Người Việt tại Triều Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người Việt tại Triều Tiên
Tổng số dân
125,000 (ước tính 2012)
(45,000 Cô dâu và 80,000 Lao động) [1]
Khu vực có số dân đáng kể
Bình Nhưỡng, Triều Tiên
BusanSeoul, Hàn Quốc
Ngôn ngữ
Tiếng Triều Tiên, tiếng Việt
Tôn giáo
Phật giáo Đại thừaCông giáo
Sắc tộc có liên quan
Việt kiều, Người Việt

Người Việt tại Triều Tiên có một lịch sử từ cuối thời nhà Lý khi nhiều hoàng tử của nhà Lý đã chạy qua Cao Ly để tỵ nạn ở triều đình của vương quốc Goryeo sau khi nhà Trần lên nắm quyền. Sau khi Triều Tiên bị chia làm hai quốc gia Bắc Triều TiênHàn Quốc, người Việt tại đây tiếp tục sống ở cả hai quốc gia. Hiện tại (tính đến ngày 30/11/2016) người Việt ở Hàn Quốc là 147.295 người (chiếm 7,4 % số người nước ngoài). Việt Nam trở thành sắc dân đông thứ nhì trong các cộng đồng nước ngoài sinh sống tại Hàn Quốc.[2].[3].

Thời kỳ đầu trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những người Việt đến Cao Ly sớm nhất là Lý Dương Côn (李陽焜), một con nuôi của Lý Nhân Tông sau một vụ khủng hoảng kế vị, ông đã chạy qua Goryeo. Tại Triều Tiên hiện nay, ông được mọi người xem là người sáng lập ra Jeongseon-gun, Gangwon-do bon-gwan của họ Lý. Sau này, một hoàng tử khác của nhà LýLý Long Tường (con trai thứ 7 của Lý Anh Tông), đã chạy qua tỵ nạn ở Goryeo năm 1226, sau khi nhà Trần chiếm ngôi nhà Lý.

Cuối tháng 10/2015 các báo mạng tại Việt Nam đưa tin, ngày 23/05/2015 với tính chất cá nhân ông Ban Ki-moon cùng phu nhân đã đến dâng hương tại nhà thờ dòng họ Phan Huy ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội, Việt Nam[4]. Các ảnh chụp lưu niệm, và lưu bút của ông ghi nhận ông “là một người con của dòng Họ Phan" kèm theo tên bằng chữ Hán 潘基文 (Phan Cơ Văn)[4]. Sự kiện và ý tứ trong lưu bút của ông dẫn đến suy diễn về việc "ông là hậu duệ của họ Phan Huy...". Tuy nhiên những người liên quan đều thận trọng về sự kiện này do "tính chất cá nhân" và dòng họ Phan Huy không tìm thấy tư liệu trong gia phả về các nhánh di cư[5][6]. Họ Phan là một họ của người Á Đông, có ở Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Việt Nam, và "Hội đồng họ Phan Quốc tế" đã từng tổ chức họp mặt giao lưu ở Trung Quốc[6].

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Triều Tiên bị chia cắt, sinh viên từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sang Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên du học đầu thập niên 1960, trước khi các cơ sở giáo dục bằng tiếng Triều Tiên được thành lập chính thức tại miền Bắc.[7] Vị đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên hiện nay là một người tốt nghiệp tại Đại học Kim Nhật Thành.[8]

Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Người Việt di cư sang Hàn Quốc sau này nhưng đã tăng về số lượng, gồm công nhân, phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc thông qua các đơn vị môi giới hôn nhân.[9] Năm 1994, có 20.493 người lao động nhập cư từ Việt Nam đến Hàn Quốc bằng hộ chiếu tu nghiệp sinh, đến năm 1997,con số này đã tăng 10% lên 22.325 người. Phần lớn công nhân nhập cư Việt Nam tại Hàn Quốc là nam giới có tay nghề thấp hoặc không được đào tạo nghề và làm trong các công ty vừa và nhỏ sử dụng nhiều lao động chân tay như ngành chế tạo và ngư nghiệp.[10]

Theo Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, tính đến hết tháng 5-2013, cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc có khoảng 117.215 người, trong đó đa số là lao động xuất khẩu, cô dâu Việt lấy chồng Hàn và khoảng 5.000 lưu học sinh. Ngoài ra, có khoảng 5.000 người Việt thuộc dòng họ Lý Hoa Sơn và Lý Tinh Thiện là hậu duệ đời nhà Lý ở Việt Nam di cư sang Triều Tiên từ thế kỷ thứ 12, 13. Cộng đồng người Việt ở Hàn Quốc tuy không đông về số lượng nhưng đã có những hành động thiết thực giúp nhau, đóng góp cho đất nước. Ngoài ra, Văn hóa Việt, tiếng Việt rất được người Hàn Quốc coi trọng. Và bắt đầu từ năm 2013, tiếng Việt sẽ là một trong những thứ ngoại ngữ tự chọn để thí sinh tại Hàn Quốc thi vào các trường đại học[11]

Theo thống kê của Cục Xuất nhập cảnh, Bộ Tư pháp Hàn Quốc, năm 2015 có 26.340 lao động Việt Nam lưu trú bất hợp pháp tại nước này.[12]

Thống kê từ Trung tâm toàn cầu tỉnh Gyeonggi cho biết, tính đến ngày 30/6/2013, số lượng người Việt Nam ở Hàn Quốc đã là 121.456 người (đứng thứ ba trong tổng số 1.522.554 người nước ngoài đang sinh sống ở Hàn Quốc, chỉ sau Trung Quốc và Mỹ). Con số này thực ra đã giảm hơn 600 người so với cùng kỳ năm 2012 (số người Việt Nam ở Hàn Quốc năm 2012 là 122.082 người). Cũng theo thống kê này, số người Việt Nam sinh sống hợp pháp ở Hàn Quốc là 94.357 người, và số người bất hợp pháp là 27.099 người[13].

Hiện nay, Hội phụ nữ tại Hàn Quốc cũng như Hội Người Việt Nam tại Hàn Quốc đều mở những văn phòng hỗ trợ cộng đồng. Tại đây, có cả một đội ngũ nhân viên làm công tác thông dịch, hỗ trợ tư vấn 24/24h cho tất cả những phụ nữ gặp vấn đề rắc rối gia đình. Ngoài ra, Hội phụ nữ tại Hàn Quốc đã và đang nỗ lực kết nối với những cơ quan chức năng để kêu gọi sự giúp đỡ khi cần thiết và yêu cầu có biện pháp nghiêm minh để xử lý những vụ bạo lực gia đình[14].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.vtv.vn/Article/Get/-Viet-Nam-Tam-diem-hop-tac-cua-Han-Quoc-huong-ra-chau-A--e445e8b590.html
  2. ^ “Ra mắt thời báo tiếng Hàn Quốc đầu tiên ở Việt Nam”. vietnamplus. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2013. 
  3. ^ “Người Việt đông thứ nhì trong số người nước ngoài sống ở Hàn Quốc”. www.voatiengviet.com. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2016. 
  4. ^ a ă “Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc là hậu duệ của dòng họ Phan Huy? - Tuổi Trẻ Online”. Tuổi Trẻ Online. 31 tháng 10 năm 2015. Truy cập 1 tháng 11 năm 2015. 
  5. ^ Ông Ban Ki-moon nói đến quan hệ với Phan Huy Chú. Trinh Nguyễn, Thanh Niên Online, 2/11/2015.
  6. ^ a ă Thực hư chuyện ông Ban-Ki-Moon mang dòng dõi Việt, Dân trí, ngày 01/11/2015.
  7. ^ Le, Quang Thiem (tháng 2 năm 2005). “Korean Studies in Vietnam”. Korea Foundation Newsletter 14 (1). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2007. 
  8. ^ Choe, Won-gi (ngày 27 tháng 1 năm 2005). “`우리는 김일성대학 동문 사이`”. JoongAng Ilbo. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2007. 
  9. ^ Nguyen, Nhu (1999). Ho Chi Minh City, Vietnam: Mobility Research and Support Center.  Đã bỏ qua tham số không rõ |title9= (trợ giúp); |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  10. ^ Iredale, Robin R.; Castles, Stephen; Hawksley, Charles (2003). Migration in the Asia Pacific: Population, Settlement and Citizenship Issues. Cheltenham, United Kingdom: Edward Elgar Publishing. ISBN 1840648600.  See page 173.
  11. ^ Cộng đồng người Việt ở Hàn Quốc: Không cô đơn trên đất khách,vov, 21/08/2013
  12. ^ Mạnh tay để giữ thị trường xuất khẩu lao động , baodautu, 14/09/2015
  13. ^ http://thongtinhanquoc.com/cong-dong-nguoi-viet-nam-lon-thu-3-o-han-quoc/
  14. ^ http://vov.vn/nguoi-viet/kieu-bao/cong-dong-nguoi-viet-o-han-quoc-khong-co-don-tren-dat-khach-276759.vov

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]