến năm 1956, FLN đã gần như tràn ngập khắp các thành phố thuộc địa, nơi ở của khá đông người châu Âu đến cai trị. Ở Pháp, chính quyền mới của Thủ tướng Guy Mollet hứa hẹn sẽ dập tắt cuộc nổi loạn Hồi giáo này và gửi 50 vạn quân Pháp đến để nghiền nát FLN.

Để cô lập phiến quân và khu vực hoạt động của họ, Pháp cho phép Tunisia và Morocco được độc lập, và biên giới của họ với Algérie được quân sự hóa bằng dây kẽm gai và hàng rào điện. Khi các nhà lãnh đạo FLN cố gắng tới Tunisia hồi tháng 10 năm 1956 để thảo luận về Chiến tranh Algérie, quân đội Pháp đã làm trệch hành trình bay và bắt giữ họ. Để đáp trả, FLN phát động một chiến dịch khủng bố mới ở thủ đô Algiers. Đại tướng Jacques Massu, chỉ huy lực lượng lính dù của Pháp, đã được trao quyền hạn đặc biệt để hoạt động trong thành phố, và bằng cách tra tấn và ám sát, sự hiện diện của FLN ở Algiers đã hoàn toàn biến mất. Đến cuối năm 1957, phiến quân bị đẩy lùi về khu vực nông thôn, và dường như tình thế đã đổi chiều trong Chiến tranh Algérie.

Tuy nhiên, đến tháng 5 năm 1958, một cuộc khủng hoảng mới bắt đầu khi những người châu Âu ở Algérie phát động một cuộc biểu tình lớn nhằm kêu gọi sáp nhập Algérie vào Pháp và cho sự trở lại nắm quyền của cựu Tổng thống Charles de Gaulle. Ở Pháp, dư luận đã chia thành hai phe tách biệt về vấn đề Chiến tranh Algérie, và rất nhiều người lo ngại nước này đang đứng trên bờ vực của một cuộc nổi dậy của quân đội hay nội chiến. Ngày 1 tháng 6, de Gaulle, cựu Thủ tướng Pháp sau Thế chiến II, được Quốc hội tái bổ nhiệm làm thủ tướng và được ủy quyền soạn thảo một bản hiến pháp mới.

Ít ngày sau khi trở lại nắm quyền, de Gaulle đến thăm Algiers, và dù đã được những người châu Âu ở Algérie chào đón nồng nhiệt, ông lại không mấy nhiệt tình với vấn đề sáp nhập Algérie. Thay vào đó, ông trao cho người Hồi giáo mọi quyền lợi như của công dân Pháp, và vào năm 1959, ông công khai tuyên bố rằng người Algérie có quyền tự quyết định tương lai của chính họ. Trong hai năm sau đó, bạo lực đẫm máu nhất ở Algérie chủ yếu là do những người châu Âu ở Algérie, chứ không phải do FLN gây ra, nhưng những cuộc khởi nghĩa và khủng bố rải rác đã không ngăn được Pháp và Chính phủ lâm thời do FLN đứng đầu của Cộng hòa Algérie mở ra những cuộc đàm phán hòa bình năm 1961.

Ngày 16 tháng 3 năm 1962, một thỏa thuận hòa bình được ký tại Evian-les-Bains, Pháp, hứa hẹn trả lại độc lập cho Algérie sau một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề này. Pháp sẽ tiếp tục viện trợ, và người châu Âu có thể hồi hương, tiếp tục ở lại với tư cách người nước ngoài ở Algérie, hoặc nhận quốc tịch Algérie. Ngày 1 tháng 7 năm 1962, đa số người Algérie chấp nhận thỏa thuận hòa bình, và gần 1 triệu người châu Âu ở Algérie đã rời bỏ đất nước này. Hơn 10 vạn chiến binh Hồi giáo và 10 ngàn binh sĩ Pháp đã thiệt mạng trong cuộc Chiến tranh Algérie kéo dài 7 năm, chưa kể đến hàng ngàn thường dân Hồi giáo và hàng trăm thường dân châu Âu khác

Ngày 18 tháng 3 năm 1962, Pháp và các nhà lãnh đạo của Mặt trận Giải phóng Quốc gia Algérie (FLN) đã ký một thỏa thuận hòa bình nhằm chấm dứt cuộc Chiến tranh Algérie kéo dài 7 năm, kết thúc 130 năm Pháp đô hộ Algérie.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Martin Windrow, The Algerian War 1954–62. p. 17
  2. ^ Anthony Clayton, Frontiersmen: Warfare In Africa Since 1950
  3. ^ Alistair Horne, A Savage War of Peace (1977)
  4. ^ France remembers the Algerian War, 50 years on France 24
  5. ^ Guy Pervillé, Pour une histoire de la guerre d´Algérie, chap. "Une double guerre civile", Picard, 2002, pp.132–139
  6. ^ Alistair Horne, (2006). A Savage War of Peace: Algeria 1954–1962, New York
  7. ^ a ă Olivier Le Cour Grandmaison (tháng 6 năm 2001). “Torture in Algeria: Past Acts That Haunt France – Liberty, Equality and Colony”. Le Monde diplomatique.  (quoting Alexis de Tocqueville, Travail sur l'Algérie in Œuvres complètes, Paris, Gallimard, Bibliothèque de la Pléiade, 1991, pp 704 and 705.(tiếng Anh)/(tiếng Pháp)

8. http://nghiencuuquocte.net/2015/03/19/chien-tranh-algerie-cham-dut/