Đảo Ascension

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Đảo Ascension
Quốc kỳ Đảo Ascension
Flag
Coat of arms of Đảo Ascension
Coat of arms
Quốc ca: "God Save the Queen"
Vị trí của Đảo Ascension
Vị trí của Đảo Ascension
Thủ đô Georgetown
7°56′N 14°25′T / 7,933°N 14,417°T / -7.933; -14.417
Điểm dân cư lớn nhất lớn nhất Georgetown
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Anh
Một phần của Saint Helena, Ascension và Tristan da Cunha
Lãnh đạo
Elizabeth II
• Thống đốc
Lisa Phillips
• Người quản lý
Justine Allan
Lãnh thổ thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
• Lần đầu có người đặt chân đến
1815
• Lãnh thổ phụ thuộc của St Helena
12 tháng 0, 1922
• Hiến pháp hiện nay
1 tháng 9, 2009
Diện tích
• Tổng số
88 km2 (34 sq mi) (219th)
• Nước (%)
0
Dân số
• Điều tra tháng 2, 2016
806[1]
Tiền tệ Bảng Saint Helena
(US$ được chấp nhận)
(SHP)
Múi giờ GMT (UTC⁠)
Lái xe bên trái
Mã vùng điện thoại +247
Mã ISO 3166 SH-AC
Internet TLD .ac

UK Postcode: ASCN 1ZZ

Ascension Island là một đảo núi lửa tách biệt trong Đại Tây Dương, cách xích đạo 7°56' về phía nam. Nó cách bờ biển châu Phi khoảng 1.600 kilômét (1.000 mi) và cách bờ biển Brasil chừng 2.250 kilômét (1.400 mi), tức đâu đó trong khoảng giữa của vùng biển giữa Nam Mỹ và châu Phi. Đây là một phần của lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh Saint Helena, Ascension và Tristan da Cunha,[2] trong đó đảo lớn Saint Helena nằm cách tận 1.300 kilômét (800 mi) về phía đông nam.

Tên đảo được đặt theo tên ngày phát hiện, Ngày Thăng thiên (Ascension Day). Nó từng đóng vai trò là chỗ dừng chân vào những ngày ngành hàng không còn dựa vào tàu bay. Vào Thế chiến II, đây là một trạm thủy-không quân quan trọng.[3] Đảo Ascension là nơi đóng quân của hải quân Anh từ 1815 đến 1922.

Đảo là nơi đặt RAF Ascension Island (một sân bay trong những trạm Không lực Hoàng gia), một trạm theo dõi tên lửa của Cơ quan vũ trụ Châu Âu, một điểm SIGINT Anh-Mỹ và một trạm tiếp âm BBC World Service. Đây là nơi giàn quân chính trong cuộc chiến tranh Falklands. Đảo Ascension có một trong bốn anten (ba anten còn lại ở đảo Kwajalein, Diego Garcia, và mũi Canaveral) hỗ trợ sự vận hành của Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS).

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Comfortless Cove

Đảo có diện tích chừng 88 km², là một đỉnh núi lửa nhô lên mặt nước, chỉ cách sống núi giữa Đại Tây Dương 100 km (62 mi). Đa phần đất đai là sản phẩm của núi lửa.[4]

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Về địa chất, đảo Ascension còn trẻ: nó là đỉnh của một núi lửa mới ló lên mặt biển khoảng một triệu năm trước. Dù hoạt động núi lửa chủ yếu dính dáng đến kiến tạo mảng sống núi giữa Đại Tây Dương 80 km về phía tây, đảo Ascension cũng cho thấy những đặc điểm liên quan đến hoạt động núi lửa điểm nóng. Điều này có vẻ là kết quả của một chùm manti nhỏ hơn ban đầu hình thành dưới sống núi, trước khi mảng châu Phi, cùng với sống núi, dạt về phía tây – để lại chùm manti tại vị trí hiện nay.[5] Lần phun trào gần nhất có lẽ diễn ra vào thế kỷ XVI. Do chỉ mới trồi lên, đất ở đây chủ yếu là clinker (sản phẩm của loại dung nham ʻaʻā).[6]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Đảo Ascension có khí hậu hoang mạc nóng (BWh, theo phân loại khí hậu Köppen). Nhiệt độ ven biển trung bình từ 22,7 đến 27,8 °C (72,9 đến 82,0 °F), và từ 5 đến 6 °C (9 to 11 °F) mát hơn ở điểm cao nhất. Trời có thể đổ mưa bất kì lúc nào, song thường nặng hạt hơn vào tháng 6-9. Dù nằm trong quầng nhiệt đới, lượng mưa hằng năm rất thấp. Nguyên nhân của điều này có lẽ là do nhiệt độ thấp của vùng nước xung quanh, bởi hải lưu Benguelahải lưu Nam Xích đạo chảy về phía bắc từ vùng biển tây Phi. Những dòng biển này mang đến hiệu ứng làm lạnh cho Nam Đại Tây Dương. Xoáy thuật nhiệt đới ít khi diễn ra.[7][8][9]

Dữ liệu khí hậu của Georgetown, Ascension Island
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 31.7 31.7 31.7 32.2 31.7 30.6 30.6 28.9 28.9 28.9 30.0 30.6 32,2
Trung bình cao °C (°F) 28.3 29.4 30.0 30.0 28.9 27.8 27.2 26.1 26.1 26.1 26.7 27.2 27,8
Trung bình thấp, °C (°F) 22.8 23.9 24.4 24.4 23.9 22.8 22.2 21.1 21.1 21.1 22.2 22.6 22,7
Thấp kỉ lục, °C (°F) 18.9 20.0 21.1 20.6 19.4 19.4 19.4 18.3 17.2 18.3 17.8 17.8 17,2
Giáng thủy mm (inch) 8
(0.31)
10
(0.39)
38
(1.5)
30
(1.18)
10
(0.39)
15
(0.59)
13
(0.51)
10
(0.39)
10
(0.39)
13
(0.51)
8
(0.31)
8
(0.31)
173
(6,81)
độ ẩm 74 73 73 73 70 69 69 70 73 73 72 73 71,8
Số ngày giáng thủy TB (≥ 0.3 mm) 7 5 7 8 6 8 7 8 10 12 8 8 94
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 229 224 276 267 264 260 239 217 165 161 159 198 2.659
Nguồn #1: Deutscher Wetterdienst[10]
Nguồn #2: Danish Meteorological Institute[11]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Census 2016 – summary report” (PDF). St Helena Government. Tháng 6 năm 2016. tr. 9. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2017. 
  2. ^ “The St Helena, Ascension and Tristan da Cunha Constitution Order 2009”. 
  3. ^ Victory at Sea (Series title), Volume-10 "Beneath the Southern Cross" 1952 production of NBC, (Disc 2 of DVD collection reproduction ca. 2007-2008)
  4. ^ “Saint Helena, Ascension, and Tristan da Cunha”. The World Factbook. Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  5. ^ “The geology of Ascension Island”. Ascension Island Volcanology (bằng tiếng en-US). 25 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2018. 
  6. ^ BBC News, The island where nothing makes sense, 19 April 2016
  7. ^ “The South Equatorial Current System”. oceancurrents.rsmas.miami.edu. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2016. 
  8. ^ “The Benguela Current”. oceancurrents.rsmas.miami.edu. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2016. 
  9. ^ “TCFAQ G6) Why doesn't the South Atlantic Ocean experience tropical”. www.aoml.noaa.gov. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2016. 
  10. ^ “Klimatafel von Georgetown (Flugh.), Insel Ascension / Südatlantik / Großbritannien” (PDF). Federal Ministry of Transport and Digital Infrastructure. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016. 
  11. ^ “STATIONSNUMMER 61902” (PDF). Ministry of Energy, Utilities and Climate. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016.