Cà đác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cà đác
Tonkin snub-nosed monkeys (Rhinopithecus avunculus).jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Primate
Họ (familia) Cercopithecidae
Phân họ (subfamilia) Colobinae
Chi (genus) Rhinopithecus
Loài (species) R. avunculus
Danh pháp hai phần
Rhinopithecus avunculus
(Dollman, 1912)
Khu vực phân bố ở Bắc Bộ Việt Nam
Khu vực phân bố ở Bắc Bộ Việt Nam

Cà đác hay còn được biết đến với tên gọi Voọc mũi hếch Bắc Bộ (danh pháp hai phần: Rhinopithecus avunculus)[2] là một loài khỉ Cựu thế giới đặc hữu của vùng Bắc Bộ Việt Nam. Loài có bộ lông màu trắng và nâu đen, mũi và môi có màu hồng cùng một vùng chuyển màu xanh đặc biệt quanh mắt. Chúng thường được tìm thấy ở độ cao 200 đến 1.200 m (700 đến 3.900 ft) trong những mảnh rừng ở Tuyên Quang, Cao Bằng, Yên Bái, Quảng Ninh, Hà Giang.[3] Cà đác được phát hiện vào cuối thập niên 1860 khi giáo sĩ Armand David gửi cá thể đầu tiên sang Châu Âu nhưng mãi đến năm 1912 mới được miêu tả sinh học lần đầu tiên, sau đó được phát hiện lại vào năm 1990 nhưng vẫn cực kỳ quý hiếm.[4] Đến năm 2008, ít hơn 250 cá thể cá đác được cho là còn tồn tại và loài trở thành đối tượng được bảo tồn đặc biệt. Chúng bị đe dọa bởi việc mất môi trường sốngsăn bắt trộm, được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế xếp vào hàng mục "loài cực kỳ nguy cấp"[3] và cũng được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Hình dạng của cà đác

Cà đác có chiếc mũi hếch và đôi môi to màu hồng cùng một vùng chuyển màu xanh quanh mắt và mõm. Lông ở phần lưng của chúng có màu nâu đen nhưng phía ngực và bụng lại có màu màu trắng kem cùng một mảng lông màu cam xung quanh cổ, đặc biệt là ở con đực. Chúng không có mào lông trên đỉnh đầu.[3] Chiều dài cơ thể của loài từ 51 đến 65 cm (20 đến 26 in) cộng thêm chiều dài đuôi từ 66 đến 92 cm (26 đến 36 in). Cà đác cái và cà đác đực có cân nặng trung bình lần lượt khoảng 8 kg (18 lb) và 14 kg (31 lb). Những cá thể đang trưởng thành có phần lông màu xám thay cho màu đen và cũng không có vùng lông cam quanh cổ.[5]

Cà đác là loài ăn đêm với thức ăn bao gồm đa dạng các loại , quả, hoa và hạt. Chúng sinh sống hoàn toàn trên cây, di chuyển thành những đàn nhỏ. [5]

Bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Với độ cao từ 200 đến 1.200 m (700 đến 3.900 ft), phân bố môi trường sống của loài cà đác hiện bị giới hạn trong những mảng rừng thường xanh nhiệt đới đi liền với những đồi núi đá vôi karst hiểm trở. Năm quần thể riêng biệt của loài đã được tìm thấy kể năm 1990.[6] Mặc dù được xem là loài biểu trưng và nhận được nhiều hành động bảo tồn, số lượng cá thể cà đác vẫn có xu hướng giảm và liên tục nằm trong danh sách "25 loài linh trưởng nguy cấp nhất trên thế giới" kể từ năm 2000.[7][8][9][10][11][12][13][14][15]

Mất môi trường sống và săn bắt trộm là những nguyên nhân chính yếu dẫn đến sự tụt giảm số lượng của các loài linh trưởng, bao gồm cả cà đác. Một nghiên cứu vào năm 1993 tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hang ghi nhận 72 cá thể cà đác (ước tính 80 cá thể) sau đó vào năm 2005 tại cùng địa điểm chỉ còn 17 cá thể được ghi nhận (trong ước tính 22 cá thể). Dữ liệu thứ cấp và sơ cấp chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng này là do hoạt động săn bắt.[6]

Loài cà đác rất hiếm khi được nhìn thấy và đã từng bị xem là tuyệt chủng cho thập niên 90 của thể kỉ 20 khi một quần thể nhỏ loài này được tìm thấy tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Hai khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hang và Chạm Chu hiện là hai khu vực chính có cà đác sinh sống, riêng khu bảo tồn Na Hang được thành lập với mục đích bảo vệ sinh thái cho loài linh trưởng này. Năm 2002, thêm một đàn cà đác được phát hiện ở khu bảo tồn thiên nhiên Du Già, tỉnh Hà Giang. Sau đó vào tháng tư năm 2008, Tổ chức Động thực vật Quốc tế cũng phát hiện thêm nhóm cà đác nữa ở vùng Tây Bắc, nâng tổng số lượng cá thể cà đác lên 250 trên toàn thế giới.[16]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xuan Canh, L.; Khac Quyet, L.; Thanh Hai, D. & Boonratana, R. (2008). Rhinopithecus avunculus. Sách Đỏ IUCN (IUCN) 2008: e.T19594A8984679. doi:10.2305/IUCN.UK.2008.RLTS.T19594A8984679.en. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  2. ^ Groves, Colin (16 tháng 11 năm 2005). Wilson D. E. và Reeder D. M. (chủ biên), biên tập. Mammal Species of the World . Nhà xuất bản Đại học Johns Hopkins. tr. {{{pages}}}. ISBN 0-801-88221-4. 
  3. ^ a ă â “Voọc mũi hếch tập trung lớn ở Hà Giang”. Báo VnExpress. 10 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2019. 
  4. ^ Sterling, Eleanor, et al. Vietnam, A Natural History. New Haven, CT: Yale University Press, 172-5.
  5. ^ a ă “Tonkin snub-nosed monkey (Rhinopithecus avunculus)”. ARKive. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2016. 
  6. ^ a ă Ramesh, Boonratana (18–22 March 2013). “The Tonkin Snub-nosed monkey of Vietnam: a sinking flagship?”. ATBC Asia-Pacific Chapter, Banda Aceh. 
  7. ^ Mittermeier, R.A.; Schwitzer, C.; Rylands, A.B.; Taylor, L.A.; Chiozza, F.; Williamson, E.A.; Wallis, J. (biên tập). “Primates in Peril: The World's 25 Most Endangered Primates 2016–2018” (PDF). Illustrated by S.D. Nash. IUCN/SSC Primate Specialist Group (PSG), International Primatological Society (IPS), Conservation International (CI), and Bristol Conservation and Science Foundation (BCSF). tr. 1–40. 
  8. ^ Mittermeier, R.A.; Schwitzer, C.; Rylands, A.B.; Taylor, L.A.; Chiozza, F.; Williamson, E.A.; Wallis, J. (biên tập). “Primates in Peril: The World's 25 Most Endangered Primates 2014–2016” (PDF). Illustrated by S.D. Nash. IUCN/SSC Primate Specialist Group (PSG), International Primatological Society (IPS), Conservation International (CI), and Bristol Conservation and Science Foundation (BCSF). tr. 1–40. 
  9. ^ Mittermeier, R.A.; Schwitzer, C.; Rylands, A.B.; Taylor, L.A.; Chiozza, F.; Williamson, E.A.; Wallis, J. biên tập (2012). “Primates in Peril: The World's 25 Most Endangered Primates 2012–2014” (PDF). Illustrated by S.D. Nash. IUCN/SSC Primate Specialist Group (PSG), International Primatological Society (IPS), Conservation International (CI), and Bristol Conservation and Science Foundation (BCSF). tr. 1–40. 
  10. ^ Mittermeier, R.A.; Schwitzer, C.; Rylands, A.B.; Schwitzer, C.; Taylor, L.A.; Chiozza, F.; Williamson, E.A. (2012). “Primates in Peril: The World's 25 Most Endangered Primates 2010–2012” (PDF). IUCN/SSC Primate Specialist Group (PSG), International Primatological Society (IPS), Conservation International (CI), and Bristol Conservation and Science Foundation (BCSF). tr. 1–40. 
  11. ^ Mittermeier, R.A.; Wallis, J.; Rylands, A.B.; Ganzhorn, J.U.; Oates, J.F.; Williamson, E.A.; Palacios, E.; Heymann, E.W.; Kierulff, M.C.M.; Long Yongcheng; Supriatna, J.; Roos, C.; Walker, S.; Cortés-Ortiz, L.; Schwitzer, C. biên tập (2009). Primates in Peril: The World's 25 Most Endangered Primates 2008–2010 (PDF). Primate Conservation 24. Illustrated by S.D. Nash (IUCN/SSC Primate Specialist Group (PSG), International Primatological Society (IPS), and Conservation International (CI)). tr. 1–92. ISBN 978-1-934151-34-1. doi:10.1896/052.024.0101. 
  12. ^ Mittermeier, R.A.; Ratsimbazafy, J.; Rylands, A.B.; Williamson, L.; Oates, J.F.; Mbora, D.; Ganzhorn, J.U.; Rodríguez-Luna, E.; Palacios, E.; Heymann, E.W.; Cecília, M.; Kierulff, M.; Yongcheng, L.; Supriatna, J.; Roos, C.; Walker, S.; Aguiar, J.M. biên tập (2007). Illustrated by S.D. Nash. “Primates in Peril: The World's 25 Most Endangered Primates 2006–2008”. Primate Conservation 22: 1–40. doi:10.1896/052.022.0101. 
  13. ^ Mittermeier, R.A.; Valladares-Pádua, C.; Rylands, A.B.; Eudey, A.A.; Butynski, T.M.; Ganzhorn, J.U.; Kormos, R.; Aguiar, J.M.; Walker, S. biên tập (2006). Illustrated by S.D. Nash. “Primates in Peril: The World's 25 Most Endangered Primates 2004–2006”. Primate Conservation 20: 1–28. doi:10.1896/0898-6207.20.1.1. 
  14. ^ Konstant, W.R.; Mittermeier, R.A.; Rylands, A.B.; Butynski, T.M.; Eudey, A.A.; Ganzhorn, J.; Kormos, R. (2002). “The World's Top 25 Most Endangered Primates – 2002” (PDF). Neotropical Primates 10 (3): 128–131. 
  15. ^ Mittermeier, R.A.; Konstant, W.R.; Rylands, A.B. (2000). “The World's Top 25 Most Endangered Primates” (PDF). Neotropical Primates 8 (1): 49. 
  16. ^ “BBC NEWS”. Truy cập 14 tháng 4 năm 2015. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]